Mar 28, 2018

Nhớ về thầy Đỗ Danh Tẩm - Bích Quy

NHỚ  VỀ  THẦY  ĐỖ DANH TẨM

                                                 Bich Quy


THẦY ĐÕ DANH TẨM
Giáo Sư Vạn Vật trường Trưng Vương 


        Tôi bàng hoàng khi biết tin thầy đã mất.  Tôi vẫn còn nhớ cái dáng gầy gầy của thầy với cặp kính trắng.  Ngày ấy cũng cách nay nửa thế kỷ rồi .  Vậy mà tôi vẫn không quên được vài giai thoại về thầy.
      Nhà tôi ở trong một cư xá chỉ có một lối vào ra duy nhất. Hai bên đường trồng hai hàng cậy điệp trổ bông vàng rất đẹp.  Hai hàng cây ấy tán rất rộng chúng giao nhau trên cao, toả bóng mát xuống đường cho trẻ con vui đùa.  Gọi là cư xá vì có rất nhiều bloc nhà .  Càng đi vào bên trong, diện tích càng nở ra thêm tạo thành hình chữ  nhật  nên có một khoảnh sân cho   người ta  tụ tập, vui chơi.  Vậy mà sau này đất chật người đông , người ta lại dựng lên một toà nhà  nhiều  tầng  gọi là chung cư, Toà nhà ở chính giữa cái sân nên trẻ con cũng mất chỗ chơi.
    Căn nhà tôi ở trên lầu một , ngay trên  lối đi vào  duy nhất ấy .  Một hôm đang ngồi học bài bên cửa sổ, nhìn xuống sân tôi thấy một chiếc Madaz màu đỏ đâu ngay bên gốc cây điệp trước cửa sổ nhà tôi.  Lúc đầu tôi cũng không chú ý lắm nhưng rồi thấy người đàn ông từ xe ấy đi ra có dáng giống như thầy T nên những lần  sau tôi để ý thì thấy khi nào chíếc xe đỏ đậu bên cây điệp là tôi hay chồm ra  ...theo dõi.  Xe đậu rồi thì thầy lấy sợi xích dài luồn qua tay lái rồi móc vào đâu đó trong xe, khóa  lại. Sau đó thì thầy chui ra khỏi xe , đứng đó xốc lại cái quần và từ từ đi vào phía trong.  Lúc đầu tôi cũng không rõ là thầy quen ai trong đó. Mãi sau này có lần tôi  bắt gặp thầy nắm tay cô đi ra xe thì tôi mới biết. Thì ra thầy tôi quen với  một cô trong xóm tôi. Cô trắng trẻo hơi đậm người hơn thầy nhưng trông rất hiền và dễ thương. Khỏi phải nói phát hiện của tôi được "thầm thì" ngay với những đứa ngồi bên cạnh trong lớp. Ngày nào đi học tụ nó cũng hỏi thăm xem "Đến đâu rồi? " .  Tôi tha hồ tán hươu tán vượn như một chuyện dài nhiều tập hấp dẫn mà có lúc không kìm được , có đứa đã vọt miệng hỏi :"Bao giờ thầy lấy vợ thầy ?" Làm thầy cũng phải giật mình. Có lần đang mải mê theo dõi, bất chợt thầy ngẩng đầu lên và tôi cũng thụp ngay xuống, đầu va vào cạnh bàn đau điếng.  Cơ mà  "đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma" ,  rình mò mãi cho đến hôm tôi đang đứng ngay tại gốc cây này thì xe thầy đỗ xịch đến. Không tránh được, tôi đành lí nhí chào thầy. Thầy hỏi :"Nhà em ở đây à? "
"Vâng"  và thế là thầy hiểu ngay những gì tụi nó xầm xì là do ...tôi phun ra. Sau lần ấy thì tôi không phải thầm thì nữa mà còn hãnh diện kể cho chúng nghe những điều mình thấy hoặc biết về cô,  Thật ra thì tôi có biết về cô nhiều đâu, chỉ thỉnh thoảng thấy cô đi ngang nhà mình mỗi sáng để  đi làm, cô mặc áo dài thật đẹp. Nghe nói cô làm ở ngân hàng thì phải. 
   Ngày cưới cô , tôi thấy  cô thật đẹp  đi bên thầy  cũng diện thật chỉnh tề ,  khách khứa đi thảnh đoàn dài  ...Xe cô dâu cũng lại đâu bên cây điệp phía dưới nhà tôi .  Vẫn là cái xe đỏ được trang trí thật đẹp nhưng lần này tài xế không phải là thầy.
Thế rồi sau đó  thầy thường đưa cô về thăm nhà. Xe vẫn đậu bên cây điệp chỗ nhà tôi và họ sánh đôi bên nhau đi bộ về nhà.
   Tôi nhớ mình được học Vạn vật với thầy. Thầy vẽ trên bảng những hình minh họa cho bài học thật đẹp. Hầu như hình vẽ cứ như trôi từ tay thầy ra mà chẳng phải xóa đi vẽ lại bao giờ. Tôi cũng nhớ cả cô Dung dậy Lý hoá vẽ hình cũng rất đẹp mà cô cũng đẹp nữa . Có đứa đặt biệt hiệu cho cô là  "Cô Dung Kennedy" để phân biệt với cô khác cùng tên .  Thầy còn viết sách giáo khoa. Tôi nhớ năm thi tú tài đã học thuộc cuốn sách của thầy đến quăn queo, nhàu nhĩ. 
Các thầy cô hồi đó người nào cũng chỉn chu, mẫu mực   Thế hệ chúng tôi may mắn được học những thầy cô "ngay ngắn" như vậy nên đến tận bây giờ vẫn nhớ ơn thầy. 
    Thế rồi thầy có em bé. Tôi nhớ thầy thông báo với nét mặt thật rạng rỡ của người vừa được làm cha.  Một điều thật tuyệt vời.  Tôi cũng không ngạc nhiên lắm vì đã thấy mấy tháng trước đó thầy dìu cô về thăm nhà với cái bụng bầu khá to.   Sau này em tôi lại tiếp tục được học thầy. Có hôm nó về kể chuyện. Thầy T bảo con thầy ba tuổi rồi mà chưa biết đi. Nó cứ co chân lên không chịu đứng xuống. Hoá ra là thầy sợ cho bé đứng xuống đất dơ chân , lỡ có con giun, con sán  nào nó bò  vào thì khổ. thế cho nên nội , ngoại thi nhau bế suốt nên mới ra nông nỗi. Rồi thì bé cũng tự đi được thôi
   Biến cố lớn với đất nước khiến bẵng đi thời gian dài tôi chẳng biết tin tức gì về thầy. Mãi sau này có bạn  ở nước ngoài kể về thầy  mới hay thầy đã ra nước ngoài sinh sống. Tôi thầm mừng cho cuộc sống của thầy đã yên ổn. Để rồi hôm nay lại nhận được tin thầy đã tạ thế. 
   Thưa thầy, viết bài này để nhớ về thầy thật nhiều đã cho chúng con những kiến thức và cách sống ngay thẳng  như chính thầy đã là tấm gương cho học trò noi theo. Xin được thắp nén nhang tạ ơn thầy.
    




Mar 27, 2018

Chia buồn cùng gia đình GS Đỗ Danh Tẩm



 Nhận được tin buồn:

  Giáo sư ĐỖ DANH TẨM


Cựu giáo sư 
 

Trường n trung học TRƯNG VƯƠNG Sài Gòn
vừa từ trần ngày
 20 tháng 3  2018






Toàn thể cựu nữ sinh TV 63-70 xin chân thành chia buồn cùng  tang quyến. Nguyện xin anh linh GS Tẩm  được tiêu diêu nơi miền tịnh độ.




THÀNH KÍNH PHÂN ƯU 


Hình các TV đến viếng thầy ở Sydney







Link những hình ảnh TV Sydney đến viếng Thầy Đỗ Danh Tẩm.


Giếng hồi hướng công đức cho Thầy Đỗ Danh Tẩm


Mar 24, 2018

Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »

TẠP CHÍ KHOA HỌC

Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »

 Dân gian có câu : « Kiến tha lâu cũng đầy tổ », hàm ý chỉ sự chăm chỉ, cần cù rồi cũng được đền bù xứng đáng. Thế nhưng, với nhà nghiên cứu Erik Frank, loài kiến còn có nhiều đặc tính thú vị khác. Khi quan sát cuộc chiến giữa loài kiến và mối tại Bờ Biển Ngà, Erik Frank phát hiện ra rằng kiến còn là những binh gia tuyệt vời và có một dịch vụ « quân y » rất hiệu quả.

Không phải giống kiến nào cũng có những « thói quen nhà binh » kiểu ấy. Đặc tính « quân nhân » này đặc biệt chỉ có ở giống kiến có tên khoa học là Megaponera analis, giống kiến Hạ Sahara, những giống kiến càng to khỏe, có chiều dài đôi khi lên đến 2cm. Đây là một trong những giống kiến được cho là rất « hiếu chiến ».
Sau 29 tháng bám lấy tổ kiến từ sáng đến tối, Erik Frank đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sinh học, chuyên ngành nghiên cứu về Kiến tại trường đại học Wurzburg (Đức) vào tháng Giêng năm 2018, và cho đăng liên tiếp 5 bài nghiên cứu trên một tạp chí khoa học rất có uy tín của Anh, Proceeding B.
Nghiên cứu của anh về giống kiến Megaponera analis khiến báo Le Monde (14/03/2018) phải thốt lên đây quả là « những binh gia đáng gờm ». Quá trình đi săn mồi, tấn công mồi, các công tác hậu chiến của Megaponera chẳng khác gì một chiến dịch quân sự bao gồm các bước : Thăm dò đối thủ, bố trí quân lực, dàn trận, khai chiến, thu gom chiến lợi phẩm, thu nhặt "thương phế binh" và chăm sóc bệnh binh.
Trả lời phỏng vấn Le Monde, anh Erick Frank cho biết điều gì đã thôi thúc anh nghiên cứu về loài kiến này :
« Trong khoảng một tháng, tôi đã nhận thấy rằng những con khỏe mạnh tha về tổ những con bị thương. Nhưng tôi không biết là phát hiện này có thật sự là mới hay không và vì lúc ấy tôi cũng không có mạng Wifi để kiểm chứng, cũng như điện thoại để hỏi giáo sư. Thế là tôi cứ tiếp tục quan sát.
Những con kiến bị thương đó rồi sẽ thế nào ? Ai chuyển chúng đi và bằng cách nào ? Trong một hành trình dài ra sao ? Loài kiến này sẽ tổ chức tấn công như thế nào, bao nhiêu chiến binh, tỷ lệ thương vong trong giao chiến là bao nhiêu ? Để rồi ba tháng sau đó, khi giáo sư của tôi trở về, ông ấy tỏ ra có hứng thú. Ông ấy hỏi ngay là tôi có muốn làm tiến sĩ hay không ».
Xác định mồi và bố trí lực lượng
Với giống kiến Megaponera, miếng mồi ngon nhất chính là mối. Thế nhưng, tổ chức tấn công ổ mối lại không dễ chút nào. Những ụ mối, theo như cách ví von của giới khoa học, giống như là những vương cung thu nhỏ, thành trì vững chắc, có hệ thống điều hòa không khí tự nhiên, và lại rất hòa nhập với môi trường.
Nhưng giống kiến vùng hạ Sahara này lại hiểu rất rõ là, để có thức ăn, loài mối phải bò ra khỏi cứ địa của mình, đi gom nhặt các vật liệu chết (lá cây, cành, vỏ cây) để cung cấp dinh dưỡng cho những luống nấm của mình. Mối buộc phải tìm chọn cho mình một địa điểm, phủ lên đấy một lớp mai bằng đất để tránh nắng và đương nhiên là cả những kẻ săn mồi, đồng thời nối điểm kiếm ăn với ổ mối bằng một con đường hầm.
Do đó, việc truy tìm địa bàn kiếm ăn của mối chính là nhiệm vụ đầu tiên của kiến "trinh sát". Khi phát hiện được mục tiêu, những con kiến này tiếp cận cẩn trọng, một cách từ từ, để thẩm định số lượng mối được triển khai. « Kiến dọ thám phải tỏ ra thật kín đáo, bởi vì nếu như những con mối canh gác phát hiện ra, chúng sẽ phát tín hiệu báo động và tất cả các con mối sẽ quay về nơi trú ẩn».
Một khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, kiến trinh sát trở về ổ để gầy dựng một đạo quân mà nó cần. Khoảng từ 100 đến 600 con sẽ được huy động, xếp hàng hành quân. Đi đầu đàn là kiến trinh sát, nối theo sau là hai hàng sĩ quan phụ trách đánh dấu đường đi bằng cách tiết ra chất pheromone. Kế đến là những con kiến « to », còn có nhiệm vụ bảo vệ tiền tuyến của lực lượng chủ đạo. Phần quân còn lại đi ở phía sau theo từng hàng 4 con, được bọc hậu bởi những con « to » khác.
Dàn trận và giao chiến
Khi đã áp sát mục tiêu, kiến bắt đầu dàn trận. Những con kiến to có chiều dài thân thể 2cm được xếp vào vị trí tiên phong. Ai tung tín hiệu tấn công ? Điều này anh Erik Frank vẫn chưa rõ. Nhưng bất thình lình cả đội kiến « lớn » cùng lao lên đánh. Mục tiêu là gì ? Phá tan lớp đất phủ do mối dựng nên. Một nhiệm vụ được hoàn thành một cách chóng vánh. Tiếp đến là đợt tấn công của những con kiến nhỏ hơn, nhưng đôi càng có đến 5mm cơ bắp.

Kiến "nhỏ" Megaponera có cơ bắp của càng dày 5mm.Wikimedia Commons
Về phía loài mối, chúng cũng phải tổ chức phản công, chia thành hai giới. Những chú lính mối có đôi hàm to khỏe xung trận chặn kẻ thù một cách kiên cường, trong khi mà những con mối thợ tìm cách trở về hầm để đào thoát.
« Hành động kháng cự của chú lính mối thật là anh hùng. Chúng cắn ở bất kỳ đâu có thể, cắt đứt càng và râu, ôm chặt lấy bụng kiến, và không buông ra nữa. Nhưng có những con kiến khác đến tăng viện, chúng cào cấu để cho mối phải nhả ra, đến lượt chúng cắn lại, cho đến khi nào con mối đầu gần lìa thân… Và kiến bao giờ cũng là kẻ thắng trận và tiếp tục lao vào những con mối thợ còn lại. Nhưng đương nhiên, kiến cũng phải trả một cái giá khá cao ».
Theo ghi nhận của Erik Frank, sau mỗi trận như thế, ít nhất có đến 1/3 quân kiến bị thương trong một cuộc giao chiến chỉ kéo dài từ 10-15 phút.
Vận chuyển phế binh
Chính vào lúc này, điều đáng ngạc nhiên nhất diễn ra. Đứng ngoài trong suốt cuộc chiến, những con kiến to khỏe giờ lại bắt tay vào việc. Số thì tha về tổ chiến lợi phẩm, mỗi con có thể tha đến 6 con mối. Số khác thì chuyển thành lính cứu thương, vận chuyển những con kiến bị thương.
« Sau trận đánh, mỗi trận kéo dài từ 10-15 phút, các chú kiến không những bắt đầu thu gom chiến lợi phẩm là những con mối, mà còn thu nhặt cả những con kiến lính bị thương, những con bị mất một hay hai càng. Những con này sau trận đánh đã tiết ra loại chất pheromone để cầu cứu kiến cứu thương đến hỗ trợ. Nhờ vào loại hóa chất này kiến cứu thương có thể đến xem những con bị thương, ngậm chúng vào miệng và tha chúng về tổ ».
Những con nào bị thương quá nặng, mất hơn 3 càng thì đành chấp nhận số phận hẩm hiu bị bỏ rơi. Một sự sàng lọc đòi hỏi sự tham gia của chính những con kiến đó. Chúng sẽ không phát đi tín hiệu hóa học nào, cũng như không chấp nhận vị thế ưu tiên.
Anh Erik Frank lưu ý : « Đó không phải là một sự hy sinh tình nguyện, một hành động tự phát. Những con kiến này không thể đứng dậy và phát tín hiệu tuyệt vọng được. Nhưng cách hành xử này, mang tính tập thể, dựa trên một cơ chế rất đơn giản, lại có vẻ rất hiệu quả ».

Kiến "to" Megaponera (Major) có chiều dài cơ thể lên đến 2cm.Wikimedia Commons
Dịch vụ quân y hiệu quả
Một khi về đến tổ, trách nhiệm được giao lại cho các con kiến « bác sĩ quân y  ». Chúng sẽ chăm sóc những con kiến « phế binh » đó như thế nào ? Đến đây, các nhà khoa học Đức đành phải dùng đến một thiết bị camera cực kỳ nhỏ để quan sát 6 ổ kiến được gầy dựng trong phòng thí nghiệm.
Những con kiến đóng vai trò « bác sĩ » này phải hành động nhanh và tỉ mỉ, bởi vì chúng chỉ có một giờ để chữa trị, do các vết thương lành sẹo rất nhanh và tình trạng nhiễm trùng sẽ lan toàn thân. Chúng rửa sạch các vết bẩn hay gỡ bỏ những phần còn thừa của mối còn dính trên vết thương bằng cách liếm thật nhiều lên đấy, theo như giải thích của nhà khoa học với đài phát thanh Radio Canada.
« Ngay ở trong các tổ kiến, có những điều mà chúng tôi đã quan sát thấy và chúng tôi cho rằng đây là điều mới mẻ : đó là những con kiến cũng biết chăm sóc vết thương cho con khác, như là dùng móng để lau chùi vết thương hoặc phòng ngừa vết thương bị viêm nhiễm.
Tôi không chắc liệu có thể nói đó là một sự chữa trị thuốc thang hay không bởi vì có thể đó là những chất phòng ngừa giúp rửa vết thương, lau chùi đất, có rất nhiều khả năng để phòng ngừa sự viêm nhiễm. Tuy nhiên, người ta không rõ là vết thương đó đã bị viêm nhiễm rồi hay chưa và các con kiến khác có chăm sóc chống viêm nhiễm bằng chất kháng sinh hay không »
Một thế hệ thuốc kháng sinh tương lai ?
Một câu hỏi khác cũng được Erik Frank và ông K. Eduard Linsenmair, giáo sư hướng dẫn đặc biệt quan tâm : Hiệu quả chữa trị như thế nào ? Để tìm hiểu vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã chọn ra 120 con kiến « phế binh » chỉ mất có hai càng và chia làm ba nhóm : Một số không được điều trị, số khác được đặt vào môi trường vô khuẩn và số còn lại được hưởng chế độ điều trị. Kết quả là : « 80% trong nhóm đầu đều chết trong vòng 24 giờ, 20% tử vong trong nhóm thứ hai và duy chỉ có 10% tử vong trong nhóm thứ ba ».
Kết quả nghiên cứu này của Erik Frank được giới khoa học chuyên nghiên cứu về kiến trên thế giới hoan nghênh. Đây là lần đầu tiên, người ta có thể tập hợp các tài liệu chứng minh một cách khoa học về việc kiến chăm sóc trực tiếp các vết thương cho các con khác đồng loại.
« Chính xác là như vậy. Đây là lần đầu tiên người ta đã nhìn thấy một hệ thống, các bác sĩ, có thể gọi như vậy, cùng với các xe cứu thương của các con kiến. Bởi vì bình thường ra, các con vật chỉ tự chăm sóc các vết thương của bản thân, ví dụ con tinh tinh tự chăm sóc vết thương của nó. Thế nhưng, chăm sóc vết thương cho các con khác thì đây là lần đầu tiên, người ta quan sát thấy được một hệ thống chăm sóc có tổ chức hẳn hoi. »
Erik Frank cho biết thêm trong quá trình làm nghiên cứu sau đại học tại trường đại học Lausanne Thụy Sĩ, anh hy vọng có thể tìm ra lời giải cho những câu hỏi : Những nạn nhân đó chết vì cái gì, hay nói một cách khác bản chất của tình trạng nhiễm trùng là gì ? Thành phần nước dãi mầu nhiệm của kiến có gì ? Bản chất của việc điều trị là phòng bệnh hay chữa bệnh ? Những lời giải này có thể giúp các nhà sinh học khai mở hướng đi tìm ra những thế hệ thuốc kháng sinh mới.

Kiến Megaponera "bác sĩ" chăm sóc đồng loại bị thương sau trận đánh.Wikimedia Commons

T.Lan sưu tầm 

Họp mặt với Nguyệt Minh ở Saigon

Hơn nửa thế kỷ mới họp mặt được với Nguyệt Minh ở Saigon...



  
 Tụi Thanh gồm các bạn An Trinh, Đoàn Liên, Dung, Anh Thư, Liên,Thuận, Tâm mini,Loan ,Liên Hoa(mới tham gia),Thanh và vợ chồng Nguyệt Minh cùng gặp nhau ở nhà hàng Hoàng Ty,gần nhà Dung,Liên ...
   
 Đúng là gặp nhau tay bắt mặt mừng... nói chuyện hỏi nhau í ới mãi mà... quên cả gọi món ăn.... nhân viên trong quán ra nhắc năm lần bảy lượt mới đủng đỉnh gọi món...mà thực ra bây giờ gặp nhau nói chuyện mới là lẽ sống vui thú của tuổi chúng mình cơ mà...phải thế không ??? hihi...


   

 Vợ chồng Nguyệt Minh rất phong độ cứ như là đang đi hưởng tuần trăng mật vậy! Ai cũng mừng nhìn thấy Đoàn Liên và Dung có phần tươi tắn hơn trước... chỉ cần gặp nhau chuyện trò vui vẻ là thấy vui mừng rồi há...
  
 Mong gặp lại nhiều nhiều bạn về Saigon vui đoàn tụ lắm thay...
                          
 Kimthanh 

Mar 23, 2018

Giao Chỉ, Yuồn, Keo - Bài khảo cứu của GS.Đoàn Văn Phi Long

Lời giới thiệu : Giáo Sư Đoàn văn Phi Long là giáo sư dạy Toán tại trường Trưng Vương trước 1975. Sau khi định cư tại Úc song song với việc dạy Toán cho nhiều thế hệ học sinh Việt tại gia, từ năm 1987 Thầy còn bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu về Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Đây là một chương trong khoảng 30 chương của " Nguồn gốc dân tộc Việt Nam". 

Đặc san TV6370 xin cám ơn Thầy Đoàn văn Phi Long đã gửi bài cho, và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn TV và độc giả khắp mọi nơi .

