Jun 14, 2014

NỖI LÒNG CHA TÔI- Bích Quy


                     

                                 Bích Quy

      Năm ấy tôi mới có bảy tuổi theo cha me qua Pháp  sinh sống. Hồi đó tôi còn  nhỏ nên cũng không rõ lắm tại sao phải rời bỏ nhà cửa đi xa như thế. Tôi chỉ nhớ ông bà nội tôi đã ôm tôi thật chặt , hôn lên khắp người tôi, nước mắt của bà ướt đẫm tóc  tôi.
      Lúc mới sang,  phải ở nhờ nhà bác tôi. Bác là anh ruột của mẹ tôi, bác có vợ là người Pháp, đó là một phụ nữ rất xinh đẹp, hiền ḍiu. Hai vợ chồng bác không có con nên chị em tôi được hai bác rất thương. Bác  sắm cho chúng tôi chẳng thiếu thứ gì.  Ba mẹ tôi cũng rất nỗ lực đi tìm việc.     Trước đây ba là kỹ sư, nhưng bằng cấp của ba ở đây người ta không công nhận .  May mắn là ba đã xin được làm công nhân trong một nhà máy. Ở đó những người xếp của ba còn nhỏ tuổi hơn ba.  Còn mẹ tôi thì xin việc rất khó khăn, phần hơi lớn tuổi, phần xin làm một buổi nên cũng khó có việc. Mẹ tôi muốn mình có thời gian chăm sóc chúng tôi và cơm nước cho cả nhà. Sau cùng mẹ đành nhận trông hai em bé cho hàng xóm. 
       Ngày nào ba tôi cũng đưa tôi đi học nhưng  trở về nhà  rất muộn, có khi tôi đã ngủ rồi.  Buổi chiều mẹ đón hai chị em về nhà , tắm rửa, cho chúng tôi ăn cơm. Còn mẹ thì chờ ba về. 
       Hóa ra , tan sở là ba đi học liền. Ba muốn có bằng cấp bằng tiếng Pháp   để có thu nhập tốt hơn và nhất là để  trở lại vị trí mà ba đã từng làm trước đây. Tôi thấy ba toàn đi bằng xe đạp. Ba còn mang theo cả dụng cụ chữa xe và bơm xe nữa.  Lỡ ra có hư thì có mà dùng. Ba tôi luôn lo xa như thế. Trời mùa đông lạnh lẽo, lắm hôm lại có bão nhưng ba chẳng bỏ buổi học nào.  Thế rồi sau mấy năm chăm chỉ học hành ba cũng lấy được tấm bằng tốt nghiệp. Than ôi, khi xin việc người ta lại chê bằng của ba không phải bằng chính quy, chỉ là bằng bổ  túc học ban đêm nên sở cũ chỉ có thể tăng lương cho ba chút ít.  Ba chẳng nề hà, lại tiếp tục công việc của mình
.
         Ba cảm thấy mình không gặp may mắn và hay cho  là  mình  "sinh bất phùng thời"  nên ông dồn tất cả khả năng có được của mình dậy dỗ các con.  Ba  muốn chúng tôi thay ba thực hiện được ước muốn mà ba không đạt được.

         Sáng sớm ba lôi chúng tôi dậy , mặc dù trời lạnh , đứa nào cũng cuộn tròn trong chăn , chỉ muốn ngủ nướng thêm. Ba chạy trước và chị em tôi lúp xúp chạy theo. Rồi ba dạy vài thế võ đơn giản .  Tôi vốn là đứa trẻ gầy gò, tập theo ba cứ toát hết cả mồ hôi. Lâu dần chị em tôi cũng quen với thời khóa biểu của ba. Bài học nào ở trường chưa hiểu về nhà ba đều giảng lại cho chúng tôi kỹ lưỡng.  Chỉ mất một năm chúng tôi lạng quạng vì chưa quen nhưng đến những năm sau này chúng tôi luôn cố gắng được đứng trong năm đứa đầu lớp. Ba luôn khuyến khích chúng tôi phải cố gắng hơn nữa.  Rồi ba dắt chị em tôi đến tập võ , tập bơi ở các Câu lạc bộ.  Trong khi các bạn mặc những bộ đồ học võ mới tinh thì chúng tôi  phải mặc lại quần áo của cha mẹ mang theo từ quê nhà, vừa cũ vừa rộng dài. Mẹ tôi phải  sửa lại chút ít mới vừa. Ba tôi nói :" Quan trọng là con phải chiến thắng , quần áo cũ mới không thành vấn đề..."
        Chúng tôi cũng dần lớn khôn,  luôn cố gắng học để lấy được học bổng đỡ tốn kém cho ba mẹ được chừng nào hay chừng đó.  Nghỉ hè chúng tôi còn xin làm trong nhà hàng hoặc đi giao báo cho người ta. Lâu dần Ba mẹ tôi cũng mua được căn nhà nhỏ trả góp mỗi tháng.  Cuộc sống ngày càng dễ thở hơn.  Tuy vậy ba tôi vẫn luôn nhắc nhở chúng tôi lúc  nào  cũng  phải cố gắng hết sức mình . 
        Ba tôi rất nghiêm khắc nhưng ẩn sau đó là tình thương bao la ông dành cho chúng tôi. Tôi còn nhớ có lần đi học về bị sốt cao. Ba đã thức cả đêm trông nom tôi, tẩm khăn ướt đắp trên trán cho tôi với vẻ mặt vô cùng lo lắng...
     Chị tôi tốt nghiệp đại học rồi ̣đi làm , lương khá cao. Chị là niềm hãnh diện của ba tôi. Một hôm chị dẫn về nhà một anh bạn da trắng, tóc vàng, mắt xanh và giới thiệu với cả nhà là bạn trai của chị. Khỏi phải nói, ba mẹ tôi đã " sốc" biết chừng nào. Ba tôi quyết liệt phản đối và mong muốn chị  phải lấy người Việt, mẹ tôi không nói gì chỉ lặng lẽ khóc. Ba cấm chị không được dẫn anh ta về nhà và không được liên lạc với anh ta. Nói gì thì nói, làm gì thì làm. Chị vẫn cứ cương quyết lấy bằng được. Công bằng mà nói , anh ta là bạn học của chị, cũng đi làm nhưng không cùng sở với chị  và là người tử tế. Sau cùng thì ba mẹ tôi cũng phải đồng ý gả chị , tuy trong lòng không được vui  mấy.
      Tôi xin được việc làm nhưng lại xa nhà tới ba giờ máy bay, vì thế chỉ có nghỉ Noel tới Tết thì tôi mới về nhà. Tóc ba bạc nhiều quá , nhìn ba đăm chiêu nhiều hơn, tôi hiểu ông còn lo lắng nhiều cho tương lai của tôi  . Tôi biết ba tôi rất mong tôi có bạn gái người Việt vì tôi là con trai duy nhất của ông. Khổ nỗi tôi lại có bạn người Pháp.  Cô cũng dịu dàng, tử tế và bé nhỏ , Bên cạnh tôi, cô cũng cân xứng với vóc dáng của tôi. Cô lại là bạn học với tôi trước kia, chúng tôi rất thương nhau nhưng tôi vẫn chưa muốn giới thiệu với cha mẹ tôi. Tôi biết ba tôi lại phản đối thôi.
 