Giáo sư Đoàn Văn Phi Long

Giao Chỉ, Yuồn, Keo
Gs Đoàn văn Phi Long

Ý nghĩa từ Yuồn

Nạn “cáp duồn” xuất hiện tại Cao Miên và ngay cả trên lảnh thổ VN: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vào cuối 1945, đầu 1946 thời Pháp thuộc.

Cáp Yuồn tiếng Miên là chặt đầu dân Việt, do VN chiếm Thủy Chân Lạp và do người Miên bị khích động bởi chuyện truyền miệng ”Tả quân Lê Văn Duyệt chiếm đóng Campuchia bắt ba người phản loạn chôn sống, chụm lữa để chảo trên đầu nấu nước trà. Bị nóng dãy dụa làm đổ nước bị quân lính đánh và nói Chắc tức tê ông tức là làm đổ trà của Ông”. Chuyện này ở Campuchia ai cũng biết.
Học giả Vương Hồng Sểnh giải thích Yuồn hay Duồn là biến dạng của từ Vương, tên người Miên dùng để chỉ Nguyễn Vương, giải thích không đúng vì tộc Mã Lai gọi VN là Yuavan hay Yavana, Chàm là Yuan, Bà Na là Yuân, Radê là Yoân, Gia Rai là Yuăn, Stiêng là Yuơn, Mạ là Yen, Mường là Yịt. Tộc Juang ở bang Odisha đông bắc Ấn Độ, thuộc ngữ tộc Munda trong Nam Á, Juang gần với tộc Kharia. Tên Juang phát âm tương tự như Yuồn. (TK 1)

Đa số đều cho từ yuavana có gốc Ấn Độ: Người dân ở những nước bị ảnh hưởng văn hoá Ấn độ gọi dân khác văn hoá là yuon, yuan, biến thể từ chữ yuavana, có nghĩa là man di– một hình thức tự cao, cho rằng văn hoá của mình là số một.
Nhưng trong website Hindu baby names, Yuvana thường dùng đặt tên cho con trai trẻ, khỏe mạnh (young, healthy boy), còn tính từ là yuva. Vậy yuvana là mầm non, sơ khai, nguyên thủy không có ý xấu, trái ngược với quan niệm thông thường. Human tiếng Anh chuyển sang Ấn là man danh từ hay mana tính từ. (TK 2)

Yuồn ở Khmer

Theo ghi chép bởi sứ thần Zhou Daguan, được nhà Nguyên (Mông Cổ) gởi tới Angkor năm 1296 thời đế quốc Khmer “Khi Đế quốc Khmer xâm lấn, dân bản xứ đã trốn lên núi cao và trở thành nô lệ và được gọi là Tchuang” mà theo tộc Pear từ juang có nghĩa là người. (TK 3)

Như vậy chứng tỏ người dân Khmer đã chiếm đất của dân Yuồn Tchuang để rồi bị Yuồn VN chiếm lại, đúng là gậy ông đập lưng ông.

Yuồn Quảng Đông, Quảng Tây

Người Tàu giải thích các từ này là Khoảng rộng phương Đông, Khoảng rộng phương Tây, giải thích không hợp lý vì họ không biết ý nghĩa của từ này. Thứ nhất không ai dùng tên tầm thường cho một nước, thứ hai tên đáng lý phải là Đông Quảng, Tây Quảng nếu đây là tiếng Hán có tính từ đi trước, đằng này tính từ đi sau nên hai tên trên không phải là tiếng Hán. Quảng là Guang có âm rất gần với từ Yuang, Yuan, Yuồn do đó hai từ này là Yuồn Đông, Yuồn Tây tiếng Việt cổ.

Nguồn gốc từ Yuồn

Yuồn cố nguồn gốc từ Human chớ không phải từ Yuvana Ấn độ mặc dầu có phát âm tương tự.
HumanàYuanàYuồn, Duồn

Ý nghĩa từ Keo

Có đọc trên mạng viết là tộc thiểu số miền Bắc vẫn còn gọi người Việt là Keo. Đi hỏi một anh bạn kỷ sư người Bắc từng đi khắp miền thượng du Bắc Việt thì được xác nhận đúng là Keo.
Người miền Nam và Trung được đồng bào Thượng và các nước phía Nam gọi là Yuồn như đã nói ở trên.
Có mạng viết “Dân Việt có trên 70 triệu người , chiếm 86 % dân số cả nước, người Tày -Thái gọi người Kinh là "Cần Keo, côn Keo" ( Keo= Giao...). Người Giao Chỉ khác người Hán ở chỗ tầm vóc thấp nhỏ hơn, lăn lẳn thân mình (gắm) chứ không to béo” (TK 4)

Nơi khác viết chữ "Kinh" (để chỉ về dân tộc Kinh chúng ta, ngày xưa dân tộc Kinh chúng ta có tên gọi khác là “Kằn Keo, Kon Yuôn” có lẽ được xuất phát từ trùng âm của danh động từ chỉ về ăn uống là từ "Kin" của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày, Thái, Lào... gọi tộc người chúng ta. (TK5)

Bên Tàu có tộc thiểu số Jing-zu là tộc chiếm đa số ở Việt Nam hiện nay. Từ jing có nghĩa là kinh đô nên người Kinh chỉ dân ở kinh thành còn người Thượng là dân sắc tộc ở vùng cao nguyên, rừng rú.
Trung Hoa hay rút gọn một cụm từ thành từ kép như bành trướng củng cố thành bành củng, dân sắc tộc thiểu số thành tộc dân được Hà Nội đảo ngược cho đúng văn phạm VN một cách chẳng giống ai là người dân tộc!! Một thí dụ khác, từ chất lượng là chữ rút gọn của hữu chất hữu lượng nhưng dùng ở VN thì sai vì ta đã có vũ lượng, tửu lượng nên chất lượng là lượng của chất, mất ý nghĩa ban đầu. Tiếng Tàu không có văn phạm (phát biểu của Tôn Dật Tiên), họ muốn nói thế nào cũng được nhưng tiếng Việt có văn phạm nên không phải tiếng Tàu nào cũng áp dụng được cho VN. Người Quảng Đông nói “nị gả cho ngộ li” nhưng người Việt phải nói “Má gả em cho anh đi” mặc dầu từ gả có gốc Tàu.

Ngoài ra đây là từ xì trum nghĩa là một từ có hàng chục, hằng trăm nghĩa. Lý do là chữ Hán rất khó học khó nhớ, học 7 năm trung học được 2000 từ chỉ đủ cho việc hằng ngày. Trung Cộng đơn giản lại chừng vài trăm từ cho cán bộ nói như máy và vì vậy từ ngữ rất nghèo nàn, thua xa từ Hán Việt có từ thời Tần.

Người Keo là người Cau

Theo một số tác giả tên Văn Lang là cây Cau vì cây cau tượng trưng cho người Việt, đền thờ ở VN đều có trồng cau. Vì thế người Việt là người Cau?

Chùa Keo

Có một tên Keo khác là chùa Keo ở miền Bắc mà không ai biết có nghĩa là gì. Có người cho Keo là tên làng Keo ở gần chùa Keo.
Tỉnh Tà Keo của Campuchia gần Châu Đốc là Blue Emeral God tức là Thần Ngọc bích. Như vậy chùa Keo miền Bắc thờ thần Tà Keo đạo Bà La Môn.
Tôn giáo đầu tiên ở VN và Trung Hoa là Bà La Môn, phù hợp với ý kiến nhiều học giả Tây phương.
Nho Giáo của người Thương (Shang) là một tôn giáo phát xuất từ Ấn Độ gồm có hai hoạt động chính:
-cúng bái
-trình diễn lễ nhạc

Dao ni

Sách Điền hải Ngũ hành chí kể tộc Dao ni đánh trống gõ chuông vào buổi sáng. Dao là do chữ Iu của Iu Mien, còn ni là người tu hành.
Người Dao theo Ấn giáo, làm lễ nhạc và do đó có từ ni. Tiếng Tàu là song âm tiết như bá bá, cô cô, và không có văn phạm, nên từ Dao phải đi kèm một từ khác, ở đây là từ ni.

Người Keo trong khảo cổ

Đây là giả thuyết duy nhất nói về từ Keo do các nhà khảo cổ miền Bắc đưa ra:
"Ở Bắc Việt thời tiền sử có hai loại người chính yếu là Indonesian cổ và Austromélésien. Sau đó loại Austromélanésien biến lần và chỉ còn lại loại Indonésien cổ. Về sau kết hợp với các bộ lạc khác thành một loại nhân chủng mới: loại Nam-Á tức dân tộc Keo tổ tiên chính xác của dân tộc Việt Nam ngày nay. Dân Keo đã cư trú lâu đời ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Việt từ xa xưa".

Giả thuyết không cho biết tổ tiên Keo của dân tộc Việt là ai vì tên Indonesien cổ do các nhà khảo cổ Tây phương đặt ra dùng để chỉ một loại người cổ ở Đông Nam Á, không ám chỉ Nam Dương.

Keo, Dao có nguồn gốc từ Hu trong Human
Hu-->Hi-u-->Ki-u, Jiao, Jiu, Chiu -->Keo, Dao, Cửu

Giao Chỉ

Có hai cách lý giải từ Giao Chỉ

Lý luận theo ý nghĩa (meaning)

Giao Chỉ có nghĩa ngón chân cái  bẻ quẹo ra.
Trung Hoa phiên âm từ Tây phương rất kỳ quặc như Malasia thành Mã lai á (ngựa lại Á châu), America thành Mỹ lị gia (Đại gia lị người đẹp), Hawaii thành Hạ oai di (rợ làm oai kẻ dưới), Paris thành Bá lê (trăm trái lê), Washington (Hoa thịnh vượng bất ngờ), Nhật Nam (phía Nam mặt trời) nhưng vùng này lại ở Bắc bán cầu. Thực sự Nhật Nam là từ phiên âm của Chenan hay Jenan, tiếng Chàm.
Do vậy nếu lý giải theo nghĩa hầu hết không đúng, xin dẫn chứng như sau:

1. Gen không thể biến đổi quá nhanh.

Cổ sử ghi quận Giao Chỉ có 10 huyện, 92.379 hộ, 746.237 người. Quận Cửu Chân có 7 huyện, 35.743 hộ, 166.013 người. Còn quận Nhật Nam do nhà Hán mới đặt sau khi đánh chiếm Nam Việt, gồm có 5 huyện, có 15.460 hộ, 69.485 người.
Thời Mã Viện dân số Giao Chỉ dưới một triệu hầu hết có ngón chân cái bẻ quẹo, thế mà chỉ khoảng hơn 2000 năm sau thì 99.999% ngón chân cái hết dị tật.

Lời bàn: Điều này khó có thể xãy ra vì theo di truyền học phải cần thời gian tối thiểu vài triệu năm.
Vì ở trên cây nên khỉ có ngón cái bẻ quẹo ra để chân có thể bám vào nhánh cây nhưng khi con người xuống đất đi bằng hai chân thì hai ngón cái phải khép vào, nếu không sẽ bị gảy khi chạy nhanh.

2. Nước Âu Lạc nối tiếp Văn Lang thời Hùng Vương gồm Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn Tây.

Khi bị Mã Viện (14TCN-49) xâm chiếm thì bị đặt tên là Giao Chỉ.
Sách khác: Hán Thư chép”năm Tân Vị, 110 BC một năm sau khi nhà Triệu mất, nhà Hán diệt nước Tây Vu”, Tây Vu theo Hán Thư chính là vùng đất Cổ Loa cũ.

Lời bàn: Vậy là dân Việt thời xưa có hai chân bình thường nhưng khi bị Mã Viện xâm lăng thì bổng chốc hai ngón chân cái bẻ quẹo thành giao chỉ, chắc là do phẩn uất quá độ.
Một ông ở Hà Nội còn viết là có gặp đồng bào thiểu số có ngón cái giao nhau và nhìn thấy nỏ thần An Dương Vương ở Hà Nội.

3. Không phải cái gì học giả Ta,Tây Tàu nói đều đúng.

Cổ sử ghi Giao Chỉ còn được dùng để gọi người Việt cổ. Chữ Giao (交) nghĩa là giao nhau, qua lại, kết hợp với nhau. Ý kiến quan trọng khác chữ Giao trong Giao chỉ liên quan đến Giao Long là một linh vật của vùng này mà sau này phổ biến rộng rãi hơn trong vùng được biết như là con Rồng.
Riêng chữ Chỉ không được chép và lý giải thống nhất. Do vậy chữ Chỉ được hiểu theo nhiều cách, từ đó chữ Giao Chỉ cũng được hiểu theo nhiều cách. Đỗ Hựu trong bộThông Điển cho rằng: "Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)". Ý kiến này được nhiều học giả Trung Hoa và Việt Nam chấp nhận.

Các nhà sử học Việt Nam kể từ Nguyễn văn Siêu, Trần Trông Kim, Đào Duy Anh…đều theo cách giải thích thứ hai này.

Năm 1868, bác sĩ Clovis Thorel trong đoàn thám hiểm đã nhận xét hiện tượng hai ngón chân cái giao nhau là "một đặc điểm của giống người An Nam". Sau này các học giả Pháp khác cũng ghi nhận điều này.
Hiện tượng hai ngón chân cái trẹo ra ngoài để có tư thế giao nhau khi hai bàn chân đặt song song gần nhau được gặp không chỉ ở các dân tộc Đông Dương mà còn ở các dân tộc khác như người Mã Lai, Xiêm, Trung Hoa, Ả Rập, Malanesia, và người Negrito, chỉ khác nhau ở mức độ. Nhưng hiện tượng này rất hiếm gặp ở người châu Âu. Đây không phải là hiện tượng bệnh lý, mà có thể coi là một biến dị lại tổ (variation atavique) do xương mọc không thẳng như bình thường (TK 6)

Lời bàn: Hầu hết các học giả đều cho người Giao chỉ có chân bị tật di truyền nhưng người Âu Mỹ thì không. Thực sự người Âu Mỹ mang giày từ nhỏ nên ngón cái thẳng vì bị bó sát. Các giống khác, nhất là dân nước chậm phát triển thường đi chân đất nên ngón cái quẹo ra, nhất là những người mang dép râu, thế nhưng sinh con có chân bình thường. Tương tự đàn bà nhà Thanh có tục bó chân thành nhỏ xíu đi đứng rất khó khăn nhưng con cái thì chân to.

4. Chữ Giao trong Giao chỉ liên quan đến Giao Long là một linh vật của vùng này mà sau này phổ biến rộng rãi hơn trong vùng được biết như là con Rồng.

Lời bàn: Vậy Giao Chỉ là móng rồng à?

5. 80% dân Trung Hoa là người Việt tức ngưới Dao từ ĐNÁ di cư lên phía bắc theo Genetic Relationship of Population in China, bài báo của Giáo sư J.Y.Chu và đồng nghiệp thuộc trường Đại học Texas, đăng trong Tạp chí Proceedings of the National Academy of Science (USA) (Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia của Hoa Ky) ở USA - Vol.95, issue 20, 1763-1768, 29 tháng 7, 1998). (TK7)
Nếu người VN là dân Giao Chỉ thì Trung Hoa ắt phải có tộc Giao Chỉ. Điều này không hề xảy ra trong thời cổ lẫn hiện tại, vậy là có mâu thuẩn trong Luận lý (contradiction).

6. Tất cả các tộc Dao ở Trung Hoa, VN, Lao, Thái, Miến Điện có chân bình thường ngọai trừ người Dao ở Giao chỉ, chuyện quái lạ khó tin.

Lý luận theo phát âm (pronounce)

Muốn tìm nguồn gốc chỉ cần so sánh với từ đồng âm có nghĩa rõ ràng.

Giao chỉ tiếng QT là Jiao zhĩ còn Dao di là Yáo yí (rợ Dao, barbaric Dao). Từ Đông di dùng chỉ rợ phía đông (barbaric), di tiếng QT là yí, sau được dùng cho rợ ở phía nam Hoàng Hà như Man di, Miao di.
Jiao zhĩ và Yáo yí gần đồng âm với nhau. Vậy Dao di đã bị Mã Viện sữa lại thành Giao Chỉ với mục đích nhạo báng hay hạ nhục:
Dao zu (tộc Dao)à Dao di (rợ Dao)à Yáo yíà Jiao zhĩàGiao chỉ

Cửu Lê
Lý giải theo nghĩa, Cửu Lê tiếng Quan Thoại là Jĩu Lí. Lí là đám đông, lê dân là đám dân, dân chúng và Cửu Lê là 9 dân chúng.
Nếu Lý giải theo âm, Jĩu lí đồng âm với Jĩu Yí tức Cữu Di.
Từ Lê rất bí mật nên có rất nhiều học giả bàn đến như BN Lộc cho Lê là dân chúng, LM Kim Định cho Cửu Lê là chín thứ dân trong số đó có Tam Miêu, H. Maspero cho Lê là Thái nhưng Y.Goloubew bảo họ có văn hóa Đông Sơn, Lê Đạo Nguyên tả họ là dân Nhật Nam, Hán Thư gọi họ là Lạc Việt (BNL trang 96,97, TK1), có người còn cho Lê là Mã Lai, Hải Nam, Tây Âu, Thái, Tam Miêu, Hẹ hay Hakka.
Nguyên nhân là từ gốc bị thay đổi làm sai ý nghĩa. Từ Cửu Lê ban đầu có tên là Cửu Di tức Jĩu yí, 9 thứ rợ (thực sự chỉ có Iu Mien, H’Mong), về sau dưới sự thống lĩnh của thủ lãnh Xi Vu mới đổi thành Cửu Lê (jiủ lí) vào thời bàn cổ Thần Nông, Phục Hi, Hoàng Đế (bấy giờ họ Thần Nông đang trên đà suy thoái nên tộc Cửu Lê thừa cơ trỗi dậy xâm lấn quấy phá các bộ lạc khác.

Vậy Cửu Lê là Cửu di. (TK 8)

Ý nghĩa từ Cửu Chân

Lý giải theo nghĩa, Cửu chân là 9 nhận định, thẩm xét hay kiểm tra rất tối nghĩa nên phải loại bỏ.
Lý giải theo theo phát âm Cửu Chân là Jĩu Zheng đồng âm với Jĩu Rén tức Cửu nhân mà từ này gần với Cửu dân tức Jĩu mín.
Jỉu phát xuất từ Hu còn mín là Mong trong từ H’Mong, phù hợp với người H’Mong.

Tên cổ của Cửu Chân

Không một học giả nào tìm được tên cổ trước thời Mã Viện của Cửu Chân.
Lục lọi mãi mới tìm được một tài liệu Trung Hoa cổ hơn thời Mã Viện “Chiu-chih hay Chuli là nơi dừng chân cho tàu thuyền trong các cuộc hải hành từ Trung Hoa tới Ấn Độ, nằm ở phía nam của Đồng Cổ (Đông Sơn)”. (trang 30 TK 9)
Chiu, Chu, Jỉu là số 9, Chiu-chih là Cửu Chỉ (9 ngón) còn Chuli là Cửu Lê (9 dân). Do đó tên cổ nhất của Cửu Chân là Cửu Chỉ hay Cửu Lê, cả hai là biến đổi của Cửu di như trường hợp Giao Chỉ. Vậy Cửu Chân có tên cổ là Cửu Di và là tên của người Mường tức H’Mong.

Địa danh hay sắc tộc có thể mang nhiều tên biến đổi theo thời gian, không gian hay tùy theo sự lựa chọn Hán tự vốn rất rắc rối, lộn xộn, một từ có hàng chục hay hàng trăm nghĩa, tra cứu khó khăn mất thì giờ.

Xi Yu

Xi Yu là tổ tiên của người Khương ở Tứ Xuyên. Người Tây Khương (Khel hay Khmer, BNL, TK 1), theo Hậu Hán Thư, có nguồn gốc từ Tam Miêu. Sử ghi là người Khương ở Tây Bắc di cư về Tây và Nam. Vậy người Khương cư ngụ ở Thanh Hải phía bắc, Tây Khương ở Tây Tạng, Tứ Xuyên, Quí Châu và Vân Nam ở phía nam. Dân di cư tới Tây Tạng tự xưng là Wu (Human) Khương, họ ở rải ra các vùng tự trị ở Tây Khương, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Gansu và Vân Nam, ngoài ra còn có người H’Mong. Người Khương là hậu duệ của Cửu Lê và Tam Miêu và Xi Yu là thủ lãnh của Cửu Lê cũng là tổ tiên của người Khương. (Từ Xi Yu part II TK 10).

Người Khương là người Iu Miên tức là người Dao.
Người Dao hay nổi loạn, sớm nhất từ thời Hán. Trong thời Tấn và Tống họ có thêm nhiều cuộc nổi loạn chống người Hán. Trong 15 năm từ 1316 tới 1331, họ có hơn 40 cuộc nổi dậy. Lớn nhất là cuộc nổi dậy một thế kỷ từ 1371 làm hoàng đế nhà Minh hoảng sợ (1368-1644) phải gởi ba đoàn đại binh tới dẹp các cuộc khởi nghĩa.

Một giải thích khác của Giao Chỉ

Một nhà nghiên cứu Nhật Bản và một tiến sĩ người Mỹ dựa vào một Lễ Ký của học giả Khổng Dĩnh Đạt (574-648) đời Đường (618- 907) như sau
"Chỉ, túc giả, ngôn Man ngoại thời đầu hướng ngoại nhi túc tại nội nhi giao, cố vân Giao Chỉ (Lễ Ký chính nghĩa của Khổng Tử, quyển 12, Vương chế sớ, Kinh Lễ, TK11). Dịch như sau:
"Chỉ là ngón chân hay bàn chân, chữ Hán viết khác, có nghĩa dân Man lúc nằm ngủ thì đầu hướng ra ngoài còn chân thì hướng vào trong, đâu lại với nhau, do đó có tên Giao Chỉ" (Kinh Thi TK 11)

Bài này gồm hai chương Giao Chỉ và Yuồn Keo, rút gọn lại thành một chương, nằm trong tổng số 30
chương của quyển “Nguồn gốc người VN”.

GS. Đoàn Văn Phi Long

Tham Khảo

1. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc

 2. bachpan.com/Meaning-of-Yuvana.aspx

3. en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Daguan

4. chimviet.free.fr/dantochoc/nguyenkhoi/ngkhoin066_TenHoCacDanToc2.htm 5. http://lvlkhoa1993.nice-gallery.net/t1001-topic

6. vi.wikipedia.org/wiki/Giao_Chỉ

7. Genetic Relationship of Population in China, by Dr J.Y.Chu Texas University

8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Cửu_Lê

9. A History of South-East Asia của D.G.E.HALL

10. XI Yu part II

11. vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Lễ

vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Thi

Mar 20, 2018

Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng.









               Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Đọc và nghe đọc truyện Khái Hưng.<http://catbuicarolineth.blogspot.fr/2018/03/oc-va-nghe-oc-truyen-khai-hung.html>



Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).


[http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2018/02/2018-FEB-12-Khaihung-251x300.jpg]



Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.



Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.



Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.



Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.



Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng.

Trọng Đạt





LỜI NGUYỀN



Đồ sộ, chót vót trên đỉnh đồi cao, đồn Vụ- bản hách dịch nhìn xuống con đường đá nối Nho-quan với Hòa-bình. Trên một quả đồi đối diện và thấp hơn, khu trại giam chính trị phạm náu mình trong hàng dậu dầy nứa nhọn và hai hàng cọc chăng giây thép gai. Phía dưới là một cái thung lũng nhỏ với con sông Vành quanh co uốn éo như con rắn dài vận khúc bạc lướt mình trong cỏ hoang, rừng rậm. Bên kia sông là phố và chợ Trào, dăm chục nóc nhà vừa lợp ngói vừa lợp tranh quây vuông lấy bốn cái quán gạch trống rỗng.

Xa xa về phía Tây Nam, dẫy núi Hoành Sơn sừng sững như một bức thành kiên cố đứng ngăn. Buổi sáng nó chìm biến vào trong sương dầy trắng đục, buổi chiều nó lờ mờ trong sương lam bốc lên như khói. Buổi trưa nó lấp lánh ném ánh bạc của những cây ngân diệp mọc bên sườn. Về phương Đông bắc, và chỉ xa chừng dăm cây số, một quả đồi cao và dài đứng án ngữ như một bức bình phong. Quanh đó những núi đá trắng và đen mọc lởm chởm, với những hình thù cổ quái. Còn phía Tây bắc là những đồi rậm liên tiếp những rừng sâu, cỏ sắc bao vây lấy từng khu ruộng nhỏ hẹp và dài.

Vùng ấy hằng ngày yên ngủ để chờ đợi những hồi kèn rời rạc báo giờ từ vòm đồn tỏa xuống, cả những hôm phiên chợ tắp nập, nó cũng yên lặng buồn tẻ với những người Mường ít cười ít nói: Họ lững thững gánh gạo, gánh măng, gánh lợn, gà, vịt, ngỗng ra chợ bán, rồi lại lững thững trở về làng vời một ít muối và các thức đồ dùng của người Kinh đem từ vùng xuôi lên. Họ như chán nản, chả buồn mặc cả nài giá bao giờ.

Cái trạng thái u huyền giữa một cành thiên nhiên hùng vĩ, khiến Khanh, một tù nhân chính trị, tưởng tượng ra một thần bí gì rùng rợn ngày đêm bay lượn trên không để đe dọa vùng này. Một hôm vác ống bương ra suối lấy nước, y ngỏ ý nghĩ đùa bỡn ấy với người lính kèn. Thì kinh ngạc xiết bao, người kia hãi hùng se sẽ đáp lại:

- Phải, một lời nguyền.

Người lính cũng chỉ thốt ra một câu vắn tắt. Rồi như khiếp sợ một cái gì có thể sắp xảy tới, y im bặt.

Đêm hôm ấy trong khi nằm lịm trên giường lát nứa, nghe bài kèn tám giờ, Khanh lại liên tưởng đến người linh kèn và câu chuyện đương tò mò khao khát muốn biết: Một lời nguyền! Bài kèn buồn rời rợi với những âm thanh trầm trầm như những lời ai oán của lòng người sau bao phen uất ức! Hay đó là lời nguyền đêm đêm lên tiếng làm vang động làn không khí âm u nơi đồi núi?

Tà tà ta ta tí a ta ta...

Lời nguyền của những kẻ bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc chốn sơn lâm? Mới tuần lễ trước Khanh đi đưa một người bạn giam đến nơi yên nghỉ cuối cùng: bên sườn đồi dưới bóng một cây lao xao cành lá rườm rà luôn luôn thì thào lời oán trách trong gió thoảng qua. Trong đám dân Kinh bên phố, cũng như trong hàng ngũ binh lính bên đồn và anh em chính trị trong trại giam, thỉnh thoảng lại một người từ giã cõi nhân gian, sau những cơn sốt nóng sốt rét mê sảng. Phải chăng họ đáp lại tiếng gọi thiêng liêng, của một lời nguyền độc địa tự đời nào vang lại?

Hồi kèn đã dứt. Từ đó, trong tiếng thanh sắt trên đồn, tiếng mõ tre ở các điểm canh, Khanh đều cảm thấy có liên can tới cái lời nguyền ghê gớm nào đó của người xưa. Qua kẽ rào nứa, một vài chấm lửa bên sông còn le lói, lập lòe. Đó là những dấu hiệu mong manh của sự sống trong một vùng như chết lịm dưới màn sương.. Khanh ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Và y mê thấy con thành đanh đỏ mỏ từ trên trời cao bay sả xuống mổ vào ngôi mộ người bạn đồng trại, chơ vơ bên sườn đồi dưới bóng cây lao xao ủ rũ.

Nhưng câu chuyện «Lời nguyền » một hôm Khanh đã được người lính kèn thuật lại cho nghe trong cái lều canh lúa của người Mường.

Sáng hôm ấy, ra tới suối, Khanh thấy hiện ra một cảnh tượng rất nên thơ: Bên kia dịp cầu tre, trong một khu ruộng khô đất nhỏ, sáu cô Mường, áo cánh trắng xiêm dài xanh đương chậm rải gieo ngô. Từng đôi, người đi trước cầm cây hóp uẻ oải chọc xuống đất một lỗ, người theo sau uể oải bỏ rơi vào đó một hạt ngô. Họ đi thong thả, làm việc rời rạc như biểu diễn trên sân khấu cho khán giả ngắm nghía cái điệu bộ nhịp nhàng của họ. Ngồi trên lều cao, hai chân quấn « xà cạp » đá đưa đánh dịp, Chín-bảy - tên gọi tắt con số 1297 của người lính kèn - đương phùng má thổi bài « la mát ».. Xúm chung quanh y, trên các bực thang bốn cô Mường lắng tai kính cẩn ngồi nghe.

Thấy Khanh đến gần, Chín-bảy vội rời cái kèn, bước xuống đón tiếp, vẻ mặt rạng rỡ, dáng bộ dương dương đắc chí như một con gà sống giữa đám gà mái tơ vậy. Trong khi hai người nói chuyện, các cô Mường chỉ mỉm cười yên lặng đứng nhìn. Hỏi câu gì các cô cũng làm thinh không đáp. Chín-bảy bảo Khanh:

- Các nàng chỉ biết có hai việc: cười và hút thuốc lào. Rồi anh xem!

Quả nhiên lúc y đi lấy một cái điếu cầy lớn đem ra bỏ thuốc đánh diêm hút, tức thì cả mười cô đều bỏ việc cười rú lên, chạy ùa lại. Họ xếp thành một vòng tròn, lần lượt truyền cho nhau cái điếu cầy miệng rộng che kín nửa mặt mà rít từng hơi dài. Hết mồi thuốc ấy thay mồi thuốc khác, cái điếu đi vòng tới vài chục lần và bao diêm đánh đã gần cạn. Và cô nào cô ấy ngây ngất mỉm cười đầu lảo đảo.

Khi các cô nàng lại quay về với công việc gieo ngô của họ, Khanh theo Chín-bảy lên lều ngồi nói chuyện, và vui vẻ hỏi đến việc gia thất của người bạn quân nhân..

- Tôi đã có vợ ở vùng xuôi, y đáp, nhưng thế nào rồi tôi cũng phải lấy một người vợ nữa ở trên này.

Và y thêm: « Cũng như phần đông anh em «nhà binh » ở đây. Đó là một việc bất đắc dĩ».

- Việc bất dắc dĩ? Khanh hỏi, nghĩa là không được phép đưa vợ con ở vùng xuôi lên đây?

- Không phải không được phép, nhưng vì đã có lời nguyền.

Khanh bỗng thấy rùng rợn. Người lính kèn lại nhắc tới « lời nguyền » ghê gớm. Chưa kịp hỏi thêm, thì Chín- bảy đã đưa mắt âu yếm nhìn theo các cô nàng áo trắng xiêm xanh hoạt động dưới trời thu mà kể cho bạn nghe câu chuyện tương truyền trong hàng đội ngũ.

Ngày xưa, thời còn chưa chịu phục tòng người Pháp, dân Hòa bình chỉ vâng theo mệnh lệnh của các quan lang; người Kinh cũng ít khi lên vùng này buôn bán. Đi bắt buộc dân Mường phải theo pháp luật của mình và đóng các thứ thuế như dân Trung châu, một mặt người Pháp đưa những ông quan lang có thanh thế nhất trong các họ lớn, như họ Đinh, họ Quách ra làm chánh quan lang hay tuần phủ đứng cai quản tỉnh Hòa bình, một mặt họ lập nên những đòn binh kiên cố ở khắp các yếu điểm trong địa hạt với những toán lính khố xanh Trung Châu không biết tiếng Mường, không thuộc phong tục Mường. Mục đích của họ là để đàn áp dân Mường và để tránh sự thân thiện giữa nhà binh và dân bản xứ.

Đồn Vụ- bản là một trong những đồn binh kiến thiết theo chương trình thống trị. Nó án ngữ con đường Nho Quan- Ninh Bình. Và đóng giữa giang san họ Quách, nó lại có thể kiểm soát những hành động của những ông quan lang có oai quyền ấy.

Với những nhiệm vụ to tát như thế, viên quản mà người Pháp tín nhiệm cho về coi đồn, ta có thể tưởng tượng hách dịch đến bực nào.

Có một ông, ông quản Tăng, không những hách dịch, mà còn bệ vệ và ăn ở hành động theo lối Âu Tây y như một quan binh Pháp vậy. Y nằm giường Hồng kông, ăn cơm tây. Lúc nào sang phố y cũng đóng trào phục mới với hàng huy chương rực rỡ trên ngực. Tay y cầm roi da, quay tít, miệng y huýt sáo một điệu âm nhạc nhà binh. Một con chó tây kếch sù đi bên cạnh y; gặp nhà nào quen thuộc của chủ nó là nó chạy sồng sộc vào khiến lũ trẻ hết cả hồn và bảo nhau:

- Quan quản! »

Quan quản! Tiếng ấy oai vệ như tiếng quan Sứ ở tỉnh vậy. Quan quản là chúa tể vùng này. Quan châu, một quan lang, đối với y, chỉ như một công chức bản xử đối với quý quan. Bao nhiêu công việc trọng đại đều ở trong tay quan quản: như thu thuế thợ, thuế đò, thuế thân, thuế điền. Quan châu chỉ là một người giúp việc.

Nhưng tiếng «quan quản» hình như cũng chưa vừa lòng y. Một hôm, người ta không hiểu vì đâu, tiếng ấy bỗng đổi ra « quan đồn » rồi cứ theo cái đà ấy, chẳng bao lâu nó lại biến chuyển thành « Cụ lớn ».

Cụ lớn hét ra lửa! Bao nhiêu là môn hạ! Suốt ngày thì thọt trong đồn những kẻ nấp bóng Cụ lớn. Thôi thì chẳng thiếu gì lễ lạc, tết nhất, mùa nào thứ ấy. Dùng không hết, « Cụ lớn » phân phát cho binh lính.

Về nhậm chức mới được hai tháng, quan quản đã lấy một cô nàng hầu người Kinh con một thương gia có tiếng bên phố chợ. Rồi cách đó nửa năm quan lại kén luôn một lúc hai cô nàng hầu người Mường nữa.

Cái việc lấy nhiều vợ ấy cũng không tốn kém gì cho quan vì bọn họ đều là con nhà khá giả. Có một điều khiến họ lo lắng sợ hãi, mỗi khi tưởng tới: " Là chẳng chóng thì chầy thế nào bà lớn quản cũng lên đây thăm chồng. Lúc bấy giờ nếu cái tin vợ nọ con kia đến tai bà, thì liệu bà có để cho yên không. Mà cứ theo lời tuyên truyền và lời nói úp mở của quan quản thì bà là con nhà thế gia đại tộc. Ông thân sinh ra bà làm Tổng đốc và đã hồi hưu. Người ta khen: «Thực là môn đăng hộ đối!» Vì quan quản nghe đâu cũng là con một vị đường quan. Y thường kể chuyện thời niên thìếu của y cho mọi người nghe. Nhà y giàu sang và y rất được chiều chuộng. Mới mười hai tuổi y đã cưỡi ngựa, bắn súng, và chỉ thích có một nghề binh. Vi thế lớn lên y đã bỏ học để nhập ngũ «làm quan quản » chơi.. Bao giờ đến đoạn này y cũng thêm: « Làm quan văn thì biết bao giờ lên đến ngũ phẩm, thế mà làm quan võ tôi mới ngoài ba mươi tuổi đã chánh tam rồi!».

Có lần y tưởng tượng ra cả một thiên tiểu thuyết để tả cái gia thế nhà y, bịa đặt ra những nhân vật đẹp đẽ và các phương diện ăn chơi hào phóng hay đạo mạo nho phong. Người được y tả tỉ mỉ chu đáo nhất là Cụ cố và Bà lớn. Cụ cố là một hưu quan chỉ thích đánh tổ tôm và uống chè tàu. Cụ ở một cái nhà lầu kiến trúc kiểu Tây. Trước mặt là cái vườn hoa trồng đủ các thứ hoa quý và lạ. Trên giàn thì treo đủ các thứ phong lan đi kiếm từ các miền Thượng du đem về. Còn Bà lớn thì tính rất tốt rất rộng lượng, để mặc quan lớn muốn yêu ai thì yêu. Một mình bà lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng thượng đẳng điền, người ăn người làm tấp nập quanh năm, nên không rảnh rang mà lên thăm quan được. Nào đã hết đâu, quan lại còn có một người em trai đã đậu tú tài tây và đương theo học trường Luật và một người em gái nhan sắc tuyệt trần hiện còn đương kén chồng. Tóm lại nhà quan lớn là một nhà danh giá và sung sướng vào bực nhất ở Bắc Hà.

Một buổi sáng người ta thấy đến phố chợ Trào một ông già râu tóc hoa râm và một người đàn bà vào trạc ngoài ba mươi tuổi. Cả hai đều y phục quê mùa, ông lão mặc cái áo cánh đũi nhuộm vỏ xó và một cái quần nâu sắn cao đến đầu gối. Người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu bã với miếng đổi vai bằng lụa thâm, một cái váy chồi nhuộm bùn và một cái yếm trắng cổ xẻ với hai giải màu hoa hiên đã cũ.

Họ hỏi đường sang đồn, xuống phà qua sông, khó khăn nặng nhọc leo cái dốc cao, gồ ghề. Được một quãng ông già lại đặt cái tay nải nâu xuống ngồi hổn hển và thì thầm nói chuyện với người kia. Đứng trên vòm canh, người lính gác nhìn theo họ và nghĩ thầm: « Lại một ông già và một mẹ đi lên thăm con thăm chồng.»

Đương gò lưng leo nốt đoạn cuối cùng của cái dốc dài tưởng không bao giờ đến đỉnh, thì hai người bỗng giựt mình vì một tiếng hô lớn từ trên vòm chòi ném xuống. Họ ngửng đẫu sợ hãi nhìn lên.

- Hai người nhà quê hỏi ai?

Không phải vì hai người kia ăn mặc quê mùa mà người lính gọi họ là « nhà quê.» Đối với quân đội, vì thói quen bắt chước người Pháp, chỉ có ba hạng người Việt Nam: nhà binh, nhà pha, và nhà quê. Những người không phải nhà binh và nhà pha đều là nhà quê. Vì thế, một thiếu nử y phục tân thời, nếu nghe một chủ lính canh kêu là «nhà quê » thì đừng nên lấy làm lạ và phật lòng.

- Thưa thầy, chúng tôi vào thăm ông quản.

Người lính hỏi lại để chữa câu nói hỗn của bọn nhà quê:

- Vào hầu quan có việc gì?

- Bẩm chúng tôi là người nhà.

Chú lính canh cho người vào trình quan. Một lát sau người này ra cổng hách dịch quát:

- Người nhà thế nào mới được chứ?

- Bẩm bẩm tôi là.... tôi là.., Người đàn bà thấy ông lão ấp úng lúng túng liền đỡ lời:

- Thầy vào trình hộ rằng có ông cụ và người đàn bà ở nhà quê ra thăm.

Người lính gắt:

- Ông cụ! Nhưng ông cụ có họ hàng thế nào với quan?

- Thưa ông cụ... sinh ra quan, còn tôi là vợ... quan,

Người lính hơi có vẻ sợ hãi vội vàng quay vào đồn, thì vừa gặp ông quản đứng trong sân ngó nhìn ra hỏi:

- Hai bố con lão nhà quê đến xin gì thế chú?

- Bẩm, bẩm quan...

Người lính không dám nói dứt câu.

- Đuổi cổ chúng nó ra!

Câu quát tháo to quá khiến ông già và người đàn bà cũng nghe thấy. Và nhân lúc cổng đồn mở, họ xông vào trong sân. Thấy thế viên quản liền thét:

- Bọn nhà quê kia đi đâu? Có biết nơi này là gì không mà dám xông xáo hử? Mất đầu như chơi, biết chưa? Tống cổ chúng nó ra!

- Tăng! Anh Tăng!

Ông già và người đàn bà chỉ kêu được một tiếng thì đã bị hai người lính ấy bừa ra khỏi cổng đóng sập cánh cửa lại.

Ông lão già và người đàn bà lại lủi thủi xuống dốc. Họ cùng uất ức đến cực điểm nên không ai nói với ai một câu, cả hai cùng chôn sâu nỗi căm hận trong lòng.

Ở chân đồi, ngay bên sông, có một ngôi đền thờ Mẫu. Người đàn bà mua vàng hương vào lễ, quỳ khấn rất lâu, thì thầm kể lể hết nỗi niềm tâm sự với Mẫu. Khi ra đường, nàng thấy bố chồng vẫn ngồi y nguyên một chỗ, mắt đỏ ngầu đăm đăm nhìn giòng sông chảy mạnh, quay nhanh cái guồng nước sừng sững in lên nền trời trong.

- Thôi đi về, thầy!

Ông già thong thả đứng dậy. Nhưng ông đi rẽ xuống ruộng chứ không qua phà. Ông bảo con dâu:

- Tao không muốn gặp người lái phà, vì tao đã trót bảo cho nó biết rằng tao là bố thằng Tăng.

Người đàn bà cũng lẳng lặng đi theo ông. Hai cha con, men bờ ruộng sang một khu rừng lao xao, qua một cái cầu tre bắc trên suối, rồi đến ngồi nghĩ ở một bãi cát sỏi bên sông. Sau trận mưa to đêm hôm trước nước nguồn kéo về chảy ào ào như thác. Những thân cây từ rừng đổ về nổi lềnh bềnh, và bị giòng nước phăng phăng cuốn đi.

- Dẫu sao thì cũng ăn nắm cơm cho đỡ đói đã thầy ạ..

- Mày cứ ăn trước đi. Tao không đói.

Ông già đứng lên, ra sát bờ sông đứng vịn vào một thân cây lao xao. Bỗng ông nghiêm nét mặt dữ tợn nhìn giòng sông, thốt lời nguyền độc:

«Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng thăm con thì chết như thế này».

Dứt lời ông gieo mình xuống sông tự tử. Và thân ông cùng với các thân cây, bị nước nguồn vô tình cuốn đi...

Từ đó lời nguyền vẫn thiêng. Những người cha, người vợ lên đây thăm con, thăm chồng, khi trở về đều ốm nặng rồi chết.

Và những binh lính trên đồn, những dân Kinh bên phố đều sống dưới sự đe dọa và sự thực hiện của lời nguyền.



BÓNG GIAI NHÂN



Dĩ úy phù hiền nhi nhục ư thử

LIỄU TÔN NGUYÊN



Chiếc xe ô tô thùng lớn nuốt đường giải bọn tù chính trị phạm lên trại giam Vụ Bản. Đó là một cái hòm sơn màu đen, ba mặt kín mít, chỉ hở một cửa ở phía sau. Qua lỗ hổng ấy bụi cát ùa vào trong xe, quét một lượt trắng lên tóc, lên mặt, lên kính, lên quần áo, chân tay ba mươi tội nhân và bốn người lính khố xanh áp giải chen chúc chồng chất lên nhau. Trên bực bước lên xe, đứng hai người lính nữa, mà Khanh một tù nhân, ví với hai pho tượng đá canh cổng một nơi đền thiêng, trong một ngày gió lớn.

Khanh có cảm tưởng ấy vì phía sau xe, cát bụi tung lên xoáy cuồn cuộn chạy theo như trong một cơn gió lốc. Đường từ ga Đồng Giao đi phủ Nho Quan ngoắt ngoéo lượn quanh các đồi, nhưngkhông vì thế mà xe chậm đà. Từ lúc bắt đầu mở máy cho tới lúc dừng lại, trong khoảng ba bốn giờ đồng hồ, tốc lực của nó không thay đổi, và ở những chỗ ngoặt, người ngồi ngổn ngang trong xe lại xô đập vào nhau.

Khanh để ý tò mò quan sát sự biến hình đổi dạng của an hem đồng chí mà y không nhận được ra ai nữa, mà y thấy già thêm lên hàng chục tuổi, với mái tóc và bộ ria bạc phơ. Và y ghé tai bảo người ngồi bên cạnh: « Chúng ta đều là NGũ Tử Tư, qua một đêm tư lự. »

Về sau Khanh cũng quen mắt đi, và y ngồi yên không nhìn xét nữa. Cái cảnh ra đi buổi sáng vụt diễn lại trong ký ức: Sáng nay y vui vẻ sửa soạn hành lý để cùng an hem lên đường. Luôn ba tháng nay sống chật chội tù hãm trong bốn bức tường sàn lim, trong một nơi không khí nặng nề hôi hám lúc nhúc những người, y chỉ ao ước được mau chóng thoát ly cái địa ngục ấy, dù phải giải đi đâu cũng cam, đi Côn đảo hay Tân thế giới cũng không phàn nàn. Thì nay y đã được như ý nguyện. Y còn nhớ cái lúc bị xích tay hai người vào một đứng xếp hàng ở cổng trại giam Liêm phóng. Y tưởng tượng ra một khoảng trời trong sáng, một khu đồi lành sạch đương chờ đợi đón tiếp y ở một nơi xa xôi nào đó. Y không tin những lời dọa dẫm về nước độc ma thiêng. Được rời nơi tối tăm, tanh tưởi đầy những tiếng oan khốc của người chịu cực hình này, thì đâu đâu cũng sẽ là thiên đường, đâu đâu cũng sẽ là đất khoáng đạt của lòng người. Và y thấy trong lòng y reo lên những âm hưởng của tự do, tuy tay y đang bị xích khóa. Y càng ngây ngất trong hy vọng của đời sống ngày mai, khi nhớ có lời can thiệp của một viên thanh tra mật thám Tây lai xưa nay vẫn có chút cảm tình với bọn y, khóa xích được tháo bỏ hết.