       Một hôm, ba tôi giơ ra hai tấm vé máy bay. Ông bảo "Con sửa sọan đi, mười ngày nữa chúng ta sẽ về quê"  Tôi ngạc nhiên hết sức
      "Sao ba không đi cùng mẹ?"  Tôi hỏi.
      "Kỳ sau mẹ sẽ đi với ba. Kỳ này ba muốn con cùng đi   trước.  Từ khi sang đây, chúng ta chưa về lần nào.  Đây là tiền ba được thưởng và lại vào dịp lễ nữa, con chỉ xin nghỉ thêm chừng một tuần thôi. "
       Tôi cũng háo hức , muốn biết xóm tôi ở bây giờ ra sao? Những bạn cùng xóm có còn ở đó không?  Tôi còn nhớ con Tâm cắt tóc bum bê và thằng Tùng mập là hai đứa mà tôi hay sang nhà tụi nó chơi. Thằng Tùng học lớp một với tôi và con Tâm em nó học lớp Lá mẫu giáo.  Tôi biết chẳng thể nào nhận ra chúng nó nữa.  Hơn hai mươi  năm rồi còn gì.  
      Ở Saigon, ba tôi còn một người chị và cô em gái , họ rất quý ba tôi và rất mong muốn gặp lại. Chúng tôi không phải lo chỗ ăn ở chi cả. Chúng tôi vừa về được ba hôm là ngày giỗ ông nội tôi. Bác tôi xếp cho tôi ngồi cạnh một cô gái mà bác giới thiệu là con của bạn bác, vừa tốt nghiêp đại học và cũng mới đi làm. Thỉnh thoảng  tôi cũng được những người quen của ba giới thiệu con gái của họ. Có cô cũng duyên dáng, lanh lợi... .  Chúng tôi cũng nói chuyện với nhau nhưng sao tôi không thấy tình cảm như với Julie của tôi  .
 
         Tôi hiểu ra là ba muốn tôi lấy vợ Việt và trách nhiệm của con trai trưởng quan trọng thế nào.  Tôi thương ba quá nhưng tôi cũng không thể theo ý ông được.  Ba đã đưa tôi ra nước ngoài , tôi đã lớn lên và hấp thụ nền văn hóa, văn minh ở xứ người từ nhỏ, nay ba lại muốn tôi phải giống như ...ba, sao tôi có 
thể làm được?  Tôi như một cái cây non nớt được bứng cả gốc rễ đem trồng vào một cái chậu khác trong một xứ sở khác thì tôi biết mình cũng khó có thể suy nghĩ  đồng cảm với người đã sống và lớn lên ở đây.
       Ba cùng tôi hay đi bộ qua những chỗ quen biết của ba khi xưa. Tôi thấy rõ ba rất xúc động khi đưa tôi về thăm trường cũ của ba. Ba nói :
   - Đây là đường Hồng thập Tự , con đường ngày xưa ba  thường đi qua   để đến trường Jean Jacques Rousseau , đó là tên hồi ba còn học. Sau này đổi tên thành Lê quý Đôn rồi
   - Ba ơi, con thấy tên đường ghi là  Nguyễn thị Minh Khai mà.
   - Ừ, đổi thay hết cả rồi. Ba tôi ngậm ngùi..
      Ngày nào, ăn sáng xong là hai cha con cùng nhau đi bộ thăm thú khắp nơi. Ba bảo chỉ có đi bộ thì mới vào được các ngõ ngách, mới thấy được hết sự thay đổi như thế nào. Chỉ có ba tôi thấy chứ tôi thì thấy cũng bình thường như nó phải thế vì tôi đâu còn nhớ gì mấy khung cảnh hồi xưa. Có những nơi nhà cao, cửa rộng, lộng lẫy sáng chói ánh đèn. Lại cũng có những nơi ẩm thấp, bẩn thìu, tối tăm với những em bé đen nhẻm, tóc cháy vàng , cởi trần, mặc quần đùi chạy nhảy trong xóm...
       Ba còn cho tôi đi tắm biển ở Vũng Tàu. Bãi biển thật là đẹp. Tôi thấy yêu quê hương mình biết bao...
       Mấy ngày nghỉ trôi qua nhanh chóng. Ba thấy tôi không tỏ vẻ quan tâm đến các cô gái mà tôi được giới thiệu , ông cũng không nói gì. Chỉ đến khi lên máy bay rồi ông mới dò ý tôi : 
     - Con thấy cô Vân thế nào?
     -  Con thấy cũng bình thường thôi ba.  Đôi khi cô ấy nói nhanh quá, con không hiểu cô ấy định nói gì ba ạ.
      - Ba đưa con về để con xem có cô nào ưng ý thì ba sẽ đưa mẹ về hỏi cho con.
       Tôi bèn rụt rè thưa với ba:
       - Con cảm ơn ba nhưng ba cứ để con tự tìm lấy cho mình. Con thấy mình không hợp lắm với các cô ở đây.
        Ba tôi chẳng nói gì nhưng tôi cảm thấy nỗi buồn đọng lại nơi mắt ba.  Ba đã có hai đứa cháu ngoại tóc vàng, mắt đen đẹp như thiên thần , tôi biết ba mong mỏi có đứa cháu nội thuần Việt biết bao.  Tôi hiểu nỗi lòng của ba và rất biết ơn ba nhưng tim tôi lại không chịu hiểu điều đó. Biết làm sao được. Tôi vẫn thấy thương Julie của tôi. Chúng tôi rất hiểu nhau. Kỳ này về thế nào tôi cũng nói chuyện với mẹ. Tôi biết mẹ rất thương tôi và ủng hộ tôi trong mọi chuyện.
       Tôi muốn nói với ba rằng :"Con rất kính yêu ba, từ nhỏ đến giờ con luôn nghe lời ba nhưng trong chuyện này ba hãy nghe con ba nhé..."
       