Rồi kế đến cảnh đi bộ từ sở Liêm phóng tới nhà ga giữa hai hàng lính khố xanh và lính mật thám, dưới ánh đèn điện mờ nhạt trong cái chụp đèn thời chiến tranh. Lời kêu khóc của những gia nhân đi tiễn. Y thấy buồn cười hơn là thảm thiết. Và y nghĩ: « Khóc cái nỗi gì? Không mừng cho người ta được thoát khỏi địa ngục thì chớ, lại còn khóc lóc! »

Ra đến sân ga, thì cảnh tiễn đưa thành một cảnh khôi hài với cái vẻ mặt tươi tắn của người đi và dáng bộ tang tóc của người ở. Cảnh khôi hài ấy trở nên hoàn toàn khi thấy mấy bà vợ và bà mẹ mon men lại gần chồng gần con, người cai lính khố xanh quát tháo mắng ầm lên. Khanh chỉ mỉm cười vui thú, vì được nhận thêm bao kinh nghiệm trong cái đời văn chương, lúc nào cũng tò mò quan sát tâm lý loài người.

Bây giờ nhớ lại tấn bi hài kịch ấy, Khanh còn thấy tức cười... Bổng y nghiêm nét mặt lại buồn rầu. Một bóng giai nhân vừa lóe ra trong thâm tâm y: một bạn gái bị giam ở sàn lim bên cạnh sàn lim y trong một thời gian vừa đúng hăm bốn tiếng đồng hồ. « Sàn lim 18 », đó là tên giai nhân, mà cả trại giam đều ghi nhớ, nhắc nhỏm sau khi nàng bị giải đi dâu không ai biết. Sáng hôm ấy giữa giờ anh em ở các sàn lim và nhà câu lưu được thả ra sân thì cổng trại giam bổng nặng nề mở để dẫn vào một giây người vừa bị bắt về. Trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa, cũ kỹ và rách rưới. Ai nấy chạy lại gần xem tuy bị lính mật thám xua đuổi. Trong khi mọi người đàn ông còn bị giữ ở ngoài sân thì người ta đưa thiếu nữ vào hiên dẫy sàn lim và ở đấy người canh ngục chào nàng bằng một dịp cười và một câu nói mỉa mai: « Thế nào, cô lại trở về đây ư? »

Lại trở về đây? Mọi người ngơ ngác nhìn nhau. Hỏi « cụ Quỳnh », tên người «gác» thì người ấy vẫn cười và đáp: « Lần này là lần thứ ba cô ta đến đây. Lần thứ nhất cô ta là một nữ học sinh mặc tân thời, lần thứ hai cô ta giả trai. Lần này, thì đó, anh em coi, có nhà quê đặc không? Lại răng nhuộm mầu cánh kiến cẩn thận nữa cơ đấy! Thôi lần này thì phát vãng, phát vãng cô ạ.» Một người thì thầm hỏi:

« Vậy cô ta phạm tội gì thế? »

« Lại còn tội gì nữa » người «gác» tiếp với một gịọng nói khinh bạc, tội làm Cách mệnh chứ còn tội gì nữa ». Thế là bắt đầu ngay từ phút ấy, thiếu nữ chiếm lấy hết cả lòng sùng kính của toàn thể trại giam.

« Sàn lim mười tám » là một người bé nhỏ, xinh xắn. Đôi mắt sáng với cặp môi tươi trong khuôn mặt trái soan, nước da nhỏ mịn tuy rám nắng vì công việc đồng áng mà thiếu nữ tạm theo trong khi đi trốn tránh. Một luồng gió lạ như vừa thổi tới nơi giam cầm u tối. Anh em chạy đi chạy lại nhộn nhịp xới tấp qua cái lỗ cửa con con của gian sàn lim só 18 để ngó mắt nhòm vào trong và để hỏi thăm tin tức, nhưng thiếu nữ chỉ giữ một vẻ mặt tươi cười và một thái độ lặng thinh. Thấy thế người gác phải can thiệp nhiều lần: « Anh em lảng xa ra, không Tây nó xuống thì bị cùm cả lũ bây giờ, mà tôi cũng sẽ bi khiển trách mất ».

Khanh ra chỗ ghế ngựa riêng của Quỳnh và tò mò hỏi chuyện thì biết rằng lần bị bắt trước, thiếu nữ đã dùng mưu để ra khỏi nơi này: nhân một người thanh tra mật thám vào trại giam, lúc y trở về bàn giấy, thiếu nữ đã lẳng lặng đi theo. Người canh càng tưởng viên mật thám lấy nàng ra hỏi cung, nên không giữ lại. Thế là nàng đã trốn thoát. Câu chuyện ấy lan truyền khắp mọi nơi trong giây phút càng làm tăng giá trị «sàn lim số 18 » lên bội phần. Và chiều hôm ấy cảm tấm lòng săn sóc của anh em Cách mệnh, nàng đã chịu nhận quà bánh đem đến tặng nàng và đã ôn tồn đáp lại những câu hỏi của mọi người.

Trong số anh em luôn luôn đến thăm nàng, Khanh là người chăm chỉ nhất, và tưởng được nàng lưu ý đến nhất. Cái tuổi dưới ba mươi ấy bao giờ cũng sẵn lòng tin tưởng, và hy vọng mênh mông.

Nhưng bổng giai nhân chỉ thoáng qua nơi giam cầm như chút ánh nắng tươi hé ra giửa khoảng trời mây đen đặc, Sáng sớm hôm sau người ta đã xích tay giải nàng không biết đi đâu, giữa nỗi ngây ngất bâng khuâng của bọn thiếu niên cách mệnh.

Khanh thốt ra một tiếng thở dài, và đau đớn và lãng mạn nghỉ thầm: « Ước gì ta được gặp mặt nàng một lần nữa rồi có bị đày chung thân cũng cam lòng! »

Y bỗng tỉnh choàng giấc mộng! Xe vừa dừng lại, và ai nấy sửa soạn để xuổng.

- Đến nơi rồi ư, các anh?

- Ngủ đấy à? Một người hỏi lại.

Khanh mỉm cười:

- Ngủ thì không ngủ, nhưng mà chiêm bao, chiêm bao thức.

Ra khỏi cái hòm kín, y thấy mình đứng trong một nơi phố nhỏ, bên cạnh một giòng sông con.

- Chợ Trào đây phải không, người ta hỏi nhau?

Nhưng viên đồn già, chủ trại giam, đương rảo bước trên con đường giốc, ở bên kia sông. Chạy quanh lão là một con chó, lông dài và đen. Tay lão cầm cái hèo lớn chỉ trỏ sang bên này và ra lệnh cho người lính đi theo sau. Chỉ cái hình thủ lão hiện ra đủ làm mất hết vui trong bọn anh em và ai nấy lẳng lặng đứng chờ, như chờ một sự bất trắc gì sắp xảy tới, nhất ai nấy khi ở trại Liêm phóng lại đã được nghe huyên truyền cái tiếng hung tợn cua lão ta.

Thời giờ lại êm đềm chảy trong khu trại giam Vụ bản. Một nhịp sống đều đều khác- đã đến kế tiếp nhịp sống đều đều trước. Những giờ dài đằng đẳng đi bách bộ trong sân trại giam Liêm phóng đã đổi ra những giờ mệt nhọc, làm việc trên đồi cỏ, trong rừng rậm, bên giòng nước, dưới sương lạnh hay dưới nắng hè.

Nhưng chiều chiều, sau bữa cơm gạo đỏ, Khanh lại ngồi im lìm trên thành bể nhìn dẫy núi Hoành sơn mà tưởng nhớ mà mơ mộng tới người gập gỡ trong hăm bốn giờ, giữa một hoàn cảnh đau thương. Và y có cảm tưởng rằng y sẽ mãn kiếp sống ở nơi núi đồi trùng điệp bao bọc một làn không khí âm u này với hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại.

Nhưng một buổi chiều trong lúc y gửi lòng yêu đi phương xa lạ, thì cửa trại giam bổng mở ra, và người ta thấy bước vào một thiếu nữ chừng mười bảy tuổi với một gánh hàng nặng trỉu trên vai. Anh em hấp tấp chạy ùa cả ra sân để nhận hàng vì đó là cô hàng tạp hóa bên phố mà lần đầu tiên lão chủ đồn chuẩn lời xin của anh «trật tự » cho phép đem hàng đặt vào thẳng trong trại để anh em khỏi phải thân sang tận bên kia sông mang về.

Khanh lại gần đăm đăm ngắm nghía cô hàng, và thấy nàng mơn mởn trong tuổi xuân đương dậy thì. Thiếu nữ chợt ngẩng lên và gặp cái nhìn ao ước của thanh niên, nàng cúi đầu bẽn lẽn, giả vờ điểm lại hàng hóa trong quang thúng.

Từ đó trong những buổi chiều tà. Khanh ngồi rao mộng, bóng giai nhân xưa lại hiện ra bên một bóng giai nhân mới. Và mỗi tuần lễ một lần, cô hàng tạp hóa bên kia sông lại đem tới cho y một nụ cười kín đáo lặng lẽ và một chút ánh tươi rọi nơi giam cầm ủ rũ.

Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gở giữa cảnh lao tù.



HỔ !



Co ro trong chiếc áo tơi dài, mũ nhọn trùm đầu. Bảy hai đứng canh trên chòi cao, nép mình sau cái cột bương để cố tránh luồng gió bấc thổi đến từng cơn. Y vừa ở trong chăn ra thay phiên gác một giờ. Mắt y ngủ còn giở giấc chỉ muốn nhíu lại. Đêm hôm trước, y đã thức suốt sáng đánh bạc ở bên phố Trào. Cả ngày hôm nay, ông đội Giới lại cắt y vào việc cưa củi ở trong đồn, nên y chỉ chợp được có nửa tiếng đồng hồ vào khoảng giữa trưa, « Giá nó để mình coi tù đi làm cỏ như mọi hôm thì làm gì minh không đánh được hai giấc ngon lành!» Y nghĩ đến cái ổ kín đáo, khuất gió, ấm áp, ở giữa khóm xim dại mà y lại oán lão đội. «Hừ! thằng cha nó thù mình vì cái tiếng bạc ngửa từ tối hôm nọ! » và Bảy-hai vui thú cười lên tiếng. Y như còn trông thấy cái cảnh tượng mở bát chạy làng hôm ấy của đội Giới, mà y đã làm mất thể diện trước mặt dân phố. «Hèn chi mà nó chẳng để tâm thù vặt! »

Đã hai lần Bảy-hai đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên đồn. Y chỉ muốn nằm xuống mộc lát cho đỡ mỏi mệt, nhưng y lại sợ ngủ thìếp đi mắt. Y tự nhủ: «Đêm hôm nay mà mình bỏ một tiếng mõ thì cứ là chết với nó. Thế nào nó chả thức ngồi chờ kết quả! Không, nhất định không chịu để nó phạt!» Y can đảm lấy gân, cứng bắp thịt lại, thò đầu ra hẳn ngoài bức phên nứa vây che bốn mặt chòi và chỉ cao tới ngực người lính gác. Luồng gió lạnh làm cho y đỡ buồn ngủ. Nhưng chỉ được dăm phút, rồi mắt y lại nhắm nghiền, và y như nghe thấy tiếng ngáy của mình. Cái thói ngủ đứng đã quen thuộc với y lắm; nhiều khi đưa tù xuống đồi làm việc, y cũng vừa đi vừa chập chờn được.

Chợt nhớ đến cái mưu vẫn thì thố, y hướng vào trại cất tiếng gọi:

- « Tài! Tài!» Mọi lần khi biết chắc không sao tránh được cái giấc ngủ có tội, y đã nhờ Tài giúp việc này; là hể không nghe thấy tiếng mõ của y đáp lại tiếng khánh thứ hai thì nhặt một viên gạch mà ném lên chòi để đánh thức y dậy. Như thế, y có thể bình tĩnh mà ngủ được để cứ mười lăm phút lại thức giấc đánh mõ. Nhưng lần này y gọi mãi mà vẫn không thấy có tiếng Tài trả lời.

- « Rét thế này, anh chàng nằm ngủ chăn trùm kín đầu thì còn biết giời đất gì nữa!» Gọi một tên khác, lại một tên khác, vẫn không ai thưa.

« Liều! Y nghĩ thầm, có bị phạt nữa thì đã chết đâu. Hãy làm một giấc cho thỏa vong linh đã!» Và y định ngả lưng xuống cái ổ rơm mà y đã ngầm giải từ lâu. Nhưng lòng tự ái của y phản kháng lại liền: « Không! không thể thế được. Bị phạt vẫn biết chẵng sao, nhưng bị lão đội Giới phạt để trả thù thì nhục lắm. Đã có được nửa giờ rồi làm gì không có nốt được một giờ rưỡi nữa!» Y quả quyết trong ý chí, và lại đưa cả nửa người ra phía ngoài để tắm thể chất và tinh thần trong sương đêm giá buốt.

Bổng y rùng rợn quay lại, một tia sáng lạnh vừa chiếu xiên qua vai. Đó là trăng hạ tuần mời mọc, lơ lửng trên nóc đồi bình phong, và nhợt nhạt, ủ rũ, mệt mỏi như tâm hồn mệt mỏi của y. Dưới làn ánh sáng lờ mờ, con sông Vành lấp lánh hiện ra từng khúc, và những lùm cây trên sườn đồi in rõ hình đen. Y lưu ý ngắm cảnh vật để cố quên cái giấc ngủ vẫn luôn luôn ám ảnh.

Một lần chợp đi trong vài phút, y giật mình choàng thức dậy. Tâm linh y như vừa báo cho trực giác y biết sắp xảy ra một sự gì kinh dị huyền bí. Và y chú ý nhìn xuống chân đồi. «Ta mê ngủ à?» Y nghĩ thầm đưa tay lên dụi mắt, và nhìn kỹ lại. Không, y không mê ngủ, quả thực một lùm cây đương từ phía ruộng thắp theo giốc đồi thong thả tiến đến phía y. Y nghĩ tiếp liên: « Không, không phải cây. Một con vật... con bò...Cũng không phải bò... Hay là ma?» Cái ý ma làm y mềm cả chân tay, và ngừng cả tư tưởng. Vùng này đã nổi tiếng là xứ ma thiêng nước độc và những chuyện ma hiện hồn trêu lính canh đêm không phải là ít.

Cái vật đen vẫn thong thả, êm lặng tiến.Thỉnh thoảng một tiếng răng rắc cành khô gẫy lại báo cho Bảy-hai biết rằng đó không phải là một cái bóng mà đó là một vật có hình có chất.

Đến lưng chừng đồi, nó dừng lại một phút rồi rẽ sang phía Nam, khuất sau hàng giậu nứa. Tự nhiên Bảy-hai thấy vững dạ và như thoát khỏi một tai nạn, tuy vẫn chưa biết rõ đó là con vật gì hay là ma quỷ. Bỗng một lát sau, tiếng lao xao se sẽ trên con đường cát sỏi vòng quanh trại giam khiến y cứ nhìn xuống. Y toan kêu thét lên. Nhưng tiếng kêu mắc lại ở cổ họng và miệng y há hốc, mắt y mở to, chân tay y không nhúc nhích: Chỉ cách chòi y chừng vài chục thước, một con hổ to lớn, lực lưỡng đương ung dung nhẹ nhàng đặt từng bước và tiến về phía y. Mặt nó cúi xuống nhìn đất và luôn luôn nó hướng vào trại hít mạnh đánh hơi. Có lúc nó tò mò ghé gần mắt vào hàng giây thép gai chắng ở hai bên lối đi và dừng lại vài giây như để mưu tính một kế hoạch gì.

Bảy-hii im thin thít và không cử động. Hồn vía y như đã tán loạn hay trốn biệt nơi nào và y chỉ còn như cái xác với những trực giác quan thụ động. Nhưng dần dần y hoàn hồn và cảm thấy lo lắng sợ hãi. Y nghe rõ tiếng thở mạnh của y, mà y cố kìm lại, nhìn hắn. Và vì thế y thấy đêm khuya, càng mênh mông, tiếng gió khô khan càng rít mạnh, và âm nhạc hàng sáo nứa càng thê thảm, rùng rợn.

Con mãnh thú vẫn chậm rải bước lại gần, dáng bộ suy nghĩ, nghe ngóng, tìm tòi. Khi tới chân thang chòi, nó dừng lại một lát rồi uể oải nằm xuống, mũi không rời phía trại giam, Bảy-hai đã bắt đầu luận lý có trật tự. Y hết sức giữ gìn, không cựa cạy, yên trí rằng chỉ một tiếng cạch, cũng đủ vang lên trong đêm vắng và làm cho con hổ giật

mình vùng dậy, chồm lên đạp đổ mấy cái cột bương chân chòi cao ngất nghểu. Vì quá lưu ý, y tưởng tượng cái chòi lảo đảo, lắc lư, mỗi khi có luồng gió mạnh.

Nhưng một lát sau, y thấy mắt quen đi, tim trấn tĩnh lại và trí sáng suốt hơn. Và y nhớ đến cây súng cầm trong tay, nghỉ đến bắn vào đầu con vật một phát. Y dương súng ngắm, ngón tay đặt vào cò, run run, do dự không dám bấm tuy đã chợt nhận ra rằng chưa kéo « qui-lát » để đẩy đạn lên nòng. Rồi y lại rón rén chống súng xuống, mắt gián vào cái khối đen ở ngay dưới chân và cách y không đầy mười thước. Câu chuyện huyền bí về hổ mà một người lính Thổ đã kể cho y nghe như vụt hiện ra và lần lần tự bày ra trước mắt y. Y tưởng trông thấy người đi săn tự buộc thân vào cành cây cao, chĩa súng bắn xuống con vật thần, rồi nước ở đâu té vọt lên như mưa làm cho kẻ xúc phạm mờ cả mắt không nhìn thấy gì nữa trong khi ấy thì con hổ nói thành tiếng người mà mắng nhiếc ầm ỹ: « Mày định giết ông mày, mày định giết cha mày à?» Câu chuyện đã làm cho Bảy-hai và anh em trong hàng đội cười lăn cười lóc. Nhưng lần này ôn lại, y không dám cười nữa dù chỉ mỉm cười thầm. Ngắm nghía cái hàm oai nghiêm, hai chân trước duỗi ra bệ vệ, cái đuôi hách dịch đập bên sườn, y cảm thấy tôn kính, khiếp sợ tràn ngập trong lòng và không còn ngờ vực một sự hoang đường gì về cái sức mạnh phi thường ấy.

Bây giờ y đã hoàn hồn hẳn, và mũi y đã ngửi thấy mùi hôi nồng như mùi phân bò ú. Hắn lợn giọng và chỉ chực nhổ bọt nhưng vẫn cố giữ lại được. Y tự nhủ: « Nó mà nghe tháy tiếng nhổ tất sẽ ngửng đầu nhìn lên. Và nếu nó biết trên này có người thì nó rất có thể rung chuyển cái chòi ọp ẹp này để mình rơi xuống mà ăn thịt. Các ngài mà bụng đói thì phải biết các ngài liều » Ý nghĩ ấy lại càng làm cho Bảy-hai lo lắng, mắt bình tĩnh. Nhưng chỉ trong vài phút. Rồi những câu chuyện hiền lành về hổ dần dần nhớ lại khiến y trở nên vững tâm và can đảm nữa. Theo lời nhiều người Mường y quen biết thì con hổ chỉ là một con chó lớn nhút nhát và không dám gần người: Nó cũng giống như loài chó, hể chạy thì đuổi, hể sấn lại thì nó lùi. Điều nhận xét ấy đã được chứng thực: cách đây mới chừng một tháng, một con hổ - có lẽ chính con này cũng chưa biết chừng- đến rình ở sân nhà ông giáo Quý bên phố. Nửa đêm bà giáo thức giấc, dậy ra hiên trông thấy nó và sợ hãi chết ngất đi. Nnưng con hổ cũng sợ hãi chạy trốn.

«Phải, cái giống này chỉ chống lại người khi nào người định giết nó» Bảy- hai nghĩ thế và lấy làm mừng rằng ban nẫy đã không lên đạn bắn nó. Bắn mà trượt hoặc làm nó bị thương thì cứ mà chết với nó thôi. Trong lúc hồi hộp mình có thể run tay bắn chệch đích. Có phải bắn bia đâu mà bình tĩnh ngắm kỹ được!» Ý nghĩ bắn bia làm y mỉm cười quên bẵng con hổ để nhờ đến anh Mười - bốn kỳ vừa rồi, bắn tám phát không những không trúng đích mà không trúng cả cái liếp mang đích...

Y giật mình như chợt tĩnh một giấc chiêm bao: Tiếng khánh sắt bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vừa đánh thức y dậy, kéo y về với thực tế, với nhiệm vụ, với bổn phận. Thì ra mới qua chưa đầy mười lăm phút thế mà y tưởng đã sống trong hàng giờ dài đằng đẵng. Y vội cằm dùi dơ lên nhưng lại rón rén đặt xuống không dám đánh. Tiếng khánh và tiếng mõ nhắc lại một lần nữa. Y vẫn im lìm không đáp lại.

«Được, mai ta sẽ trình vì sao thiếu tiếng mõ ở chòi này. Mà có bị phạt nữa thì đã sao! »

Một lác sau, ở truớc cổng đồn, một tia ánh sáng thoáng rạch một vệt dài lên tấm sương đêm. Bảy -hai mỉm cười nghĩ thầm:« Đích đèn pin của lão đội rồi! Được cứ đến đây mà bắt... hổ! » Thực vậy, đội Giới vẫn thức để rình. Khi thấy thiếu tiếng mõ ở chòi gác Đông Bắc trại giam, y đoán ngay rằng Bảy-hai đã ngủ. Y liền sang đi « rông » để bắt quả tang kẻ thù phạm tội.

Ánh sáng kín đáo lập lòe, khi chúc xuống đất, khi vọt lên trời, thong thả tiến lại gần trại giam. Bảy-hai cúi xuống nhìn. Con hổ vẫn nằm yên một chổ, không nhúc nhích. Y bắt đầu lo sợ cho tính mạng người kia. Mối thù, y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây nên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên. Y không luận lý nữa, không cân nhắc nữa, chỉ tìm cách cứu sống một con người, thoát khỏi nanh vuốt một con vật. Ánh sáng đã xuống hết giốc và sắp rẽ vào con đường vòng quanh trại, để đi thẳng tới chòi canh của y. Ở chân thang, con hổ vẫn nằm im, đuôi se sẽ đập sườn như báo cho biết rằng nó không ngủ vì có lẽ đã sửa soạn để vồ cái mồi ngon lành đương tiến lại gần. Bị hàng giậu nứa cao che khuất. Bảy-hai không nhìn thấy lửa sáng đèn bấm nữa, nhưng y đã thoáng nghe rõ tiếng lạo xạo xa xa của bước chân trên sỏi và cát. Chỉ vài phút nữa… Y hoảng hốt vội thét:

- Đứng lại! có hổ đấy!

Rồi vừa rướn mình nhìn qua ngọn hàng rào nứa, y vừa tiếp luôn:

- Có Hổ! Hổ!Hổ!

Lúc cúi nhìn xuống thì con hổ đã biến đâu mất. Đằng xa tiếng chân chạy mau và nặng. Ngay lúc ấy, cả trại giam xôn xao huyên náo..

- Cái gl thế!

- Hổ! lời đáp của Bảy-hai từ trên chồi ném xuống,

- Hổ à! Hổ các anh ạ!

- Hổ đâu? - Nó đâu!

Anh em nhốn nháo chạy cả ra sân, lại gần chổ canh góc Đông Bắc.

- Có hổ thực à Bảy- hai? Tài hỏi, vì đã nhận được tiếng người lính quen. -

- Lại chà thực!

- Nó đâu?

- Nó đi rồi! Nó nằm gần nửa tiếng đồng hồ ở ngay chân thang

- Nó rình bắt lợn của căng rồi, vì chổ ấy sát ngay bên chuồng lợn.

- Thế sao không bắn? Súng không có đạn à?

- Có nhưng không dám bắn vì sợ tiếng nổ làm náo động cả trại bị tù thì có mà bỏ mẹ!

- Bị gì thì bị chứ mấy khi gặp mồi ngon thế, mà đi bỏ lỡ. Rõ đáng tiếc!

- Tiếc à I Cu cậu sợ co rúm cả chân tay lại rồi còn bắn với biếc gì,

Câu khôi hài của Hải làm ai nấy phá lên cười và Bảy- hai đáp lại tức tối:

- Xừ nào sỏ siên moa thế hử?

- Không phải tôi sỏ siên anh đâu, anh Bảy- hai ạ. Nhưng sự thực là thế. Tôi đi bắn đã nhiều, giết có tới vài chục hươu nai mà tôi cũng xin thú thực rằng giá có gặp hổ vị tất tôi đã dám bắn. Nói vụng cac ngài chứ các ngài oai linh lắm! Đến rào vườn Bách thú nhìn các ngài đi đi. lại lại trong chuồng, cũng đã thấy rờn rợn rồi còn nói chi bắn ngài nữa.

Ai nấy lại cất tiếng cười, và lần này cả Bảy- hai cũng góp vui.

- Thực thế đấy, các anh ạ, Hải kể tiếp. Tôi có người bạn ngồi rình hổ ở trong một gian nhà, qua cái cửa sổ có chắn song sắt kiên cố. Lúc hổ đến anh ta dương súng ngắm bắn, nhưng thấy nó đi đi lại lại oai nghiêm dưới ánh trăng mờ, anh ta sợ hãi mướt mồ hôi, rồi ngất đi, đái cả ra quần.Tỉnh dậy thì con hổ đã đi mất. Các anh thấy chưa, ở trong một nơi vững chắc như thế, và dù có bắn hụt cũng không nguy đến tính mạng thế mà còn không đủ can đảm mổ cò đấy, huống hồ là đứng trên cái chòi mỏng mảnh, ọp ẹp kia.

Cười lại nối, làm ầm ỹ cả đêm khuya thanh vắng và giá lạnh.

- Ông đội có vào trong căng không, các anh?

- Không. Sao? Anh em ngơ ngác không hiểu vì sao Bảy-hai lại hỏi một câu lạ lùng như thế.

Nhưng Bảy Hai chỉ đáp lại sự ngơ ngác của anh em bằng một nụ cười bất tuyệt.



TÂY XÔNG NHÀ



Tết năm 1930 ở Ninh Giang, tôi đã được Tây xông nhà.

Người Tây đó tên là Heineshilk- ấy là tôi theo vần đọc mà viết ra, chứ tôi cũng chưa trông thấy tên hắn trên giấy bao giờ. Theo lời đồn, hắn là một người Áo can án tử hình bỏ trốn sang nước Pháp xin đăng lính « Lê dương » đi Maroc dự chiến. Mãn hạn hắn nhập Pháp tịch và được bổ đi có một đòn lính khố xanh.

Nếu muốn tìm một kiểu mẫu tiểu nhân, thì hắn thực là một người hoàn toàn. Đối với dân gian, hắn hống hách, đàn áp, bóc lột, chuyên chế như một ông vua chuyên chế. Trái lại, đối với ông Sứ hay ông Giám binh thì hắn quỵ lụy, nịnh nọt, đút lót, trung thành như một tên mọi trung thành với chủ. Nhờ đó mà hắn thăng chức rất nhanh chóng và được đổi về đòn quan trọng này, kiêm chức quyền đại lý Ninh giang.

Quan đại! Hắn sung sướng khi nghe người ta chào mình bằng hai tiếng Việt Nam ấy. Có việc gì vào tòa mà kêu hắn là Monsieur le Délégué thì thế nào cũng xong tuy nếu việc phải mất tiền thì vẫn mất tiền như thường.

Vô phúc cho ai không biết, đi kêu đúng chức hắn “Monsieur le chef de poste’’ hay tôn hắn lên « Monsieur L’lnspecteur » nữa!Một là hắn im lặng không đáp, rồi sau này tìm cơ hội báo thù. Hai là hắn hét đinh lên làm mình mất thể diện trước mặt mấy viên thư ký của hắn.

Về chữ Đức hắn học đến bực nào tôi không rõ. Nhưng về chữ Pháp thì tôi đã may mắn được đọc văn của hắn.

Vào dịp khánh thành nhà thương mới, ông Y sĩ ở Ninh giang chẳng hiểu vì lười hay vì cớ gì, có nhờ tôi thảo hộ bài diễn văn. Bài diễn văn ấy phải đem trình «quan đại » để ngài kiêm duyệt. Vì thế mà tôi đã được đọc một đoạn hắn thêm vào. Đó là những lời tán tụng quan chánh sứ, quan phó sứ, quan lục lộ v.v...mà tôi đã vô tình bỏ rơi. Tôi đây tôi lại vô tình mỉm cười khi xem thấy văn pháp lính tây của quan đại. Nói chi những chữ viết sai, đến những mẹo mực thông thường sơ cắp nhất quan cũng «măng phú »,

Cái mỉm cười ấy và lời khen kín đáo của tôi được hân hạnh lọt tai quan. Và phải biết! Cái tức giận, cái căm thù của quân dốt, nhất quân dốt ấy lại là môt quan «cai trị », một quan đại lý hách dịch, oai quyền như một vua con. Cái căm thù ấy càng cố nén lâu bao nhiêu thì khi bừng ra càng mãnh liệt bấy nhiêu.

Ai đã đọc tập truyện ngắn của Daudet hẳn thấy cái móng bò của con La dữ dội đến bực nào, sau bảy năm sửa soạn để chờ ngày thi hành..

Viên đại lý của tôi không kiên gan bằng con La. Hắn chỉ chờ đến hôm mồng một Tết nguyên đán để đem ra thi hành cái móng bò của hắn. Nhưng dù thế cái móng bò của hắn vẫn chẳng kém cái móng bò của con La về phần mãnh liệt cũng như về phần hiểm hóc.

Tối hôm mồng một Tết ấy, giữa lúc chúng tôi đương xum họp vui cười xung quanh bàn bất gia đình thì một người lính cảnh sát lên gác nói cho chúng tôi biết có « quan. đại» đến.

Quan đại đến? Tôi kinh ngạc tự hỏi: «Đến chúc Tết mình chăng? » Tôi thừa biết hắn ta chẳng ưa gì tôi, tôi lại nhớ vẻ mặt hằn học của hắn khi hắn liếc nhìn tôi. Nhưng gặp nhau ngoài đường đôi bên vẫn tươi cười chào nhau như hai người bạn sơ «Bonjour monsieur le délégué! » « Bonjouur monsieur G!» Vậy thì hắn có thể nhân dịp Tết Nguyên Đán đến chúc mừng mình lắm, cũng như vào dịp Tết Tây dân phố đến chúc mừng hắn vậy.

« Mà hắn đến chơi mình vào giờ này (9 giờ tối) có lẽ để đôi bên hàng phố khỏi thấy sự hạ mình của hắn đi chúc Tết một người Việt Nam? »

Tôi chưa kịp nghĩ dài thêm đã bừng tỉnh ngộ. Vì người lính chờ mãi không thấy tôi trả lời liền tiếp:

- Thưa ông, quan nói nếu ông không bằng lòng để quan khám ngay tối hôm nay thì sáng mai quan đến sớm cũng được.

Chết chưa! Thì ra quan đến khám nhà! Mà lại khám nhà vào giữa hôm mồng một Tết! Các bạn của tôi đã thấy cái móng bò của « quan đại tôi » hiểm độc thế nào chưa? Chừng ngài biết - hoặc có kẻ xui ngài điều ấy - ngày đầu năm người Việt Nam mình sợ rông, không muốn một sự không may gì xảy ra. Mà sự khám nhà thì cố nhiên là một sự không may rồi! Các bạn hẳn cho rằng tôi tức uất lên phải không? Không, tôi chỉ tức cười thôi, và quả nhiên tôi phá lên cười vui vẻ mà trả lời người lính cảnh sát:

- Ai lại đi làm phiền quan phải trở lại một lần nữa như thế.. Ông xuống mời quan lên cho, để tôi ở trên nầy sửa soạn đón tiếp ngài.

Trong khi người lính bước xuống thang gác, các em gái tôi cuống quít, toan thu xếp bài lại. Tôi vội ngăn cản:

- Không! Cứ để y nguyên! Thu dọn đi, nó sẽ cho rằng mình sợ cái oai nó. Thế nào người lính cảnh sát chẳng báo cho nó biết chúng mình đương rút bất.

Một lát sau, lão đại lý, trong bộ trào phục đầy kim tuyến, cao lớn, sừng sững hiện ra trước ánh đèn măng xông. Theo sau hắn là viên tri phủ Ninh giang với cái bài ngà chức tước vừa tô son lại lủng lẳng trước ngực. Theo sau viên tri phủ là viên thông ngôn tòa đại lý, cặp mắt hấp háy chớp trong đôi mục kính cận thị. Theo sau viên thông ngôn,Ià hai viên cảnh sát với cái bao súng lục oai nghiêm đeo bên sườn.

Lão đại lý tươi cười đáp lại cái chào của tôi và hỏi:

- Tôi đến khám nhà ông vào giờ này là trái pháp luật, vì thế tôi đã cho hỏi xem ông có bằng lòng không đã rồi mới lên. Nhưng ông nên hiểu cho rằng tôi làm thế là vì có lòng tốt đối với ông. Vào giờ này dân phố đều đã ngủ cả không ai biết nhà ông bị khám. Chứ giữa ban ngày thì người ta xúm lại bàn tán và như thế ông sẽ mất thề diện nhiều lắm.

Tôi mỉm cười cảm ơn cái nhã ý của quan đại... và quan phủ, tôi nói thêm và quay lại nhìn cái ông quan có vẻ mặt lạnh lùng, bình thản như không từng quen biết tôi dù chủ nhật nào ông ta cũng mời tôi vào phủ đánh tổ tôm với «cụ cố».

- Chà các người đánh bạc! Ông đại bắt đầu.

- Phải, đó là một bàn bạc gia đình để mua vui trong dịp Tết. Đây xin giới thiệu ông T. em giai tôi, ông M. cũng em giai tôi, ông B. em rể tôi.Còn đây bà T. bà M. bà B. và vợ tôi.

Tôi gắng hết sức để giữ bình tĩnh nhưng tôi vẫn tự thấy tôi làm sao ấy. Các bạn cũng hiểu cho rằng khi người ta cố nén lòng căm tức thì người ta khó mà tự chủ được cử chỉ ngôn ngữ của mình.

- Thôi cũng được, ông đại tiếp, nhưng bắt đầu từ ngày kia mà đánh bạc thì sẽ bị bắt giam.

Rứt lời, hắn quay sang hất hàm hỏi ông phủ:

- Có phải thế không quan phủ?

- Bẩm chính thế, thưa quan đại.

- Bây giờ thì chúng ta đi làm bổn phận của chúng ta.

Việc bổn phận của họ là rút hết ngăn kéo ra, mở hết các tủ ra, lục tung hết các sách vở, quần áo vứt tung ra đầy sàn gác. Khi vớ được mấy tập ảnh của tôi, mặt lão đại lý sáng rực lên sau đôi kính cặp mũi:

- À! tôi biết, ông là một nghệ sĩ về nhiếp ảnh. Hẳn ông có đủ các ảnh kỷ niệm gia đình.

Vừa nói, hắn vừa mở, vừa chăm chú tìm tòi. Rồi hắn thì thầm hỏi ông phủ:

- Ông có biết mặt nó không?

- Thưa không.

Lão đại lý lắ đầu chán nản. Bổng hắn quay phắt về phía tôi sừng sộ:

- Ông biết tôi tìm ảnh ai không?

- Không, tôi biết sao được.

- Thôi ông đừng vờ. Ảnh tên C... đâu, ông phải trở ngay cho tôi biết nếu không tôi sẽ có cách.

Tôi thừa hiểu bọn thực dân đương đi lùng kiếmảnh của C... một nhà cách mạng quan trọng, người vùng này. Nhưng tôi cũng hỏi:

- C…nào thế, thưa quan đại?

- C…nào? Ông muốn biết C. nào à? C... trưởng ban ám sát của cái đảng mà ông rất quen thuộc. Không những tôi biết ông có ảnh của C... mà tôi còn mới được tin hắn trốn về đây ăn tết với ông nữa kia.

- Vậy xin ông cứ lục lọi khám xét thực kỹ có hay không thì ông sẽ rõ.

- Ông nói lý với tôi, phải không? Ông nên biết những ý tưởng bài pháp, chống quan lại của ông chỉ sẻ đưa tai hại đến cho ông. Rồi ông sẽ thấy.

Tôi đã thấy. Tôi đã thấy rằng trả tời hắn chỉ là một việc mất thì giờ vô ích, mà lại thêm khó chịu cho mình và cả cho hắn. Từ đấy tôi chỉ lạnh lùng im lặng đứng chứng kiến việc lục lọi khám xét hoặc mở khóa rương nọ, ngăn kia. Trong khi ấy thì M. miệng ngậm cái « pipe » thuốc lá to tướng, thản nhiên đi đi lại lại trong căn phòng như con hổ trong cũi sắt trên vườn bách thảo.

Mãi đến 12 giờ khuya việc khám nhà mới xong. Bọn «nhà nước » ra đi, để lại cho chúng tôi mấy gian phòng tung tóe, bừa bộn như vừa bị giặc cướp đến phá phách.

Mấy anh em chị em lặng lẽ nhìn nhau. Bỗng tôi phá lên cười bảo vợ tôi:

- Thôi năm nay thì tha hồ mà rông! Và ai nấy đều vui vẻ cười theo. Em gái tôi trách tôi:

- Ai bảo anh cứ trêu tức nó, khiêu khích nó vào.

Có chăng từ hôm ấy mới bắt đầu một chương trình khiêu khích của tôi. Tự nhiên tôi trở nên một nhà viết báo để thỉnh thoảng gởi bài đăng chơi trên báo Annam Nouveau hay Trung Bắc Tân Văn. Trong những bài vớ vẩn ấy tôi không hề đá động tới lão đại, nhưng mỗi lần thân ra nhà Bưu chính gửi thư, tôi lại vui sướng và hóm hỉnh nhìn đùa lão chủ sư để nghĩ thầm: «Thế nào chốc nữa thầy trò chúng mày chẳng mở thư của tao ra xem trước! »

Và cũng từ hôm ấy dân phố Ninh Giang nghiễm nhiên thấy tôi trở nên tay kình địch ghê gớm của « quan đại». Cuối năm ấy tôi bỏ nghề luôn để theo nghề văn. Các bạn đã thấy sự khám nhà đầu năm rông đến bực nào và cái móng bò của một con La thuộc địa có công hiệu phá hoại đến bực nào chưa?



QUAN CÔNG SỨ


Ngày vui nhất ở trại giam Vụ bản là ngày phát thư, mỗi tuần lễ một lần. Cái vui âm ỹ, huyên náo, công cộng chứ không phải cái vui kín đáo âm thầm, riêng biệt của những kẻ xa nhà nhận được tin tức những người thân thích.

Người lính trạm, lưng đeo cái túi vàng bao giờ cũng được anh em chào mừng bằng một tiếng hoan hô, trong khi y leo con đường giốc lên đồn, qua hai quả đồi cỏ tranh có anh em làm việc. Mấy người mắc bệnh tê, lưu lại trong trại ngồi phơi nắng trên mặt bể, vội đứng dậy rướn nhìn qua ngọn rào nứa nhọn, mỉm cười, Bắt đầu từ giờ ấy, hơn trăm trái tim hồi hộp mong chờ …

Tiếp đến giờ nghỉ, anh em về trại giam, quên cả rửa mặt, rửa tay, ai nấy đăm đăm nhìn sang phía cổng đồn.

- À! Kia rồi!

Đó là lão đồn già và ông quản sang điểm lại số tù nhân, và cố nhiên mang cả thư sang phát. Ông già cao lớn lực lưỡng tóc bạc và tơ dựng lên trước gió, mỉm cười ranh mãnh nhìn khắp mọi người, trong khi ông qnản thân hình lủn mủn, giơ ngón tay trỏ lẩm nhẩm đếm.

- Com-bờ-lê, me-sừ sếp-đờ-pôt.

Tức thì « Me-sừ sếp-đờ-pôt » mở cái cặp bìa ra gọi tên hay gọi sẽ từng người có thư, để đưa cho một hoặc hai cái phong bì đã mở. Mỗi khi gặp có lời chú thích phê trên phong bì, y đều không quên bình lên cho anh em cùng nghe để mà cùng cười: «Kiểm duyệt một trang, vì gia nhân đã đụng chạm tới tình hình Hà nội». « Số... sẽ phải bảo người nhà không được viết dài quá ». « Vợ số... làm gì mà gửi cho chồng những ba cái thư một lúc. Đi gửi trả lại một cái..v..v »

Những lời phê ấy toàn là thủ bút của ông Công sứ Hoa - bình tự kiểm duyệt lấy tất cả thư tín vãng lai giữa, bọn tù chính trị Vụ-bản và những thân thích bạn bè của họ. Ở ngoài phong bì, lời văn còn bình thường, chứ ở ngay trong thư thì mới thực là những công trình văn chương kiệt tác về phương diện triết lý nghiêm trang cũng như về phương diện khôi hài trào phúng. Người ta cho biết rằng bao giờ « quan» cũng kiểm duyệt thư từ vì đêm trong khi quan nằm mơ mộng bên cạnh cái khay đèn thuốc phiện. Thực vậy, phải có tinh thần sáng suốt của một đồ đệ ả Phù-dung mới nghĩ ra được những lời cẩm tú.

Chính vì thế mà cái vai nhận thư nhà bao giờ cũng ầm ỹ, huyên náo; Anh em đem những lời «quan» phê ra phô nhau để mà cùng cười.

- Nghe đâu hắn là một người Tây lai.

- Không, hắn lai có một phần ba Việt Nam, vì, bố hắn là « Pháp chính tống » chỉ mẹ hắn lai thôi.

- Thế thì một phần tư chứ một phần ba Việt Nam thế nào đvrợc.

- Một nửa, một phần ba, hay một phân tư thì cũng là lai, chứ còn là gì nữa..

- Tôi muốn gặp thằng cha ấy quá, để xem mặt mũi nó thế nào mà nó láu cá láu tôm, nghịch ngợm đến thế.

Anh em đến Vụ bản được hơn một tháng rồi mà y vẫn chưa về, tuy đã ba lần lão đồn già báo cáo cái tin quan công - sứ sắp tới thăm trại giam, khiến lá đơn thảo ra để yêu sách điều nọ điều kia nằm ẹp mãi trong cái cặp da của anh trật tự. Sự mong mỏi đã làm sốt ruột nhiều người, và họ đã thốt những lời nguyền rủa, oán trách. Nhưng trong khi ấy thì thư tín vẫn đều đều tới đúng kỳ hạn và vẫn kèm thêm những lời phê phán, soi mói, có duyên.

- Thằng cha ý chừng là một văn sĩ trào phúng các anh ạ.

Tài cười ngặt nghẹo, đưa ra phô một cuốn tiểu thuyết chữ Pháp mà y vừa nhận được với một câu Pháp văn an ủi để trên đầu sách của người bạn Hà thành gửi tặng. Câu văn cầu kỳ và kém cõi ấy được tăng giá trị và khiến người ta lưu ý do một chữ «lu » vắn tắt, dưới ký tên người phê, với giòng chức tước « công sứ nước Pháp tại Hòa-bình » Và Tài, giải thích, Tài, mà lão đồn già mệnh danh là « nhà triết học số một », và yên trí rằng trong đầu óc chứa đầy những tư tưởng nguy hiểm cho nền thống trị thực dân:

- Nó chửi chữ đấy, các anh ạ. Nó để thế là nó muốn bảo thầm ông bạn tôi rằng nó đã đọc kỹ cái dốt và cái ngông của người tặng sách. Thằng cha này bất trị!

Tiếng cười thét lên ồn ào. Ở cái nơi thiếu tự do ấy, người ta rất thích có những ngôn ngữ cử chỉ tự do. Và người ta xúm nhau lại đem cái anh chàng tặng sách ra làm thịt:

- Thì sao không dùng ngay chữ Việt mà lại đi viết chữ Pháp để nó chế diễu vào mặt cho.

- Rõ sính chữ mà lại sính chữ không ra hồn!

- Đọc xong tiểu thuyết, gửi trả về cho nó xem!