    

Trang thơ nhạc cuối tuần - Nhạc sĩ và tác phẩm.


Thân mời các bạn thưởng thức Trang thơ nhạc cuối tuần với những nhạc phẩm được sáng tác bởi những nhạc sĩ thời tiền chiến . Có những nhạc sĩ không sáng tác nhiều , nhưng chỉ cần một tác phẩm hay cũng đủ để lại tên tuổi của họ trong làng âm nhạc. Những người nhạc sĩ tài hoa này đã xa rời thế giới âm nhạc vĩnh viễn , nhưng những tác phẩm của họ đã là những nốt nhạc đẹp , những tác phẩm giá trị của nền âm nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ Tô Vũ  1923- 2014

Nhạc sĩ Tô Vũ và nhạc sĩ Phạm Duy


Nhạc sĩ Tô Vũ sinh năm 1923 tại Bắc Giang nhưng từ khi còn nhỏ ông đã chuyển đến sống tại Hải Phòng cùng bốn người anh em ruột. Ông tên thật là Hoàng Phú, là một nhạc sĩ, giáo sư, nhà nghiên cứu âm nhạc đương đại của Việt Nam. Cùng người anh là nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả ca khúc Cô láng giềng nổi tiếng), Hoàng Phú góp mặt từ những ngày đầu tiên của tân nhạc Việt Nam.
Trong số các anh em, Hoàng Quý và Hoàng Phú đặc biệt say mê âm nhạc. Hai anh em học được những kiến thức âm nhạc đầu tiên (violin) qua một phụ nữ người Pháp tên là Leprêtre - chủ cửa hiệu Orphée, chuyên bán nhạc cụ và sách nhạc Tây ở Hải Phòng thời đó. Tuy nhiên, người tích cực khuyến khích hai anh em họ Hoàng đi theo “âm nhạc cải cách” (tân nhạc) là thầy dạy môn văn chương Pháp tên là Ngô Đình Hộ (tức nhạc sĩ Lê Thương), để cùng thầy biểu diễn trong các tiết mục văn nghệ của trường.
Năm 1939, Hoàng Quý và Hoàng Phú quy tụ một số bạn bè trong đó có Phạm Ngữ, Canh Thân và Văn Cao để lập ra nhóm nhạc Đồng Vọng. Nhóm Đồng Vọng sinh ra từ phong trào hướng đạo sinh do Hoàng Quý làm trưởng nhóm với ý nghĩa như là tiếng gọi tập hợp thanh niên lại với nhau. Từ phương châm này, nhóm Đồng Vọng đã góp phần cổ súy cho nền tân nhạc Việt Nam. Một số tình khúc của nhóm như Cô láng giềng của Hoàng Quý và Bến xuân của Văn Cao cho đến nay vẫn được coi như những tuyệt phẩm của nền tân nhạc Việt Nam.Rạng sáng 13/5, Tô Vũ, một trong những nhạc sĩ tài hoa của nền tân nhạc Việt Nam qua đời tại nhà riêng ở Saigon vì bệnh già, sức yếu.

Các nhạc phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Tô Vũ sáng tác thời tiền chiến gồm có: Em đến thăm anh một chiều mưa (1947), Tạ từ, Tiếng chuông chiều thu.

Nguồn : internet






Nhạc sĩ Thanh Bình  1932- 2014


Nhạc sĩ Thanh Bình và Ca sĩ Khánh Ly

Nhạc sĩ Thanh Bình tên thật là Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1932, quê ở Bắc Ninh. Ông mồ côi mẹ từ năm 10 tuổi, cha cũng mất sau đó vài năm. Nhà có 4 anh chị em nhưng 2 người đã mất, ông còn một cô em kế sống ở Pháp nhưng không có liên lạc. Ông từng là nhà văn, nhà báo viết cho nhiều tờ báo thời bấy giờ. Ngoài ca khúc Tình lỡ, ông còn là tác giả của các ca khúc: Còn nhớ hay quên, Đừng đến rồi đi, Tiếc một người

Biết bao người đã chìm đắm trong cảm xúc mỗi khi những câu hát khắc khoải như rút tâm can trong bài Tình lỡ mà chẳng hay biết tác giả của nó là ai. Mãi cho đến khi ca sĩ Ánh Tuyết có bài viết về cuộc đời ông, trước lần tổ chức đêm nhạc quyên góp giúp đỡ ông vào đầu tháng 1 năm nay, nhiều người mới biết đến nhạc sĩ Thanh Bình. Cuộc đời ông không hề “thanh bình” như tên gọi. Cả một đời, ông phải chôn chặt và cất giấu quá nhiều nỗi buồn tủi khi không có được một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc riêng trọn vẹn.

Đúng như tên gọi ca khúc Tình lỡ nổi tiếng của ông, cuộc tình nào của ông cũng đầy nỗi buồn thăm thẳm. Đời ông không biết bao lần rơi vào cảnh chông chênh, không ít lần tưởng chừng đã chạm tay vào hạnh phúc nhưng rồi lại tan như bọt nước. Ca khúc Tình lỡ chính là câu chuyện tình mà ông viết cho mình, khi duyên tình với người con gái Hải Phòng quá ngắn ngủi. Cô gái bị gia đình ép lấy chồng, ông phải thốt lên bằng những lời ca da diết: “Thôi rồi, còn chi đâu em ơi! Có còn lại chăng dư âm thôi. Trong cơn thương đau men đắng môi…”.