Ai nấy lồng lên để nói một câu ác nghiệt cho hạ đôi chút cái khổ bị giam cầm. Họ như lúc nào cũng chỉ chờ dịp để được trút cái giận, cái tức lên một cái gì.

Từ đó người ta lại càng nóng lòng muốn gặp mặt nhà kiểm duyệt phê bình thư tín,

Rồi khi không ai nghĩ đến y nữa thì bỗng một hôm y về, về bất thình lình không báo trước, mà cũng không một ai ở trại giam biết y về lúc nào, vì không thấy cờ ô tô lên dốc đồn.

Buổi chiều, trước giờ kèn nghĩ việc, anh em đã được về trại để đón tiếp quan Công sứ. Có người ngơ ngác hỏi:

- Ông ta về lúc nào?

Một người lính đáp:

- Cụ lớn về lúc mười một giờ nhưng ô tô phóng thẳng tới dinh quan Châu,

- Sao lại không đến đón trước nhỉ?

- Đến Châu để còn hút chứ!

- Nghe đâu ông ta cũng không ưa gì lão đồn già.

Lại được một dịp cho dân trại giam bàn tán. Nhưng họ cũng sửa soạn cuộc đón tiếp cho được long trọng: Quét qua cái nhà, xếp lại đống củi, vất gọn cái màn. Rồi sau khi thay mặc những bộ quần áo sạch sẽ, tươm tất, họ ra đứng xếp hàng ở sân.

Một nửa giờ mong đợi. Một tiếng hô ở cổng. Tiếng rít hãm máy xe. Rồi cổng trại mở. Im lặng, mặt đỏ gay miệng mỉm cười, quan công sứ tiến vào, theo sau là lão đồn già, ông Tri châu, ông bác sĩ và ông thương tá Hòa bình. Đó là một người trung bình đối với dân bản xứ nhưng bé nhỏ đối với các quý quan. Đôi mắt lờ lờ xanh, cặp môi mỏng dính và cái mũi rất lõ thuộc giòng cha, nhưng mớ tóc dẹp hung hung đen thì không thề không Việt Nam được.

Sau mấy lời giới thiệu của lão đồn già, anh trật tự tay cầm lá đơn tiến lên, đi lại gần ông chủ tỉnh. Bổng toàn thể anh em trong trại như bị một gáo nước lạnh dội vào gáy. Cái cử chỉ và lời nói thứ nhất của người Pháp lai đã cắt phứt ngay mối cảm tình gây ra bởi những Iời phê có duyên trong các lá thư. Y xòe bàn tay xua anh trật tự ra và vẻ mặt nghiêm khắc y nói:

- Anh nên biết rằng anh đương đứng trước mặt quan công sứ.

Câu nói trịnh trọng, Khanh thấy ngụ một ý nghĩa khôi hài, và y bấm người đứng bên cạnh mỉm cười thầm: « Hay hắn lại diễu cợt đùa bỡn bọn mình như hắn vẫn làm trong công việc kiểm duyệt phê bình thư? »

Nhưng không, hắn không bỡn cợt, vì hắn đã cất cao lời diễn thuyết:

- Hỡi các phu, các anh có biết không, các anh nhỏ mọn quá! Tôi là người thông minh hơn các anh, nhiều học vấn hơn các anh, lại con nhà quý phái hơn các anh nửa, tôi bảo cho các anh biết rằng các anh chỉ là những đứa trè nhỏ mọn.. » Bài diễn văn, trong nửa tiếng đồng hò, kéo dài một giọng gay gắt mỉa mai như thế để kết luận rằng:

« Toàn trại sẽ bị phạt nửa tháng không được gửi thư về nhà, vì trong khi quan công sứ đi dưới đường thấp có mấy kẻ đã dám ngồi vắt vẻo trên ngọn thang leo vô lễ nhìn xuống. »

Đọc xong bài diễn văn, ném xong cái lệnh phạt, viên cai trị quên cả bản yêu sách của trại giam, hầm hầm bỏ sang đồn, đem theo đoàn quan chức rầm rộ kéo đi.

Thoạt đầu, trại giam như thốt nhiên bị một làn không khí độc là xuống bao phủ. Ai nấy thẫn thờ ngồi im. Có nguời như lên cơn điên xé nát bức thư vừa viết ra: « Nó không cho phép gửi thì để làm gì. Chó thật!ngày mai là ngày thư!» Chính cái cử chỉ cáu kỉnh ấy đã làm anh em hết buồn và đồng thanh phá lên cười vui thú. Họ cười to quá, khiến chú canh cổng phải vào can thìệp: « Se sẽ chứ các ông, cụ lớn mà nghe thấy thì chết cả nút bây giờ ». Anh em đáp lại bằng dịp cười nửa. Và một người giọng như say rượu nhè nhè:

- Cụ lớn à? Cụ lớn anh lớn lắm đấy! Chúng tôi bé nhỏ bì sao kịp!

Lịnh lên giọng tây nhại đoạn diễn văn: «Các anh nhỏ mọn quá! Tôi thông minh hơn, nhiều học vấn hơn, lại con nhà quý phái hơn ».

Lại một dịp cười nữa. Trại giam trở nên tấp nập, ồn ào như một ngày hội. Và trong lúc người ta vui thú, người ta quên khuấy cái thất vọng chưa đạt được một yêu sách nào. Nhưng cuộc vui nào cũng có giới hạn và rồi người ta cũng nghĩ đến cái điều thắc mắc. Ý cái anh chàng đa nghi và nhát gan bao giờ cũng tìm ra một nguyên nhân tưởng tượng cho bất cứ một việc gì.

- Tôi đã bảo các anh rằng phải đem bản yêu sách trình ông đồn đã, các anh không nghe, quả nhiên nó xui xiểm lão sứ trị mình.

- Trị thế quái nào được mình!

- Rồi gửi thẳng bản yêu sách ấy cho sứ.

- Nếu không ăn thua thì hôm nào người nhà lên nhớ đem về Hà-nội gửi cho thằng sứ. Cho toàn quyền nữa ấy l

Một người thốt ra một câu trách móc:

- Chỉ tại mấy anh đi leo lên ngọn thang ngồi nhìn xuống nó.

- Ai đấy? Ai mà vô lý thế nhỉ?

Lịnh gắt:

- Ai thì việc cũng qua rồi. Nó đã muốn tìm cớ để ra oai với chúng mình thì chẳng có cớ ấy nó cũng có một cớ khác, Nguyên nhân việc này không phải ở cái thang mà ở chỗ khác, các anh có biết không: nó ngờ bọn mình tuyên truyền rủ rê đội, cai và binh lính ở đây.

Câu chuyện lại xoay chiều tới viên đội trẻ và những bữa rượu thơ trong rừng củi để rồi lại quay về cái thang leo.

- Anh Năm chuyến này thì đi Sơn-la! Nó hỏi ai làm cái thang ấy, tưởng nó khen nhận ngay lấy công thôi. Để nó mỉa mai cho.

Một người không hiểu tiếng Pháp hỏi:

- Nó mỉa thế nào đấy?

- Nó bảo anh này thích những cái cao rồi sẽ làm đến thượng thư đấy.

Anh em lại cười:

- Sao không trả lời nó rằng chỉ ao ước một chức be bé thôi. Chức Công sứ Hòa-bình chẳng hạn.

Đêm hôm ấy, sau khi bị nhốt trong ba gian phòng chật hẹp, anh em dong nến tụ họp từng nhóm nói chuyện rất khuya về ông Công sứ Hòa bình, mặc kèn tắt lửa và mặc những Iời đe dọa của người cai trại đi « rông ».

Theo Tài, người được toàn thể lính đồn quý mến và luôn luôn cho biết những tin quan trọng thì sở dĩ hôm nay lão Sứ bắn tính là vì hắn ta đương khó chịu với ông có đạo

về một chuyện kiện cáo thuốc sái gì đó. Anh em có ngay cảm tình với nhà tu hành ấy vì thấy là địch thủ đáng sợ của ông Sứ, Ai biết một bí mật gì về hai cừu nhân đều đem ra kể cho mọi người nghe. Rồi chẳng thèm giữ gìn như mọi tối khác, họ phá lên cười từng cơn.

- Một đoản thiên của Maugham, các anh ạ, Tài tuyên bố.

Và Khanh tiếp:

- Nhan đề là ông Công sứ và ông Cố đạo.

- Không, nhan đề là « Tôn giáo và Cai Trị. »

Lịnh chữa:

- Không, là ảnh hưởng khói thuốc phiện!

- Cũng chưa ổn, phải là một nhà cai trị khôi hài... Y lại gần thì thầm:

- Thằng cai gác là mật thám của Sứ đấy, các anh nên be bé cái mồm chứ.

Ai nấy giận dữ cự lại cái anh chẳng nhát như cáy ấy:

- Im ngay! Anh sợ nó thì đi ngủ!

- Nhưng các anh làm liên lụy đến cả trại…

Tiên, người chỉ hùng hổ những khi biết mình mạnh cánh, đe dọa một câu làm Y lảng ngay:

- Câm cái mồm! Không tao đánh bây giờ l

Câu chuyện tiếp tục đến quá nửa đêm trong làn không khí nặng nề đầy khói, vì để phản đối lại bọn cai trị bất công, anh trật tự tháo khoán một đêm nay và cho phép anh em hút thuốc lá thả cửa.

--&--

Sự xảy ra đặc biệt ấy làm hoạt động trại giam được mười hôm. Rồi người ta cũng quên nó đi, nhất cái lệnh phạt gửi thư lại được thu ngắn từ nửa tháng tới một tuần. Nhưng hình ảnh ông Công sứ thì không thể phai nhạt được trong ký ức mọi người, mỗi khi họ ngâm nga những lời phê trong thư vẫn đều đều và hóm hĩnh như trước,

Cách đó it lâu, trong khi không ai mong đợi, viên Công sứ lại về thăm trại, lần này cùng đi với vợ, một người đàn bà lai, bé nhỏ xinh sắn, vẻ mặt rất thông minh, và một thằng con bảy tám tuổi, đầu tóc chải mượt và quần áo bảnh bao. Cũng như lần trước, Y đi thẳng tới Châu để ăn cơm sáng ở đấy. Rồi mặt đỏ gay sắc rượu, Y cùng vợ con, và tùy tòng rầm rộ kéo sang trại giam. Một sự lạ!

Y thay đổi hẳn tính nết, rất nhũn nhặn chứ không kiêu căng nữa, lẩn thẩn thân mật nói chuyện với người nọ người kia và thốt ra những câu khôi hài vui vẻ làm ai nấy không nhịn cười được.

Tài ghé tai người đứng bên thì thầm: « Có lẽ nó điên! Hay vi ngài vừa chén say, hút no, nên ngài khoái. »

Điều đoán phỏng ấy bị cải chính ngay bằng sự trao thư từ và các gói quà kèm thêm một lời ân cần của viên công sứ:

- Nhân tiện tôi mang về cho các anh các thư này; tuy hôm nay chưa phải là ngày phát thư.

Thì ra hắn có lòng tốt từ trước khi say.

Nhưng đã hết đâu: Bất cứ một yêu sách gì vừa nêu ra là được chuẩn y ngay, khiến lão đồn già phải can thiệp phản đối nhiều lần.

Sau khi đoàn công chức ra đi, anh em reo mừng. Một anh lắc lư cái đầu, đọc câu sắm Trạng Trình « Bất chiến tự nhiên thành, các anh ạ!»

Đêm hôm ấy là đêm đầu tiên dân trại được ngủ mở cửa theo lời yêu sách và người ta dắt tay nhau đi chơi quanh sân rất khuya dưới ánh trăng thượng tuần để tán dương cái tính ngộ nghĩnh khó hiểu của một viên cai trị thuộc địa.

- Đó là kết quả của ảnh hưởng nước độc và thuốc phiện!

Câu phê bình ấy của Lịnh vẫn không giảng giải được sự thay đổi bất thình lình kia.

Cho tới một ngày gần đây, một tin dữ dội bay về với trại giam: Viên công sứ bị giáng, và đổi đi nhậm chức phó công sứ ở một tỉnh Trung châu. Tin ấy cho biết thêm

rằng trong một lúc nóng tiết và mất hẳn trấn tĩnh y đã thẳng tay tát một ông chủ đồn điền người Pháp giầu có và mạnh thế lực ở trước mặt ông Thanh tra chính trị lên Hòa

bình điều tra về việc tranh ruộng giữa người Pháp ấy và dân Mường. Thì ra có lẽ y mắc bệnh thần kinh, cái bệnh truyền nhiểm rất thông thường trong giới cai trị thực dân.

Ông Thanh tra tức giận bỏ ra đi, và ngày hôm sau ông công sứ bị gọi về Hà nội. Từ đó dân trại giam Vụ- bản mất hẳn cái thứ đọc những câu phê hóm hỉnh và khôi hài

của ngưòú Pháp lai, vụt trở nên, sau vụ giáng chức một người « dễ thương » của anh em chính trị phạm.



NHUNG



Ừ ngày được vô can trong vụ cướp nhà ông thượng Nguyễn nhờ có những lời làm chứng công bằng của Nhung, con gái khổ chủ, thì Sinh bỗng đổi hẳn tính nết. Trước hắn hay nói hay cười, hay đi chơi khắp các xóm để bới chuyện nhà này nhà khác nhất là chuyện nhà ông thượng Nguyễn mà hắn ghét cay ghét độc. Nay thì không mấy khi người ta gặp mặt hắn nữa. Hình như hắn xấu hổ vì đã bị dính líu vào cái việc nhơ nhớp kia, nên tuy vô tội, hắn vẫn thấy cần phải sống ẩn thân trong ít lâu. Bây giờ, người làng Bắc còn thì thào bàn tán nhiều quá, đi đây đi đó nhờ thoáng nghe thấy chỉ thêm bực mình! Ấy là người ta đoán thể thôi chứ chính Sinh cũng không từng ngỏ tâm sự với một ai. Hắn hầu như mộr người câm và cả ngày chui rúc trong gian buồng cửa đóng kín mít. Đến bữa, mẹ và các em có gọi đi ăn cơm thì một là hắn lẳng lặng bước ra, ngồi xuống phản và lùa luôn mấy bát rồi đứng dậy lại trở vào buồng. Buổi đầu Sinh mới được tha về, mẹ hắn thấy vậy chỉ lắc đầu thương hại con hay thốt lời tục tằn nguyền rủa bọn cướp đã khai tnan để làm khổ con bà. Nhưng sau thấy Sinh cứ kéo dài mãi cái trạng thái buồn phiền chán nản, bà sinh ra cáu kỉnh.

Một hôm trong bữa cơm chiều bà gọi chuyện bảo con:

- Mày lại bảo học đi thôi, cứ ăn không ngồi rồi mãi như thế thì đến chết đói mất.

Sinh dằn mạnh cái bát xuống mâm, yên lặng dứng dậy. Bà kia liền thét:

- Mày làm như vì tao mà mày bị bắt, bị tù, bị tội không bằng! Nếu mày không đi lại chơi bời với quân du thủ du thực thì chúng nó biết mày là ai mà đi tố cáo mày với quan nha để đến nổi mày khổ sở, nhục nhằn. May mà chị Nhung chị ấy tốt bụng, chị ấy không thèm thù hằn mày, chứ nếu chị ấy cứ nhận diện bừa đi thì mầy ngồi tù đã đành, đến cái thanh danh nhà mày cũng chả còn ra gì. Thấy mày ngày xưa đã làm gì nên tội, tao ngày nay đã làm gì nên tội mà để mày bêu xấu bêu hổ, bêu nhục, bêu nhuốc?

Hà thấy anh vùng vằng đi vào buồng đóng xập cửa lại liền gắt sẽ với mẹ:

- Anh ấy đã bị oan uổng khổ sở, bu lại còn không để cho anh ấy yên thân.

Người đàn bà vẫn chưa thôi:

- Ừ thì việc đã nhở ra như thế, nó cũng phải chịu nhẫn nhục mà quên đi, chứ có đâu cứ như ăn vạ tao thì mày bảo tao biết làm thế nào.

Bà ngừng lại nghĩ vơ nghĩ vẩn một lát rồi bưng mặt ngồi khóc thút thít.

Bà lấy làm tủi nhục cho cái đời sống túng bẩn vất vả của bà. Là con một ông cử, bà lấy chồng con nhà nho, cũng như chị bà. Nhưng hai người anh em đồng hao ấy đã bỏ xa nhau trên con đường tiến thủ: một người đỗ đạt ra làm quan, một người suốt đời là một ông Đồ nghèo kiết. Chị bà cũng có giúp đỡ bà nhiều phen và lại nhận nuôi cả Sinh cho cùng đi học với con mình. Rồi chồng bà chết, rồi chị bà chéế. Bà thấy đời bà bơ vơ không nơi nương tựa, với một cái gia sản hèn mọn khộng đủ nuôi sống một gia đình bốn mẹ con, nhất từ khi Sinh không chịu nổi sự bạc đãi của nhà ông Thượng, bỏ về ở với bà.

Bấy giờ Sinh đã hai mươi tuổi nhưng vì ham thích chơi bời lêu lổng nên chỉ mới đậu được cái bằng Tốt nghiệp. Không một nghề trong tay, lại đam mê rượu chè cờ bạc, chẳng bao lâu hắn trở nên cái mầm nguy vong cho gia đình. Bà Đồ và Hà đội vải đi bán chợ xa chợ gần vẫn không sao đánh thăng bằng được cái quỹ chi thu thường nhật, Vì thế số nợ một ngày một chồng chất thêm mãi lên.

Bà Đồ chỉ biết than thân trách phận, và đổ tại số mình không ra gì. Nhưng Sinh thì hắn quy hết oán thù vào cả cái gia đình ông Thượng. Hắn không thể quên được cái thời kỳ sung sướng, vô tư vô lự của hắn khi chị mẹ hắn còn tại thế. Những người anh họ hắn có thứ gì hắn đều có thứ ấy. Hắn thấy đời dống dễ dàng và đẹp đẽ bên những người thân thích đáng yêu, bên những người chị họ xinh tươi và âu yếm.

Ngày nay tình thế đã đổi thay, và sự đổi thay chỉ do hai mẹ con Nhung đã gây nên. Nhung mà xưa kia hắn cho là một lẽ sống của đời hắn, là nguồn ánh sáng chiếu rọi vào tâm hồn hắn, nay hắn chỉ thấy là một kè thù đã phá hoại hạnh phúc của hắn. Từ hai người đàn bà, lòng oán ghét của hắn lan rộng ra tới toàn thể cái gia đình ông Thượng rồi tới tất cả cái xã hội cao quý của bọn quan lại và phú hào, một xã hội trưởng giả mà hắn tìm ra đủ các tội lỗi, đủ các điều đê tiện xấu xa.

Hắn bắt đầu có một quan niệm về xã hội, về loài người. Loài người chỉ chia ra làm hai giai cấp: giai cấp được hưởng đủ các quyền lợi và giai cấp không được hưởng một chút quyền lợi gì. «Sao lại có mãi sự bất công ấy được? ». Sinh hằn học tự hỏi thế. Rồi câu hỏi dần dần mất cái tính cách hằn học, mà chỉ còn là một vấn đề nhân sinh. Sinh thấy một ngày một rõ rệt rằng vấn đề ấy cần phải được giải quyết ngay do những người ở cái giai cấp bị thua thiệt, và giải quyết bằng đủ mọi cách với đủ mọi phương pháp. Hắn vốn nhu nhược và lười biếng, thế mà chỉ vì sốt sắng muốn cải tạo xã hội, hắn bổng trở nên cương quyết và mẫn cán trong công việc theo đuổi để phá hoại phe địch. Hắn không ở đảng phái nào, và cũng chẳngg đọc qua một lý thuyết xã hội nào.

Nhưng hắn cần gì phải có lý thuyết vững vàng mới đánh đổ được đối phương: Hắn sẽ đi tuyên truyền nói xấu bọn phú hào. Họ không thiếu gì hành vi nhơ nhớp. Mà có bịa đặt thêm ra cũng chẳng sao! Bắt đầu, hắn hãy thu hẹp phạm vi công kích của hắn vào trong một làng, làng hắn, và đứng đầu cái bảng đen là nhà ông Thượng, cái gia đình đã nuôi hắn, cho hắn biết mùi phú quý để rồi ném hắn xuống đất đen cho hắn thấy thấm thía cái chênh lệch bất công giữa hai giai cấp.

Trong khi việc tuyên truyền có phương pháp đương tiến hành để hạ cái gia đình cao quý kia xuống, để gây lòng phẫn uất của người làng đối với bọn đã xây hạnh phúc trên mồ hôi xương máu của quần chúng, thì xảy ra vụ cướp nhà ông thượng Nguyễn. Vì thế người ta đoán chắc Sinh có dính líu vào việc ấy. Người ta đồ rằng cái dinh cơ rộng rãi, và kiên cố kia nếu không có một người thông thuộc đường đi, lối lại như Sinh làm dẫn đạo thì cướp khó lòng vào lọt được. Tới khi Sinh bị bắt, hết thẩy người làng cùng vui cười. Họ vui cười không phải vì ghét gì hắn, hay thương hại gì ông Thượng, nhưng vì họ thấy họ đoán đúng: thủ phạm vụ cướp không thể là ai được, mà chỉ là kẻ thù ghê gớm của cái gia đình quý phái ấy.

Vận mệnh của sinh hoàn toàn ở trong tay người đến huyện nhận diện các tên hung đồ. Người ấy là Nhung, vì hôm mất cướp, ông Thượng bà Thượng đi Hà nội vắng, và người nhà đều chạy trốn thoát cả, duy có Nhung là bị bắt. Và nàng đã nhận diện hết mọi tên; trừ một mình sinh ra.

Thế là dư luận dân làng Bắc lại xoay chiều. Người ta bảo nhau: « Dầu sao thì nó cũng là cháu chẳng lẽ cháu lại dắt cướp vào nhà bác? ». «Chẳng gì nó cũng là con nhà gia giáo, đâu nó có thể trụy lạc quá đến thế!» Nhưng vẫn có người còn ngờ vực và nói: « Cô Nhung, cô ấy thưomg hại một người em họ nên cô ấy không nhận diện đấy, chứ chính cướp nó đã cung khai ra thì có mà chệch đi đằng giời! ».

Vụ cướp rồi cũng bị người ta quên đi. Khi nó không còn làm đầu để cho câu chuyện mua vui trong các xóm nữa thì bỗng xảy ra một việc khiến người ta lại quay trở lại bàn tán đến nó. Đó là cái chết của Sinh: Sinh tự thắt cổ ở trong buồng kín, dưới chân hắn có bức thư sau này gửi cho Nhung:

B..... ngày …. 1940.