Theo lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, khi Thanh Bình đã là nhạc sĩ, ông chỉ là nhạc công đi đàn dạo. Một lần, ông được bạn bè giới thiệu gặp đàn anh trong nghề để học hỏi. Ấn tượng của ông về Thanh Bình là “một chàng trai đẹp, hào hoa, phong nhã”. Ông chỉ dám đứng xa xa nhìn chứ không dám lại gần. Mãi một thời gian sau, 2 người quen biết nhau, coi nhau như anh em. Thanh Bình đã dạy ông rất nhiều về nghề. Nguyễn Ánh 9 không biết nhiều về đời tư của nhạc sĩ Thanh Bình vì lúc đó, Thanh Bình sống rất khép kín, ít khi chia sẻ chuyện riêng: “Có lẽ anh ấy gặp quá nhiều chuyện buồn trong cuộc sống nên giữ cho riêng mình”. Thanh Bình sáng tác ít, nổi tiếng nhất là ca khúc Tình lỡ do được sử dụng trong phim Nàng. Nguyễn Ánh 9 kể: “Có lần tôi hỏi anh ấy tại sao lại viết nhạc ít vậy, anh ấy nói rằng viết nhạc đâu phải để kiếm tiền. Có cảm xúc thì mới viết được”.

Trong những năm tháng cuối đời, sống với các cháu trong gian nhà đơn sơ, ông ít khi nhắc lại quá khứ với ai, chỉ tâm sự với ca sĩ Ánh Tuyết mỗi lần chị đến thăm. Người nhạc sĩ tóc đã phai màu vẫn ôm nỗi cô đơn với một biển sầu hiu hắt.
Sau nhiều năm bệnh tật, nhạc sĩ Thanh Bình đã ra đi vào ngày 23 tháng 5 năm 2014 hưởng thọ 82 tuổi.

Nguồn: Internet



Nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng    1919 - 1967


Phạm Duy Nhượng


Nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng là anh trai kế của nhạc sĩ Phạm Duy.
Theo trang web phamduy.com nhạc sĩ Phạm Duy đã viết :

 "Là một nhà mô phạm, xuất thân từ một gia đình -- gọi là gia giáo -- lại thêm mặc cảm miệng méo từ nhỏ tới lớn, anh Nhượng rất khép kín của tôi được coi như là một người ngoan hiền và dễ thương... hơn thằng em út là cái chắc !
Từ lúc sinh ra cho tới khi trưởng thành, tôi và người anh thứ hơn tôi hai tuổi -- Phạm Duy Nhượng -- có khoảng 16 năm sống gần nhau. Kém tuổi người anh cả trong gia đình tới hơn 10 năm cho nên chúng tôi là những đứa em rất xa lạ đối với người anh lớn Phạm Duy Khiêm. Ðó là chưa kể anh Khiêm đi du học bên Pháp trong bẩy năm trời, khi trở về với gia đình vào năm 1935 thì đã trở thành một ông Giáo Sư Thạc Sĩ, đối xử với mọi người và nhất là với các em như một ''ông Tây''.
Anh Nhượng chăm học và ít ham chơi hơn tôi nhiều. Anh luôn luôn đứng đầu trong các lớp ở Trường Nguyễn Du. Có lẽ vì anh bị bệnh thương hàn lúc còn bé rồi mang tật méo mồm nên anh có một đời sống hơi khép kín. Tài hoa của anh chỉ có dịp phát tiết ra ngoài khi, về sau, tôi kéo anh vào chơi trong một lĩnh vực nghệ thuật mà tôi đang cổ võ : phổ biến một nền âm nhạc mới toanh, so với nền nhạc cổ đang suy tàn.

Thế rồi, cuộc đời làm cho anh em tôi phải xa nhau, tôi thì bỏ nhà đi Bắc Giang, Moncay rồi đi theo một gánh hát lưu diễn từ Bắc vào Nam, anh Nhượng thì lấy vợ là Hoàng Thị Sâm, học trò của mình và là cô con gái nhà lành đẹp nhất Hưng Yên. Trong khi tôi đi xa và không hề có thư từ liên lạc gì với gia đình thì ở nhà, chị Sâm đẻ cho anh Nhượng hai đứa hai con trai, rồi chị dâu tôi bất ngờ qua đời vì bệnh thương hàn do sự cẩu thả của ông bác sĩ tỉnh nhỏ. Mẹ tôi, chị tôi vẫn ở với anh Nhượng cho tới ngày Sở Học Vụ thuyên chuyển anh tôi đi Thái Nguyên thì Mẹ tôi và chị tôi cùng đi Thái Nguyên sống với anh Nhượng..."

Năm 1953 , với sự giúp đỡ của nhạc sĩ Phạm Duy, gia đình nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng di cư vào Nam và dạy học ở một trường tư thục ở Thủ Dầu Một.
Ông mất năm 1967 vì bệnh ung thư phổi.

Tác phẩm của ông không nhiều trong đó nổi tiếng nhất là nhạc phẩm Tà áo Văn Quân đã được sáng tác vào thời cực thịnh của dòng nhạc tiền chiến.



Tà Áo Văn Quân - Tiếng hát Thanh Lan



Jun 12, 2014

CHUYỆN BUỒN TRÊN NHỮNG CHUYẾN BAY



Chung Dao

Trên những chuyến bay dài và tẻ nhạt đã mang tôi đi và về giữa Mỹ và Việt Nam, đặc biệt là những chuyến bay từ Việt Nam sang Mỹ, tôi đã được nghe những cãu chuyện về nhiều mành đời bất hạnh.  Trên những chuyến bay đó tôi đã thường gặp những khuôn mặt ngơ ngác, với sticker “transit” dán trên ngực áo.  Họ là những người mới xuất cảnh lần đầu, tuy khuôn mặt có phãn lo lắng sợ hãi nhưng kèm theo đó là niềm phấn khởi sắp được đoàn tụ với thân nhân mình trên đất Mỹ.  Cho dù nỗi hân hoan đócũng sẽ chẳng kéo dài bao lâu khi phải đối mặt với thực tế cuộc sống không mấy thơ mộng và thanh thảnở Mỹ, khác hẳn với những gì họ đã nhìn thấy qua những hình ảnh đầy hấp dẫn được gởi về.  Tuy nhiên đó cũng là những người hạnh phúc hơn hàng ngàn người khác đang mỗi ngày bỏ tiền và công sức cho cuộc phỏng vấn khá gay go để lấy được tấm thông hành vào Mỹ.

Trên chuyến bay từ Việt Nam sang Mỹ vào tháng 2/2014, tôi tình cờ ngồi gần một em gái trong độ tuổi 30.  Thường thì khi thấy những người Việt Nam đeo sticker trên ngực áo tôi thường tìm cách làm quen nói chuyện, giúp họ trong việc trao đổi với tiếp viên khi cần, đồng thời làm giảm đi căng thẳng trong họ.
“em đi Mỹ đoàn tụ với gia đình hả?”
“dạ con qua theo diện đoàn tụ do mẹ bảo lãnh nhưng buồn lắm cô ạ”
“sao thế em?”
“dạ em gái con vừa bị chồng nó bắn chết vài tuần trước, vừa vặn con sang đoàn tụ với mẹ và lo cho mấy đứa cháu nhỏ, con của em con.”
“ủa sao lại bị bắn chết?”
“dạ vì chồng nó hơn nó 20 tuổi và rất ghen tuông, chồng nó đuổi mẹ con ra khỏi nhà nên nó đòi ly dị.  Ông ta bắn em con 3 phát vào đầu lòi cả mắt ra.  Sau đó ông chở hai đứa con nhỏ về cho mẹ con và quay về nhà tự bắn vào thái dương mình để tự sát.  Báo chí ở Little Saigon có đăng rùm beng đó cô ạ”
“trời sao hãi hùng vậy, thôi tôi xin chia buồn với em.  Mong em can đảm để lo cho mẹ và hai đứa cháu vì chúng đã mất cả cha lẫn mẹ.”
Tôi tưởng những câu chuyện buồn tương tự như vậy chỉ diễn ra với những cô gái Việt Nam vì nghèo và muốn cứu lấy gia đình mình khỏi cảnh đói khổ, đã đành nhắm mắt đưa chân lấy những ông chồng già, tật nguyền Đài Loan hay Đại Hàn. Sao đó lại kết thúc mạng sống của mình nơi đất khách quê người do thói vũ phu của ông chồng hay do tự mình kết liễu cuộc đời chẳng đáng sống của mình.  Chẳng ngờ câu chuyện thương tâm này cũng xảy ra trên đất nước văn minh bậc nhất thế giới như nước Mỹ, buồn thaycô lại trong danh sách những số phận nghiệt ngã đó.  

Vẫn còn chưa quên câu chuyện buồn đó, sau hai tháng ở Việt Nam, trở lại Mỹ tôi lại tình cờ nghe được một câu chuyện thương tâm khác.  Hầu như các chuyến bay đi Mỹ tôi đều xin được chỗ ngồi hoặc ngay cửa thoát hiểm hay ngay chỗ dành cho các bà mẹ có con nhỏ, như thế trong suốt chuyến bay tôi có thể duỗi chân thẳng ra cho đỡ mỏi, dù rằng đôi lúc cũng phiền vì bị quấy rầy bởi tiếng khóc của trẻ em.  Kỳnày tôi cũng ngồi gần một em gái khoảng 30 và đứa con gái nhỏ.  Thấy em đeo sticker “transit” trên ngực áo, cùng tay xách nách mang với đứa con nhỏ, tôi hỏi:
“em đi Mỹ đoàn tụ cùng chồng phải không?”​
“dạ không cô, con sang làm đám tang cho chồng vì anh vừa mất mấy ngày trước. Con sang làm lễ phát tang thôi vì anh đã được hỏa thiêu” cô trả lời với giọng nói run run và đôi mắt ngấn lệ
“tôi xin lỗi, tội nghiệp quá.  Chồng em bao nhiêu tuổi và vì sao mà mất đột ngột như vậy”
“dạ thứ sáu chồng con còn nói chuyện với con, sau đó anh đi ngủ.  Thường thì cuối tuần, do không phải đi làm chồng con gọi điện thoại về nói chuyện cả ngày.  Tuy nhiên suốt thứ bảy con chẳng nhận được gì, gọi vào máy chồng thì không ai bắt máy cho đến tối chủ nhật, linh cảm có chuyện chẳng lành, con đành gọi cho cậu em chồng nhờ ghé nhà coi thì thấy anh nằm xõng xoài trên nền nhà, mặt đã bắt đầu trương phình có lẽ vì mất đã mấy ngày mà không ai biết.  Do đó chính phủ bắt phải thiêu và không cho quàn lại”
“anh ấy bao nhiêu tuổi”
“dạ mới có 40, còn con 32, tụi con yêu nhau thật sự đã chin năm mới cưới chứ không phải do mai mốivậy mà trời bắt tụi con chia lìa nhau.  Anh ấy là hàng xóm cũ của con, khi sống anh vẫn thường nói với con sao anh có linh cảm anh sẽ luôn cô đơn một mình cho đến chết.  Bố mẹ bỏ anh từ nhỏ, bố đi lấy vợ, mẹ đi lấy chồng khác, anh em chia lìa sang nhà nội ngoại ở và đúng là khi chết anh vẫn một minh không có ai bên cạnh.  Kỳ về Việt Nam sau cùng, anh để lại một valise nói là để mẹ con con cuối năm sang đoàn tụ sẽ sử dụng ai dè bây giờ thay vì đi đoàn tụ thì đi nhận tang chồng và cha”
“thôi thì số phận đã an bài, con của em đã có quốc tịch Mỹ, em nên xin ở lai đây vì bà mẹ đơn thân (single mom) ở đây rất được chính phủ giúp đỡ.  Rồi thời gian sẽ là liều thuốc nhiệm màu giúp em nguôi đi nỗi buồn để sống vì con của em”
Cuối cùng thì máy bay cũng đáp xuống sân bay LA, tôi vội vàng ghi lại số điện thoại của mình ở Mỹ, trao cho em dặn khi nào có tin tức gì tốt lành thì báo cho tôi biết.  Chỉ tiếc là dù rất muốn giúp em với hành lý ngổn ngang và đứa con nhỏ nhưng đứa bé thì không theo người lạ, còn hành lý mình chẳng dám xách vì không biết có gì trong đó.