Em Nhung,

Chị cho phép tôi, một lần cuối cùng, kêu chị bằng em. Kể tôi hơn chị những ba tuổi thì tôi có xưng hô như thế cũng không đến nổi quá đáng. Còn bảo tôi là em họ chị thì điều đó có đâu, mẹ tôi là em ruột bà thượng cả, chứ có là dì chị đâu. Tóm lại chị vớì tôi không có dính họ hàng gì cả và ví như tôi lấy chị làm vợ cũng không có tội kia mà.

Chị thấy lời lẽ tôi bình tĩnh lắm phải không? Từ hôm tôi được tha về bao giờ trí tôi cũng rối ren, loạn xạ, mà vì sao hẵn chị cũng hiểu. Nhưng nay thì lòng tôi tự nhiên dẹp hẳn xuống: Tôi đã quả quyết chết, mà khi người ta đã quả quyết chết thì người ta tiếc gì ở đời nữa mà còn phải băn khoăn. Vậy khi Nhung đọc bức thư này thì Sinh đã là cái xác không hồn.

Chắc chị muốn an ủi tôi, chị muốn khuyên tôi không nên tự hủy hoại thân thể phải không? Nhưng chị thì thử bình tĩnh lại mà xem, chỉ sợ thấy tôi đã bị xô đẩy tới con đường cùng rồi.

Vậy lời thứ nhứt và lời cuối cùng của người sắp vĩnh biệt đời này là một lời tạ tội. Em xin lỗi chị, anh xin lỗi em, vì đã xúc phạm tới em trong cái đêm lịch sử ấy.

Sau nữa, và đó là điều độc nhất đáng kể, em sẽ lợi dụng cái chết của em để thú tội với chị, như kẻ mộ đạo Thiên Chúa thú tội với nhà giáo sĩ để mong trút được gánh nặng trong lòng trước khi thênh thang lên đường giải thoát.

Chị đừng tưởng là cái tội đã dắt cướp vào nhà chị, hay cái tội đã dám có dã tâm định làm điếm nhục một người thiếu nử. Hai tội ấy có đáng kể chi bên cái tội tầy trời mà em đã phạm. Nhưng xin hãy nghe em đây:

Ngay từ thuở nhỏ em được hai bác nuôi nâng dạy dỗ, coi chẳng khác gì con đẻ. Lớn lên trong cảnh giàu sang đầy đủ em có bao giờ nghĩ đến thương hại những người lăn lóc trong đám bình dân nghèo nàn thiếu thốn đâu. Cả mẹ em làm ăn tần tảo để kiếm tiền nuôi gia dinh, em cũng không hề để ý đến một cách thiết tha. Mẹ em thì chịu nhịn đủ thứ, chỉ nuôi trong lòng cái hy vọng mai sau em học thành tài làm nên vẻ vang cho nhà cho họ.

Đời tôi, lọ là tôi phải thuật lại với chị. Như anh em trong một nhà, còn một điều gì về tôi mà chị không biết! Nhưng có một điều mà chị không ngờ, mà chị không thể ngờ được, là tôi yêu chị, là anh yêu em.

Em Nhung, bao tội lỗi gây nên bởi mỗi ái tình ngăn cấm. Trong bao lâu anh yêu trộm thương thầm... Rồi có ngày anh trông rõ rằng em chỉ đáp lại anh bằng sự lãnh đạm và mẹ em chỉ đối đải anh bằng sự khinh nhờn, thì anh không chịu nổi vì anh bỏ đi cho khuất mắt cái gia đình mà anh thù ghét thấy đáng thù ghét. Anh tìm ra, cố moi ra đủ các lý do để mà thù ghét, những lý do chính đáng nữa. Rồi lòng thù ghét cá nhân đối với cá nhân, lòng tư thù biến đi để nhường chỗ cho lòng thù chung của một xã hội bị bốc lột, lòng công phẩn của đại chúng. Anh thấy bác Thượng là một người đáng bị, và anh lấy làm thẹn rằng anh là cháu bác.

Lòng uất ức của anh một ngày một lớn dần, cho tới khi anh thấy cần phải trả thù bằng việc làm. Hình ảnh em cũng đã bị xóa hẳn trong ký ức anh rồi. Một dục vọng mãnh liệt hơn đã đến chiếm hẳn chỗ tình yêu: Đó là sự trả thù, trả thù cho anh bị hất hủi, và anh rất thành thực ít ra cũng thành thực trong thời ấy, anh rất thành thực mà thêm rằng: trả thù cho cái giai cấp bị hất hủi trong đó có anh.

Thế rồi như em đã biết đó, anh dắt cướp vào nhà em. Chủ ý anh là định giết hai bác, và làm ô nhục em mà anh đã thù ghét đến cực điểm rồi. Vì thế anh cũng chẳng thèm giữ gìn giấu diếm nữa, anh đã đến trước mặt em, ngạo nghễ tỏ cho em biết rằng anh có đủ sức mạnh để chiếm đoạt được em, rằng em đủ tự phự cao quý đến đâu cũng có thể bị bôi nhọ đi như trở bàn tay được.

Nhưng có một điều anh không ngờ là ái tình mà anh tưởng đã chết hẳn, sự thực nó vẫn còn sống dù đó chỉ sống âm ỉ trong tiềm giác anh. Hình ảnh em trong một giây đã đánh thức nó dậy và đã khiến anh trở nên «hèn nhát» (xin tha thử cho chữ ấy) và không dám đụng chạm tới em. Anh đã dám hối hận điều ấy ở trong nhà giam trước khi gặp mặt em đến nhận diện.

Em Nhung, sao em không để anh yên thân với tội lỗi của anh, sao em không để anh yên thân với những hình phạt đương chờ đợi anh, sao em lại đến cứu vớt anh ra khỏi ngục thất và tù đầy? Trời ơi I nay đối với mọi người, anh đã vô tội. Nhưng anh cần gì điều ấy. Riêng đối với em, anh vẫn đời đời kiếp kiếp là một thằng khốn nạn, mà vì điều ấy, anh đã quả quyết tự khép anh vào tử hình.

Thôi chào em ở lại.

SINH

Bức thư ấy đến tay Nhung, và nàng đọc từ đầu đến cuối với một tâm hồn bình thản. Nhưng từ đó nàng trở nên ngẩn ngơ trong ít lâu..



TIẾNG NGƯỜI XA



Đã đến giờ chưa mẹ?

Phương từ ngoài hiên chạy vào phòng ngủ, đột ngột hỏi mẹ. Nga rời gường và cái bông phấn cầm tay, quay ra cười với con:

- Chưa con ạ. Nhưng, con đi ngủ thôi, khuya rồi, tám giờ rưỡi rồi..

Phương nũng nịu:

- Không, hôm nay con chưa buồn ngủ, mẹ cho con nghe cơ.

Nga chau mày:

- Thế thì Phương không ngoan rồi. Hôm nay mới là thứ ba. Ngày kia mới đến phiên con được nghe kia mà.

Dứt lời nàng đứng lên, ẵm đặt con lên giường. Rồi ra ngồi sửa sang lại mái tóc, chấm lại bông phấn cuối cùng. Ngửng lên nhìn đồng hồ báo thức đặt trên bàn giấy, nàng tưởng thấy hai cái kim vẫn đứng im một chỗ, và nếu không có tiếng tích tắc thì có lẽ nàng yên trí rằng đồng hồ không chạy. Nàng thở dài nói: « Còn những hăm nhăm phút nữa! »

Nhưng nàng cũng bỏ cái áo bọc máy truyền thanh ra, ngồi cầm khăn táy máy lau cái mặt kính hình lục lăng, trên «đó những chữ, những số, những chấm màu đen, màu đỏ, mầu xanh đối với nàng không có một ý nghĩa gì, ngoài con số 25 ra. Mà con số 25 cũng chỉ được nàng lưu ý tới, vào giờ này, giờ phát thanh của đài Cựu kim sơn. Lơ đãng nàng vặn núm tiếp xúc. Cái mặt Radio sáng bật lên. Và cái kim đen trỏ bên con số 25 như thu lấy hết cả tâm hồn nàng. Và nàng mơ mộng đăm đăm nhìn nó, đắm đuối đợi chờ cái phút được gặp người xưa hiện về... Hiện về... Bất giác nàng đưa mắt nhìn vào gương, và thấy mình vẫn còn trẻ và thấy mình trẻ lại nhiều từ khi mua được cái máy radio này.

Kể thì nàng cũng chưa già, năm nay mới hai mươi sáu tuổi. Nhưng bao năm mong đợi, bao năm nhớ nhung khổ sở đã làm cho nàng tiều tụy hồng nhan.

Đã năm năm nay, Thanh, chồng nàng bỏ ra đi. Nàng còn nhớ, còn như thấy hiện ra cái buổi chiều hôm ấy. Một buổi chiều cuối năm 1939, một buổi chiều mưa phùn gió lạnh. Thanh đi Hải phòng về trước ngày hẹn, lại thêm có vẻ mặt lo âu, có dáng bộ vội vàng khiến Nga áy náy không yên. Ăn cơm xong, Thanh lên gác thay quần áo và sửa soạn xếp lại va li. Nga ngây người đứng nhìn chồng chưa dám hỏi. Mãi lúc Thanh dặn hễ có ai đến tìm thì nói chàng còn ở Hải phòng, Nga mới ngập ngừng:

- Vậy anh lại đi?

Thanh gật.

- Anh lại đi Hải phòng?

Không thấy chồng đáp nàng hỏi tiếp luôn:

- Nhưng dẫu sao cũng mai mới đi chứ?

Thanh mỉm cười bảo vợ:

- Anh phải đi ngay, Nga ạ, việc cần lắm.

Đứng suy nghĩ một phút chàng hỏi vợ:

- Phương ngủ rồi, phải không em?

Dứt lời chàng ra nôi vén màn cúi nhìn con, một đứa con tám tháng. Và chàng quay lại bảo vợ:

- Sung sướng quá cái tuổi vô tư lự. Thấy con nó ngủ bình tĩnh mà thèm! Em trông trán nó dãn ra, môi nó như mỉm cười với mộng.

- Anh làm thơ đấy à? Nga âu yếm bảo chồng, Nhưng khéo để muỗi đốt con

Thanh vội giắt màn lại, rồi lẵng lặng xách va li.

- Anh đi ngay bây giờ?

- Phải đi ngay bây giờ em ạ..

Hai người thoáng nhìn nhau rồi cùng vội quay đi như hiểu thấu ý nghĩ thầm kín của nhau.

- Em chả cần bật đèn nữa. Thôi anh đi đây.

Vừa nói, Thanh nắm chặt lấy tay vợ như thầm trao cho nàng tất cả mọi điều bí mật không dám thú. Rồi chàng se sẽ vặn khóa, nhẹ nhàng mở cửa lớn ra ngoài biến vào bóng tối.

Ngồi nhớ tới buổi biệt ly, Nga còn có lại cái cảm giác rừng rợn hôm ấy. Chồng nàng đi rồi, nàng hoảng hốt chán nản lên gác nằm vật ra giường nức nở khóc. Nàng đã nhìn thấy rõ: chồng nàng đi trốn. Vì đã có lần Thanh ngỏ cho nàng biết rằng chính phủ thực dân vừa đặt ra chế độ trại giam để khâu lưu ở đó tất cả những cựu chính trị phạm bị tình nghi làm rối cuộc trị an. Vậy Thanh, một cựu chính trị phạm rất có thể bị liệt vào hạng người nguy hiểm ấy.

Quả nhiên ngay trưa hôm sau, nhân viên ty mật thám đến nhà nàng để khám bắt Thanh. Và từ đó nàng bặt luôn tin chồng.

- Sắp nói rồi đấy à mẹ? Phương trỗi dậy hỏi, vì nó vừa nghe thấy bắt đầu tiếng rào rạo của máy radio.

- Chưa con ạ, nhưng con phải ngủ đi, con có ngoan có dễ bảo thì máy nó mới nói.

- Thì ba mới nói chứ!

- Ừ thì ba mới nói. Vậy nếu con không vâng lời me thì rồi ba không nói nữa đâu, không bao giờ ba nói nữa đâu.

- Vậy con ngủ thì mẹ bảo ba nói nhé?

- Ừ con phải ngủ ngay cơ.

Phương lại ngoan ngoãn nằm xuống. Và Nga, tuy đương buồn cũng phải mỉm cười sung sướng. Phương là tất cả sự an ủi của nàng trong năm năm nay, cái hình ảnh linh hoạt của người chồng thương mến.

- Mẹ tắt đèn để khỏi chói mắt con nhé?

Không thấy Phương trả lời nàng biết con đã ngủ yên rồi, nhưng nàng cũng vẫn tắt ngọn đèn dưới cái chao vải tự tay nàng làm ra từ thời chồng còn ở nhà, và nay màu hồng đã bạc phếch và loang lổ. Trong gian phòng tối, cái mặt lục lăng của máy radio sáng rực rỡ thêm lên. Nghĩ đến cái máy radio Nga không khỏi tự phục lòng quả quyết đã dám bỏ ra gần hai nghìn bạc, đã không ngần ngại bán hết tư trang để mua cho bằng được, mặc những lời mắng nhiếc của cha mẹ chồng. Nàng có nó đã ba tháng nay rồi và không một phút nào nàng tiếc cái món tiền to gần bằng nửa tài sản của nàng. Còn muốn gì hơn nữa, cái máy vuông xinh xinh chẳng chứa tất cả hạnh phúc của nàng hay sao? Chẳng là tất cả lẽ sống của đời nàng sao?

Nàng có nhớ tối hôm ấy, cái buổi đã làm cho nàng hầu như phát điên vì sửng sốt vì một sự lạ lùng mà cho tới ngày nay nàng vẫn không dám tin hẳn cũng không dám ngờ vực. « Ngờ vực thì chết mất!» luôn luôn nàng nghĩ thầm. Hôm ấy nàng đến chơi một người bạn học cũ cũng không thân lắm. Chẳng qua nàng chỉ đáp lại một buổi đến thăm của người ấy. Người bạn giữ nàng ở lại nghe radio, nói có rất nhiều tin tức quan trọng liên quan tới Việt Nam*

Vừa nghe câu đầu, nàng giật mình hoảng hốt. Nàng không thể nhầm được, tiếng người phát thanh chính là tiếng chồng nàng. Nàng cố cho đó là điều vô lý để bỏ qua đi, nhưng không thể được. Ở trên đời này không khi nào lại có hai người nói giọng giống nhau như thế, giống từng giọng, giống từng tiếng. Và trong lúc mơ mộng nàng tưởng tượng Thanh hiện lên ngồi nói chuyện với nàng, ngồi đọc báo cho nàng nghe như thuở xưa, trước giờ đi ngủ nàng thường nũng nịu bắt chồng đảm đương công việc ấy. Nàng ngồi lịm người đi, chú hết tình thần vào cái giọng đều đều trầm trầm. Và nàng như uống từng lời của người mà nàng nhất định cho là người yêu, mà nàng như cảm thấy có hơi thở làm rung động làn tóc sõa bên tai nàng. Tại sao người ấy lại không là Thanh được? Thanh rất có thì làm công trên một chiếc tàu hàng hải vượt Thái bình Dương rồi nhờ có sự vận động của một người Mỹ nào đó được đổ bộ lên Cựu kim sơn và sau đó xin được vào làm ở đài phát thanh. Câu chuyện lập thành như thế rất là hợp lý và có gì là viển vông?

« Đích thực rồi! ». Nàng bổng đột ngột kêu to lên. Nàng vừa nhận được mấy tiếng đọc theo mộr giọng mà ngoài Thanh ra, nàng cho không một ai có.

- Cái gì thế chị? Người bạn ngơ ngác hỏi nàng.

- Không, nàng bẽn lẽn đáp. Và nàng chống chế nói khôi hài để chữa thẹn: « Tôi phê bình lại lời phê bình của người phát thanh đấy”. Đoạn nàng cất tiếng cười ngượng nghịu.

Hôm sau và mấy hôm liền nàng đến nhà bạn; người bạn trước kia rất sơ nay đã trở nên người tâm giao của nàng. Chỉ còn thiếu chút nữa là nàng đem hết bí mật câu chuyện ra thuật tường tận với bạn.

Nhưng tối nào cũng đến chơi dù lấy cớ là nói nghe tin tức thế giới đi nữa, dầu sao cũng là một điều suồng sã trong tình bằng hữu. Nhất bạn lại còn có gia đình mà mình lại là một thiếu phụ xa chồng. Chẳng dừng được, nàng phải thưa đến chơi. Những đêm ấy nàng thấy băn khoăn, sốt ruột trằn trọc không sao ngủ được. Động chợp mắt, nàng lại tưởng nghe thấy tiếng chồng trong máy phát thanh, và nàng vụt tĩnh giấc. Trái lại những buổi ở nhà bạn về, thần kinh nàng dãn ra, máu nàng chảy đều hơn, tim nàng đập chậm lại. Và nàng vừa đặt mình là khoan khoái ngủ yên, không mộng, không mị. không mê không sảng gì cả.

Một hôm trong câu chuyện xã giao, khi ngồi đợi giờ phát thanh, người bạn phàn nàn rằng bất cứ vật gì giá cũng cứ một ngày một cao vọt mãi lên. Và để nêu ra một thí dụ nàng nói một cái máy radio trước kia giá có ba bốn trăm, bây giờ đắt tới nghìn rưởi, hai nghìn. Những lời không đâu ấy bỗng làm nẩy ra trong lòng Nga, một ý muốn một dục vọng ngày càng thêm mãnh liệt: Có một cái máy radio, để rồi tối tối được nghe tiếng chồng mà không phải đi đâu!

Ba hôm sau, nàng nhờ được người mua hộ một cái máy sáu đèn bằng món tiền ngót hai nghìn, giá các đồ tư trang của nàng mà nàng đã đem đi bán.

Và từ đó tới nay, thấm thoát đã ba tháng. Đã ba tháng …chiều chiều nàng trang điểm phấn sáp, mặc vào người bộ áo cưới năm xưa rồi ngồi chờ nghe những lời yêu dấu.

Một hôm, Phương ấm đầu và quấy không chịu rời mẹ ra. Đến giờ, Nga đành phải ẵm con ngồi nghe. Phượng có vẻ kinh ngạc, trố mắt tò mò nhìn cái khoang sáng và thỏ thẻ hỏi mẹ:

- Ai nói thế mẹ?

Nga sung sướng cúi hôn con, và âu yếm, bí mật thì thầm:

- Ba con nói đấy,

- Thế sao ba không ra đây với con, lại nấp ở trong ấy nói ra hử mẹ?

Nga chưa kịp nghĩ được câu ổn thỏa trả lời con, thì Phương đã hỏi tiếp luôn:

- Hay ba bị nhốt ở trong ấy?

Cách đó ít ngày Phương khoe với bà:

- Bà ơi, cháu biết ba cháu ở đâu rồi cơ?

- Thế ba cháu ở đâu?

- Ở trong cái máy nói của mẹ ấy. Cháu đã được nghe ba nói rồi cơ.

Bà lão và cả nhà cùng cất tiếng cười, cho đó là một câu chuyện bịa đặt để dỗ trẻ:

- Phương bảo mẹ có bán lại cái máy ấy đi thì ba mới chịu chui ra mà về với Phương.

- Nhưng cái máy bé quá, ba ở trong ấy thế nào được?

Bà mẹ chồng quay sang bảo Nga:

- Cứ kể giọng cái người trong máy mà tôi nghe tối hôm nọ cũng na ná giống giọng anh Thanh đấy. Chỉ khác một điều chậm rải hơn, mà trầm hơn.

Nga buột miệng đáp:

- Thưa mẹ, phát thanh thì phải nói chậm rải chứ! Còn giọng trầm là vì máy.

Dứt lời nàng hối hận liền, vì sợ lộ mất bí mật mà nàng không muốn để một ai khám phá ra. Và nàng tự trách: « Rõ mình cũng lẩn thẩn đem chuyện ấy ra nói với con!»Bà mẹ chồng nhìn con dâu, mỉm cười;

- Hay chị tin đó là tiếng anh nên chị đã bán tư trang đi để mua máy ra đi ô đấy?

Câu nói đùa làm cả nhà phá lên cười. Ông bố chồng nói:

- Nếu quả thực người phát thanh ấy là anh Thanh thì cũng lạ lắm nhỉ! Mà đã biết đâu không phải anh Thanh. Để hôm nay thầy nghe xem.

Tối hôm ấy quả nhiên cha mẹ chồng nàng vào phòng nàng để nhận tiếng con. Trong khi ông cụ lắng tai nghe, Nga đăm đăm nhìn ông để chờ một lời phán đoán. Nàng lo lắng khi nghe cha chồng thốt ra một tiếng: « Ừ!» Và nàng không dám hỏi thêm sợ bị thất vọng. Thì ông cụ lại nói tiếp:

- Ừ cũng giống đấy… Nhưng không phải tiếng Thanh đâu.

Mầm ngờ vực đã nhú trong lòng nàng vụt bồng bột nẩy nở. Nàng hoảng hốt lo lắng, cảm thấy mặt mình hơi tái đi. Và nàng lặng thinh đứng nhìn hoang mang không dám suy nghĩ liên miên. Sau khi tắt máy và cha mẹ chồng nàng mỉm cười vơ vẩn ra khỏi phòng, nàng tắt đèn lên giường đi ngủ liền. Nhưng cả đêm nàng không chợp mắt. Sáng dậy nàng nãy ra một ý nghĩ mà mấy giờ sau nàng lại thấy không thực hành được, là gửi thư cho người phát thanh đài Cựu kim sơn. Nàng tự nhủ: «Không những khó lòng thư tới đích, mà nhỡ người ấy không phải là chồng mình thực thì xấu hổ chết. Không, không cần viết thư gì hết, và sao một sự nhận xét cẩu thả của ông bố chồng lại trong giây phút đánh đổ tin tưởng của mình được. Người cha thuộc giọng con sao bằng được người vợ thuộc giọng chồng! Không thể nhầm được. Giọng ấy chỉ có thể là giọng Thanh. Nhất mẩu câu « bởi vì rằng » của Thanh thì không trộn đâu cho lẫn được.

Rồi mỗi ngày khi giờ phát thanh tiếng Việt của đài Cựu kim Sơn nàng lại thấy lòng tin thêm vững chắc.

Sung sướng, rạng rỡ, chiều chiều, nàng sống bên người chồng xa.