Một tuần sau, vào buổi trưa khi vẫn còn đang gà gật vì bị jet lag, tôi nhận được điện thoại của em báo tin đã nhờ người đưa đến sở An Sinh Xã Hội (Social Security) để trình bày hoàn cảnh của mình và xin ở lại chính thức, các nhân viên đã hứa sẽ làm hết sức mình và sẽ trả lời em trong vòng 3 tuần.  Dù tin vuichính thức chưa thực sự tới với em, nhưng tôi nghe như lòng mình bớt trĩu nặng khi nghe tin tốt từ em.  Chỉ cầu xin cho em được định cư ở Mỹ và có một cuộc sống ổn định ở đây, tôi tin là em sẽ được như vậy vì ông trời chẳng lấy của ai tất cả bao giờ……

Cali June 9th, 2014


Jun 11, 2014

PHÓNG SỰ ĐI THĂM CÔ MỸ YẾN





Tháng 6 Úc Châu đã vào mùa Đông, trên TiVi dự báo sẽ mưa gió suốt mấy ngày liền.  Đã hẹn nhau  sẽ đến thăm Cô Mỹ Yến , nên Mỹ Điệp liên lạc với cô trước. Cô vui lắm nhưng thương các em học trò già bé bỏng cô bảo " Trời mưa gió mà các em đến làm chi  cực lắm" . Nhưng đã hẹn rồi nên hôm nay dù có mưa gió bão bùng ba em Vit Tây Úc cũng  hăng hái lên đường.

Sáng sớm còn nằm nướng trong chăn ấm, hé mắt nhìn thấy tia nắng nhẹ xuyên qua khung cửa sổ, em Hà vội vàng tung mền vén màn nhìn ra ngoài. Ôi sao trời xanh mây trắng đẹp thế tuy gió lạnh lắm nhưng không mưa bão là nhất rồi. 
 Hẹn gặp nhau tại car park mà chờ mãi chẳng thấy Mai  tới, Mỹ Điệp đậu xe đại ngay chỗ no parking để chờ ! Chờ hơn nửa tiếng mới thấy nàng  tới, 3 em vội vàng ghé chợ mua ít trái cây làm quà đến thăm Cô.

Bấm chuông 2 lần, cô ra mở cửa, thầy trò ôm nhau vui mừng hôi ngộ. Mừng vì thấy Cô tương đối vẫn còn khỏe đi đứng bình thường sau lần bị stroke cách đây 10 năm. Ngồi nghe Cô kể chuyện về thời gian cô bị bệnh , mới cảm phục ý chí quyết tâm của cô khi cô cố gắng tập đi lại, tập nói và chịu đựng bao nhiêu đau đớn sau khi bị stroke,  rồi Cô còn phải trải qua một cuộc giải phẫu lớn sau đó mà cô nói là cô không nghĩ là cô chịu đựng nổi . Cô nói là nếu không được chữa trị ở Úc và nhờ vào ý chí lạc quan mạnh mẽ của cô thì chắc cô không được khỏe mạnh như bây giờ. Nhìn Cô nước da trắng hồng mịn màng mặc dù Cô đã 80,  vui cười  kể đủ chuyện với học trò gần 2 tiếng mà không mệt, quên cả lo bữa trưa cho Thầy mà 3 em học trò già vừa mừng vừa cảm phục cô quá !





Cô đem album hình ra cho xem những hình ảnh ngày xưa khi cô còn là cô giáo Trưng Vương trẻ trung chụp chung với các cô bé học trò TV bé bỏng . Nhìn những hình ảnh xưa đã ngả màu thời gian , cô trò cùng cảm thấy bùi ngùi luyến tiếc nên bao nhiêu là kỷ niệm đẹp thủa nào dưới mái trường TV lại được nhắc đến qua những câu chuyện tâm tình.


                                        Cô Mỹ Yến và các cô học sinh TV bé bỏng của thập niên 1970


Chia tay tạm biệt Cô, nhìn Cô đứng trước nhà vẫy tay cho tới khi Mỹ Điệp lái xe đi khuất,  mới thấy tình thầy trò Trưng Vương sao đầm ấm yêu thương . 
Ngồi trên xe, ba em vịt mới thấy đói cồn cào, bèn ghé vào nhà hàng làm mỗi em một tô súp cho ấm bụng và hẹn ngày sẽ đến thăm thầy Phi Long.

Có vài hình ảnh chụp với Cô , gửi các bạn cùng xem.

P.Hà.








                                                      Cây Olive sau vườn nhà Cô Mỹ Yến.




Nhà hàng Basil Leaves ở Perth.


                                                                       Wonton Soup

Tom Yum Soup


Hủ tíu xào thập cẩm

Nỗi Niềm Tháng Sáu- Bích Quy



                (Thương mến tặng Hảo Chi)

        
            Cho dẫu cả năm buồn
            Cũng chừa lại tháng sáu
            Mẹ cho ta góp mặt
            Rồi nuôi ta khôn lớn

            Đi giữa cuộc đời này
            Ta đem cả trái tim
            Dâng cho người mình yêu
            Tưởng đâu gặp tri kỷ

            Rồi người yêu cũng xa
            Mang theo cả nỗi nhớ
            Với bầu trời rộng mở
            Cho lòng ta cô đơn

            Chi ơi đừng vọng tưởng
            Hãy dang rộng vòng tay
            Cùng chồng con yêu dấu
            Cùng bạn bè thân thương

            Đường chẳng bao giờ hẹp
            Nỗi buồn đầy lại vơi
            Tháng sáu vẫn tuyệt vời
            Chi ơi đừng tuyệt vọng ....
            
      

Jun 10, 2014

Nỗi Buồn Tháng 6 - Thơ của Hà







Mỗi khi tuyệt vọng 
Lòng tôi đắng 
Tim tôi thắt lại 
Dạ tôi buồn 
Tôi mang nhiều kỳ vọng 
Nên khi rơi vào khoảng không 
Cuả thất vọng u hoài - Tôi hỏng ! 
- Cõi người ta đã cuốn những vòng quay của định mệnh 
Cuốn mất người tôi yêu 
Chẳng còn ai để hàn huyên tâm sự ! 
Chẳng còn ai an ủi giãi bày !
Người đi đường hẹp 
Còn ta ngậm ngùi với đường rộng cô đơn ! 
Tháng sáu buồn !
                                        Thơ Cuả Hà .

Jun 7, 2014

TẮM MƯA - TUL



Mưa rơi ngoài kia 
hãy ngừng làm thơ
 người anh  thi sĩ
cùng  mưa dại khờ.

                                          Đừng chờ mưa tạnh
                                          hãy chạy  theo ngay
                                          hứng đầy hai tay
                                          mưa  xưa trở lại

Nhìn lên con dốc
trắng xoá mưa rơi
nhìn xuống  chân đồi
mưa bay lấp xấp

                                          Hạt mưa thuở nhỏ
                                          vẫn thế  long lanh
                                          mưa trong thơ anh
                                          rất buồn và lạnh

Lăn dài trên tóc
ve vuốt trên da
mưa qua , mưa qua
vai trần ấm lạ,

                                         Mưa không vội vã
                                         không hạt sầu  lo
                                         bình an  thư thả
                                         thấy mình tự do



Jun 6, 2014

Trang thơ nhạc cuối tuần




Thuyền Viễn Xứ, một bài hát  vẫn để lại cho người nghe cảm xúc bâng khuâng nhớ về một nơi chốn nào xa xôi. 
 Nhưng ít người biết rằng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ bài hát này từ một bài thơ của một thi sĩ rất trẻ và rất đẹp của thập niên 1950.

Thân mời các bạn cùng đọc bài viết  " Tác giả bài thơ  Thuyền Viễn Xứ  là ai  " cuả Nguyễn Phước Thị Liên.

Tác giả bài thơ "Thuyền Viễn Xứ" là ai ?

(Để tưởng nhớ các thầy cô Trường Trung học Phan Bội Châu-Phan Thiết, niên khóa 1954-1957).
Nguyễn Phước thị Liên





Ở đây chúng tôi không đề cập đến kỹ thuật âm nhạc và kết cấu bài thơ Thuyền Viễn Xứ, chỉ nêu một chi tiết chưa minh bạch về tác giả bài thơ.

Tạp chí Sông Hương số 273 tháng 11-2011, trang 62-69 có bài “Phạm Duy: thơ phổ nhạc“ của Đặng Tiến. Tác giả có nói đến bài thơ Thuyền Viễn Xứ của Huyền Chi nhưng chỉ với vài lời, vừa thuật, vừa trích lẫn lộn:

... " khi Phạm Duy phổ nhạc bài Thuyền Viễn Xứ, 1953, thuyền ơi viễn xứ xa khơi…sóng Đà giang…thơ của Huyền Chi, một cô hàng vải trong chợ Bến Thành không mấy ai biết đến”.

Như vậy, tác giả chứng tỏ không biết Huyền Chi là ai, lại còn có ý chê thể thơ lục bát khi ông viết :
” Anh (tức Phạm Duy) đã biến nhịp lục bát đơn điệu, tẻ nhạt thành những tiết tấu sinh động, tha thiết, phong phú”.

Để bạn đọc biết thêm Huyền Chi là ai, ở đây chúng tôi xin phác họa đôi nét về tác giả:

"Vào khoảng trước và sau 1954-1957, hầu hết học sinh, sinh viên miền Nam đều thích nhạc của Phạm Duy, trong đó có bài Thuyền Viễn Xứ, loại thơ phổ nhạc. Bài này được các ca sĩ nổi tiếng như Thái Thanh, Lệ Thu…thể hiện rất truyền cảm. Bọn trẻ chúng tôi lúc đó đang học Trường Trung học Phan Bội Châu - Phan Thiết. Không ai bảo ai. Đứa nào cũng “mê “, cứ lải nhải hát Thuyền Viễn Xứ, như ngầm chứng tỏ với nhau ta đây là dân…sành điệu.
Dần dần, tác giả bài thơ là Huyền Chi trở thành thần tượng của tuổi trẻ trường Phan Bội Châu - Phan Thiết. Không đứa nào không biết Huyền Chi bằng xương, bằng thịt, chính là vợ của thầy giáo dạy tiếng Pháp cho mình. Và tất nhiên, chúng tôi phải gọi nhà thơ, vợ của thầy mình bằng cô. Hơn nữa, cô Huyền Chi là người phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu, dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi thầy cô sánh đôi giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến tâm hồn bao nữ sinh thời bấy giờ. Dưới mắt họ, đó là cặp đôi hoàn hảo.

Chúng tôi còn biết cha chồng của cô - cụ Đức Huy -, cũng là một người yêu văn thơ trong nhóm Liên Thành Thi xã, đã cùng các cụ Phú Khê, Phú Sơn, An Bình…xướng họa. Nhóm của các cụ cùng với nhóm Hương Bình Thi xã ở Huế thường trao đổi thi bài.

Cô Huyền Chi tên thật là Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934, quê ở Bắc Ninh. Năm 1948-1949, cô ở Đà Lạt với người chị ruột. Năm 1950, 16 tuổi, cô về Sài Gòn ở với mẹ. Mẹ cô có sạp vải bán ở chợ Bến Thành, mỗi sáng cô thường giúp mẹ dọn hàng. Dọn hàng xong mới về đi học, có lúc vừa đi học vừa đi làm

Năm 1950-1952, cô làm thư ký tòa soạn tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương, chuyên trách mục thơ, cũng là phó nhóm Thơ-Văn-Nhạc Chim Việt. Cũng năm này, cô in tập thơ đầu tiên của mình là tập Cởi Mở tại nhà in Sống Chung của bà Đào. Theo lời cô kể:
“Khi tập thơ mới hoàn thành, tôi đang giở xem bản in đầu tiên thì ông Phạm Duy đến. Có lẽ ông này quen biết với chủ nhân nhà in. Qua lời giới thiệu của bà Đào, ông biết tôi là tác giả tập thơ, ông đến bên tôi và nói:
“Tôi là nhạc sĩ Phạm Duy, có thể nào cô cho tôi một quyển, nếu tôi thấy có bài nào hay, tôi sẽ phổ nhạc“. Ông còn yêu cầu tôi viết lời ký tặng. Đó là lần duy nhất tôi gặp nhạc sĩ Phạm Duy“.

Sau này, dường như năm 1953, bản nhạc Thuyền Viễn Xứ được in ra, thâu băng và phát hành ra nước ngoài. Thời ấy, cô Huyền Chi có người anh là một kỹ sư hàng không ở Pháp, có lúc ông anh gởi thơ nói với cô:
“Anh không ngờ thơ em qua tận Paris”.

Năm 1954, Huyền Chi lấy chồng. Chồng cô là người Huế, dạy học ở Phan Thiết. Lúc này, cô có mở một hiệu sách mang tên Bút Hoa tại nhà và vẫn cộng tác thơ với tạp chí Tiền Phong ở Sài Gòn. Nhưng về sau, cô không còn tiếp tục nữa. Tập thơ Cởi Mở bị thất lạc vào năm 1975, khi cô dọn nhà về Sài Gòn, do cuộc mưu sinh.

Trở lại câu chuyện hiện nay. Năm 2005, chúng tôi được biết nhạc sĩ Phạm Duy về nước và qua anh bạn Linh Phương, - tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em cũng được Phạm Duy phổ nhạc - chúng tôi mới gợi ý với cô: nên chăng, cần cho Phạm Duy và bạn đọc hiện nay biết về tác giả Thuyền Viễn Xứ. Sau đó, chúng tôi và Phạm Duy trao đổi vắn gọn bằng thư. Nhạc sĩ Phạm Duy có trả lời, nhưng riêng Huyền Chi thì giữ ý không muốn gặp nhạc sĩ. Những năm gần đây, cô gởi cho chúng tôi một số bài thơ cô mới sáng tác.

Bây giờ tác giả Thuyền Viễn Xứ chẳng còn trẻ. Chồng nữ sĩ đã mất, nữ sĩ đang sống với các con ở Sài Gòn, hằng ngày dạy kèm tiếng Anh cho các cháu trong xóm. Nhạc sĩ Phạm Duy vừa ăn mừng lễ khánh thọ cửu tuần. May mắn là những người trong cuộc vẫn còn tại thế, nhưng hai người gặp nhau chỉ một lần qua tinh thần tập thơ Cởi Mở, chứng tích là bài Thuyền Viễn Xứ.

Nhắc lại chuyện này chỉ để giúp bạn đọc biết thêm đôi nét đan thanh của một tác phẩm, qua hơn nửa thế kỷ chưa nhuốm bụi thời gian.

Nhân đây chúng tôi cần xác minh: Huyền Chi và Hà Huyền Chi là hai nhà thơ riêng biệt. Người ta hay nhầm lẫn vì trong bút danh, có trùng hai chữ “Huyền Chi“. Ông Hà Huyền Chi là tác giả nhiều bài thơ trong quân đội Sài Gòn, thuộc chế độ cũ. Còn Huyền Chi, tác giả bài thơ Thuyền Viễn Xứ là phụ nữ.

Vừa qua, có người nghe ca sĩ Ánh Tuyết hát bài Thuyền Viễn Xứ, mà MC giới thiệu là thơ của Hà Huyền Chi (!).
Bài viết này đã được tác giả Thuyền Viễn Xứ thông qua và nhất trí. Xin cám ơn nữ sĩ Huyền Chi."

Nguyễn Phước Thị Liên- Nguồn: Nguyễn Phước Thị Liên , My.Opera.com

* * *
Phạm Duy viết:

"Trước khi gần một triệu người sẽ di cư vào miền Nam và ai cũng sẽ đều nhớ tới cảnh vật, sự việc và con người của thôn quê miền Bắc, tôi làm quen với một cô em bán vải ở Chợ Bến Thành tên là Huyền Chi. Cô ''Bắc Kỳ nho nhỏ'' này có một bài thơ nhớ quê hương cũ nhan đề THUYỀN VIỄN XỨ và đưa cho tôi phổ nhạc...

Bài thơ này nói lên tâm trạng một người phải rời bỏ bến Đà Giang ở miền Bắc để đi vào miền Nam và nói lên sự hoài hương, nhớ miền viễn xứ... Bài thơ trở thành bài hát và được phổ biến trong thời gian người Bắc ùn ùn di cư vô Nam nên ai cũng muốn hát nó, muốn nghe nó..."


Phạm Duy
Source: "phamduy.com"



Thuyền Viễn Xứ Nhạc: Phạm Duy
Thơ Huyền ChiTrình bày: Lệ Thu



Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bến tơi bời
Làn mây hồng pha ráng trời
Sóng Đà giang, thuyền qua xứ người

Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa
Một lần qua dạt bến lau thưa
Hò ơi, giọng hát thiên thu
Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về

Nhìn về đường cố ly, cố lý xa xôi
Đời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồi
Quay lại hướng làng, Đà giang lệ ướt nồng
Mẹ già ngồi im bóng
Nỗi tiếc thương mong con bạc lòng

Chiều nay gửi tới quê xưa
Biết bao là thương nhớ cho vừa
Trời cao chìm rơi xuống đời
Biết là bao sầu trên xứ người

Mịt mờ sương khói lên hương
Lũ thùy dương rũ bóng bên sông
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường.


Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nom sạp vải ở chợ Bến Thành.
Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương.
Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả Phạm Duy viết như sau:

"Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ...".

Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.


Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010.

Nguồn: Thuyền Viễn Xứ - Nhạc Phạm Duy- Tiếng hát Lệ Thu.