NGƯỜI ANH HÙNG



ƠI ba nhân vật ấy tụ họp để sống với nhau cũng đã là một cảnh quái đản, một cảnh ma ám rồi. Một khu đất rộng tới bốn, năm mẫu, bao vây trong một lũy tre dầy kín, và một lần tường cao trên cắm mảnh chai vỡ. Hai cái cổng vòm kiên cố, nối liền nhau bằng một con đường nhỏ hẹp, hai bên có tường và ăn thông với ngõ xóm, một cái ngõ sâu hẹp giữa hai hàng dậu tre cao vút.

Trong khu đất bao la ấy, cây cối um tùm như rừng, mội cái rừng hoang đối với con mắt người thường. Nhưng kỳ thực cái rừng ấy đã được chăm nom, bài trí theo ý muốn của chủ nó.. Ta có thể nói không thiếu một loài cây gì, từ cây to như cây sến, cây lim, cây trò, cho chí những cây nhỏ như cây lan, cây lưỡi hổ, cây tóc tiên, từ những cây tầm thường như cây khế, cây sung, cây ổi cho chí những cây rất hiếm như cây hà lan, cây bạch mộc, cây bách tán, cây giồng đất, cây giồng chậu, cây leo, cây gửi, cây chơi hoa, cây chơi lá, một nhà thảo mộc học cũng khó lòng tìm ra được một loại nào không có trong cái vườn bách thảo ấy.

Nhà ở làm xế vì phía Bắc khu vườn và mặt quay về đằng Đông, nghĩa là xây lưng ra cổng. Đó là một kiểu nhà cổ quái chẳng ra Tây, chẳng ra Tàu cũng chẳng ra Việt Nam. Hai từng trên một nền cao, về gốc phía Tây nhô lên một cái chòi « lô cốt».Cửa sổ cuốn, cái cao cái thấp không theo hàng. Toàn thể, cái nhà ấy giống như một tòa lâu đài cổ bỏ hoang, nhất nó lại rêu phong tứ phía và bị lá cây luôn luôn che khuất ánh mặt trời.

Đó là nơi ba người lạ lùng chung sống không rõ từ bao giờ, ba người mà ngay buổi đầu gặp gỡ, tôi cho là ba người điên, nhất ngắm tòa lâu đài hình thù cổ quái, tôi càng yên trí rằng nó phải là công trình của bọn người loạn óc. Mà hiện giờ sau mười mấy năm chơi bời với nhau, tôi vẫn chưa rõ hẳn rằng cái ông kiến trúc sư kỳ dị ấy là một người điên hay là một người phi thường.

Thời tôi mới quen biết ông ta thì Tiên vào chạc ngoài ba mươi. Một cái trán cao rộng, hai con mắt sắc ném tia sáng, cặp môi đỏ và tươi dưới bộ ria cụp, và trên bộ râu thưa, dài, màu hung hung. Tóc cắt ngắn nhưng đầu chỉ cao ở phía gáy, còn tóc mai để nguyên vẹn, khiến đứng đằng trước mặt mà ngắm y, ai cũng tưởng y búi tóc. Quần áo thì rất là lôi thôi lốc thốc, một cái quần cháo lòng, một cái áo cánh nâu, một cái áo lương bã, một đôi guốc gỗ mũ da lợn.

Và Tiên cũng không có thời giờ mà nghĩ tới sự trang sức. Bà Tiên lại là một người nhà quê, chỉ nghĩ tới việc đồng áng làm ăn và như không ngắm nghía chồng bao giờ. Mà có lẽ hai người cũng ít khi gặp nhau, Tiên có mấy khi rời cái phòng sách và phòng thí nghiệm đâu. Trong phòng sách rộng chừng hai mươi thước vuông, chỉ bày có một cái bàn, hai cái ghế gỗ, và một bộ ghế ngựa quang dầu. Còn bao nhiêu chỗ thừa bị các tủ và dá sách chiếm hết.. Đó là một kho toàn một thứ sách chữ Hán. Sách khảo cứu các ngành khoa học Âu Mỹ, các tôn giáo, triết học Đông Tây. Những tự điển, đủ các loại, cũng đã chứa chật một cái tủ lớn rồi. Còn gian phòng thí nghiệm của Tiên thì ngoài y và nhà «kỹ sư», cái danh từ y đặt cho người thư ký của y, ngoài hai người ấy ra thì không một ai được bước chân vào. Chính tôi cũng chỉ thoáng nhìn thấy một lần, khi Tiên ở trong đó mở cửa đi ra phòng sách. Đại khái nó cũng như những phòng thí nghiệm ở các trường trung học, với những lọ, những phẫu, những ống thủy tinh bày la liệt trên những cái bàn sơn màu xanh xám.

Trong buổi mới quen biết con người lạ lùng ấy tôi khỏi tức cười sao được! Một nhà nho khoa học! Một nhà nho bác học! Tôi không sao tin được điều ấy! Nhưng ông «kỹ sư» thì phục y lắm, và thân mật bảo cho tôi biết rằng về khoa học, trình độ y ít ra cũng ngang trình độ một bực tiến sĩ. «Kỹ sư» cũng biết tôi không tin lời ca tụng ấy nhưng y thấy đó là chuyện không đáng kể. Và y vốn ít lời lại không thích tranh luận với ai về một vấn đề gì bao giờ.

«Kỹ sư » vào khoảng hăm nhăm tuổi, đã đậu bằng thành chung và tốt nghiệp trường canh nông Tuyên Quang.Tuy vào trường này người ta chỉ cần có bằng cơ thủy, nhưng vì thích khoa canh nông thực hành, y cũng cứ đệ đơn xin học. Vừa ở trường ra y gặp ông cả Tiên và nhận lời đến trông coi cái vườn bách thảo cho ông ta, dù phải hoàn lại cho Chính phủ bảo hộ Pháp số tiền túc phí trong mấy năm tòng học.

Lương, tên người thiếu niên ấy, rất hiền lành và khiêm tốn. Không bao giờ y nói chuyện đến công việc của y, một công việc vĩ đại mà không ai ngờ tới. Đó là việc khảo cứu tên và tính chất các cây cối trong vườn ở những pho sách Tàu mà y cho ngoài ông Tiên ra không một người Việt Nam nào có thể có được: những pho sách ấy cũng như phần nhiều các sách khác, ông Tiên đã gửi mua tận Thượng hải Bắc bình.

Thực là giời sinh hai người ấy để mà kết bạn với nhau, để mà sống gần nhau. Họ giống nhau về đủ mọi phương diện. Cùng ít nói, cùng làm việc nhiều mà cũng làm những việc vô hại nhưng rất vô ích cho đời. Tôi đã được theo đuổi một cuộc tra cứu của hai người trong các sách toán pháp đông tây giòng giã ba bốn tháng giời để tìm ra «cái luật vạn nhất» của sự may rủi về cờ bạc, về cái số chẵn lẻ của sóc đĩa chẳng hạn. Họ hỳ hục trong bao lâu như thế mục đích không phải là để lợi dụng cuộc khảo cứu mà làm giàu về đổ bác. Họ rất ghét cờ bạc và bận bịu như họ thì còn thời gì ở đâu mà đánh bạc?

Việc thiết thực, họ không cần để bận lòng. Đã có bà Tiên nghĩ đến cho họ. Một mình bà trông coi gia sản của tiền nhân để lại, chừng vài ba trăm mẫu ruộng rải rác trong khắp một vùng. Quý hồ, họ có tiền mua sách và các dụng cụ, nguyên liệu khảo cứu khoa học là được rồi. Người đàn bà ấy rất có tính phục tòng, thế mà một lần đã phải kêu van hai người tiêu pha vừa vừa chứ, không thì đến sạc nghiệp mất. Hồi ấy hai người khảo cứu phân chất các thứ hoàng đồng thời Hạ, thời Chu, thời Hán và công việc ấy đã làm hại cho quỹ của bà Tiên một món chừng bốn năm vạn, tiền mua lò, máy móc đúc đồng và các dụng cụ, các chất hóa học. Kết quả cuộc thí nghiệm khoa học ấy là một cái đỉnh đời Chu, một đôi ống hương đời Hạ, một con ngựa đời Hán giống hình và giống chất. Hai người sung sướng ngấm ngtía cái công trình của mình trong ít lâu, rời bỏ lò, bỏ máy để quay sang một việc khảo cứu khác, cũng vĩ đại và vô ích như việc trước.

Thế giới, hai người ấy sống sẽ là một thế giới im lìm, một thế giới chết, nếu không có một nhân vật thứ ba.. Đó là một người bếp khố đỏ mãn khóa về xin vào làm vệ sĩ cho nhà Tiên. Chính vì thế mà người ta gọi bác là bác Vệ, tuy tên bác là Quýnh. Tiên và Lương yên lặng bao nhiêu thì bác Vệ ồn ào bấy nhiêu, nhất khi bác đã chuếnh choáng vài ba chén rượu. Nhưng sự ồn ào của bác cũng không làm ngăn trở gì cho công việc khoa học của hai người kia, vì bác sống riêng biệt hẳn trong cái chòi và ba gian « trại» phía trước, cách cái lâu đài khảo cứu có tới hơn trăm thước. Bác ở đấy với hai người lực điền và thường hay giao thiệp với bà chủ hơn là với ông chủ và ông « kỹ sư».

Đó là một người chạc ngoại tứ tuần, cao lớn, lực lưỡng ngực nở bắp tay to, tiếng nói sang sảng. Ngoài công việc ban đêm giữ nhà, bác còn đi tuần trông coi cả mấy cánh đồng lúa khi sắp tới vụ gặt. Vì cái trách nhiệm nặng nề ấy mà bác rất siêng năng tập tành võ nghệ, và dạy hai tay điền tốt của bác học đủ các lối công, thủ bằng súng, một cây súng bắn chim, bằng gậy, bằng dáo và bằng đao.

Nhưng thực ra, bác dạy thì ít mà bác khoe khoang và nói chuyện về bác thì nhiều. Cứ lời bác thì nhờ về môn bắn tài, bác đã mấy lần lên cai rồi lại bị lột lon xuống làm lính vì cái tính bướng bỉnh cãi lại quan trên của bác. Kể cái tài bắn của bác quả thực đáng sợ nếu cứ tin ở lời bác: Đặt đồng xu lên đầu cây mút cư tông, mổ cò, đồng xu nhầy lên ở nguyên chỗ mà không rơi xuống đất. Lại một hôm ở một đồn binh, viên quan ba đương ngủ trưa, thì một con quạ đến đậu trên cây soan bên đầu nhà kêu um lên và đánh thức y dậy. Y cáu kĩnh gọi: «Quynh»! giết chết nó đi cho tao! » Quynh cầm súng ra và hỏi:» Ông muốn tôi bắn chết nó hay chỉ bắn què thôi?» «Bắn què». Viên quan ba đáp. «Què chân trái, hay chân phải» «Chân phải» - « Được». Tức thì phát súng nổ và con quạ từ từ trên cây lộn cổ xuống què chân phải và dẫy đành đạch.

Câu chuyện ấy Lương cũng được nghe. Và y tin lắm, vì y không bao giờ ngờ vực một lời nói của một người nào dù Iời nói ấy vô lý đến đâu. Thế là y thấy thích khảo cứu về khoa bắn, rồi từ khoa bắn đến các thế trận, mưu lược trong các sách binh thư của cổ nhân Trung Quốc. Cái việc khảo cứu quân sự ấy đã làm cho y mất đến hai ba tháng, cặm cụi và đã gây một trò cười trong cái «trại lính» bên cổng chòi. Hôm nào cũng vậy, chưa cạn chén rượu thứ nhất, bác Vệ đã đem ông « kỹ sư vườn » ra làm đầu đề câu chuyện vui! Bác kéo dài giọng, mỉa mai nói với hai người điền tốt:

- Ô chào!Tưởng việc binh cũng như việc tìm tên cho những cây lạ hoa kỳ chăng?

Tưởng đâm chết tên cướp cũng dễ như chiết cành, chắp cây chăng? Ngữ ấy thì cầm cây dáo không nổi, còn bắn với biếc gì!

Câu khôi hài ấy thốt ra trước mặt bà Tiên làm bà ta thích chí cười rú lên. Rồi vì cũng chẳng ưa gì ông kỹ sư, bà ta đem thuật lại với ông ta. Bà tưởng trêu tức y, nhưng trái lại, y thấy câu bình phẩm ấy rất hợp lý. Bắt đầu ngay từ hôm sau y khảo cứu về khoa thể thao; và sáng sáng dậy sớm ra vườn vận động thân thể. Quả nhiên người y nở nang ra trông thấy,

Trong cái thế giới ly kỳ của những nhân vật ly kỳ ấy, một lần đã xảy ra một việc bất thường, làm ngừng trệ công việc đều đều của họ trong ít lâu, chỉ trong ít lâu thôi: Một hôm một bọn cướp nhờ có một trong hai tên điền tốt làm nội ứng đã vào lọt trong cái vườn Bách thảo và cái lâu đài khoa học ấy, Thấy động bác Vệ vội lấy súng chống cự, nhưng các thứ khí giới lợi hại của bác đều đã bị tên đầy tớ bất lương giấu đi một nơi. Bác không vì thế mà chịu đầu hàng, hăng hái kháng chiến với bọn cướp bằng gạch, bằng gậy, bằng bất kỳ thứ khí giới gì vớ được. Và bác chống cự mãi cho đến khi bị thương và bị bắt. Sự can đảm của bác đi giúp được bà Tiên và hai con, một giai, một gái sống riêng biệt trong bảy gian nhà ngang, trốn thoát được ra ngoài do một cái cửa bí mật ở sau vườn. Còn ông «kỹsư» thì vừa nghe có động y đã biến mất: Người ta cũng không rõ y chạy đằng nào hay ẩn núp ở đâu. Duy có Tiên thì vẫn bình thảnh như thường và nhất định không chịu rời hai cái phòng sách và thí nghiệm ra, y ở đó chờ cho bọn cướp đến để kinh cẩn nói với họ:

- Thưa, các ngài, các ngài muốn lấy vật quý gì cứ việc, chỉ xin các ngài đừng động chạm, phá phách hai cái phòng này mà thôi. Những thứ này các ngài không dùng làm gì được đâu:Toàn sách với chai với ống với lọ cả.

Y có ngờ đâu rằng chính câu nói của y đã gợi lòng tò mò và nghi hoặc của quân cướp; sau khi đã trói y lại chúng lục lọi, vất tung toé hết các sách, đập vở bừa bãi một số chai lọ, để tìm vàng bạc châu báu mà chúng chắc y dấu giếm trong hai gian phòng. Mãi khi không thấy gì chúng mới chịu phá rương phá tủ ra vơ vét của cải quần áo.

Một giờ sau, bọn cướp kẻ vác, người gánh theo tên tướng dẫn đường ung dung kéo đi. Bổng có tiếng kêu ồn ào con đườmg ngõ xóm. Đuốc vội dập tắt, rồi mạnh ai nấy chạy, bọn cướp vứt đồ đạc lại nhốn nháo tẩu tán. Khi tuần làng kéo đến thì chúng đã đi xa. Trong ngõ xóm còn lại một tên bị tử thương ở bụng và còn quằn quại trên vũng máu. Nồi, mâm, xanh, chảo, quần áo thì rải rác suốt từ đầu cho tới cuối xóm. Sau khổ chủ ra thu nhặt về, nhận thấy rằng bốn phần của bị cướp, quân cường đạo bỏ lại tới hơn ba phần.

«Nhưng ai đã đâm chết tên tướng cướp, khiến bọn quân mất đầu tan rã bỏ chạy như thế?» Người ta kinh ngạc hỏi nhau. Giữa lúc ấy ông «kỹ sư» vác cây dáo dài từ trong vườn bên đi ra và ôn tồn giảng giải:

- Trong khi khảo cứu về chiến lược của Tôn Vũ, tôi đã chú ý đến câu «đánh bất thình lình». Đánh bất thình lình thì một người có thể hạ nổi trăm người, nhất khi mình lại chiếm được địa lợi. Khảo cứu về địa lợi tôi đã ra đấy xem xét kỹ lưỡng cái ngõ hẹp này, và thấy nó rất có lợi cho trận đánh mai phục mà ngày nay người ta gọi là du kích. Đấy, các ông coi, Tôn Vũ đi thẳng một cách dễ dàng.

Mọi người phá lên cười. Và từ đấy ông « kỹ sư» lại có thêm được hai tên mới: Tôn Vũ và Người Anh Hùng.



KHÓI HƯƠNG



I cỏ là một công việc ao ước trong trại giam Vụ bản. Riêng có hai anh người Thổ phụ trách công việc ấy nhưng thỉnh thoảng họ lại nhường cho bạn bè được nếm qua cái thú nên thơ.

Sáng hôm nay, lão đồn già đã phải mỉm cười nhìn Linh và Khanh, trong bộ quần áo «gôn» màu cỏ, nhẹ nhàng vác trên vai đôi lẵng tre lồng một, trong đựng hai cái liềm và một cuộn giây Iạt. Và lão nháy hỏi đùa một câu tiếng Việt:

- Đi cỏ?

Rồi lão tiếp liền một câu tiếng Pháp, như để tỏ rằng đã bằng lòng ban cho hai người cái ơn huệ ấy:

- Được! Chơi cho thỏa thích đi nhé l

Lần này là lần đầu Khanh đi cỏ, nhưng vì được anh em tả cho biết mọi chi tiết của công việc ấy nên y đã đem theo một điều kiện cần thiết: tiền mà y cẩn thận giấu vào trong tất để phòng sự lục khám bất thần của lão đồn già.

Sương còn dày đặc khi Linh và Khanh ra đi với người lính Mường. Dãy núi Hoành sơn như nổi trôi trên biển tuyết.

Bị cỏ đồi dài và sắc nhuốm ướt tất và ống quần, hai chàng đến ngồi nghỉ ở một gốc đa bên cái giếng nước suối, để hong gió cho khô. Trong khi ấy người lính Mường đến góp chuyện với mấy hàng gánh gà vịt ra chợ Trào bán.

- Hắn có nhà đấy, các thầy ạ.

Y quay ra bảo hai chàng.

- Thế à? May quá nhỉ!

Hắn là người mà chú lính «Sáu ba», sắp Çưa hai chàng đến nhà và người đàn bà báo tin kia là vợ hắn.

Vượt một cánh đồng rộng, theo ven một khu rừng rậm, leo hai quả đồi cỏ nữa, ba người mới tới làng Nghĩa. Linh thật thà hỏi:

- Phải đi xa thế này mới cắt được cỏ cho trâu ăn?

Khanh cười:

- Việc chính có là việc cắt cỏ đâu.

Và «Sáu ba» nghiêm trang tiếp, y như không cười không đùa bao giờ:

- Các thầy không phải cắt cỏ. Cả tôi cũng vậy, chỉ việc chén say rồi ngủ một giấc, chiều về thế thôi.

Làng Nghĩa, một làng chết. Lũy tre sơ sác, lèo tèo vài chục nóc nhà. Người ở lưa thưa, không một móng trẻ con nào ra đường. Khanh buồn rầu hỏi «Sáu ba»:

- Ở đây làng nào cũng tiêu điều như thế này à?

- Không đâu, thầy ạ, đây là một xóm nghèo nhất vùng này.

Linh cười:

- Tôi có cảm tưởng đến một nơi vừa có bọn cướp đi qua. Chúng vét sạch của cải và nhân dân bỏ trốn hết.

Người lính thật thà đáp.

- Không đâu, thầy ạ, trên chúng tôi không có cướp bao giờ. Còn thầy thấy vắng như thế này là vì hôm nay là ngày phiên chợ Trào, cả làng đi chợ, chiều mới về cơ mà.. Nhưng đây rồi, đến nhà hắn rồi.

Nhà hắn là một căn nhà sàn bằng gỗ, làm trên một miếng đất nhỏ hẹp; lũy tre lụi từng đám, khiến người ta có thể qua đó mà vào chứ không cần phải đi lối cổng. Cái cổng chỉ là một công trình mỹ thuật mà nhà nào hình như cũng chăm chú đến. Nó cao, d* bằng tre hay bằng gổ, và phần trên là một cái miễu con xinh xắn.

Một con chó vàng, lông dài, đuôi vòng lên lưng như cái dấu hỏi, uể oải lên tiếng sủa, có lẽ không phải để sua đuổi mà để báo cho chủ biết có khách đến chơi. Quả nhiên chủ nhân thò đầu qua cửa sổ và khi nhìn thấy ba người, y vội vả chạy ra cầu thang đón tiếp:

- Mời hai quan với bác lên chơi. Hôm nay hai quan mới đến đây?

Thì ra nơi này là nơi tụ họp hằng ngày của anh em đi cỏ.

- Hai ông lên trước đi, tôi cất các thức rồi tôi lên sau..

Các thức là ba đôi lẵng tre bé xíu và hai cái liềm đem theo để có vẻ đi cắt cỏ.

Linh và Khanh tấm tắc khen cái nhà sàn đẹp và sạch sẽ. Nó khác nhà sàn Thổ ở chổ gian bếp và gian đàn bà cách biệt, có phên liếp ngăn ra. Và nó sáng sủa hơn, vì mặt cái cửa sổ hình chữ nhật đặt ngang mở rộng ra phía Đông Nam để đón ánh mặt trời và không khí.

Trên cửa sổ, một cái chiếu hoa cạp xanh giải xuống sàn, gổ ghép xít. Trên chiếu là một cái khay thuốc phiện, với ngọn đèn dầu le lói trong cái chụp pha lê sáng bóng. Khanh thì thầm bảo Linh: «Cái anh chàng này chừng là tay ăn chơi»

Chủ nhân cười hỏi:

- Hai quan muốn làm cái này? Nhà cháu xin tiêm hầu hai quan xơi?

Linh mỉm cười:

- Cảm ơn ông. Chúng tôi xin vô phép.

Khanh tưởng nên khen một câu làm thân:

- Cái nhà của ông đẹp lắm l Bức sàn ghép toàn bằng gỗ quí.

Sáu-ba vừa lên nói vọng vào:

- Ấy từ ngày ông ta ra làm lý trưởng đấy.

Linh nói:

- Ở dưới chúng tôi cũng vậy, ai ra làm lý trưởng là cũng tốn kém hao hụt.

Chủ nhân cười;

- Bẩm hai quan, chúng tôi ở nơi sơn cước, bì thì nào được với quê quan.

Nhưng phải nghĩ đến việc chính đã. Việc chính là đưa tiền cho chủ nhà nhờ sửa soạn một bữa ăn. Khanh tháo giầy tất lấy đưa cho Sáu ba một tờ giấy năm đồng. Y giao ngay cho chủ nhà và nói:

- Này, ông làm giúp hai thầy bữa chén nhá.

Cái khách sáo phong lưu bỗng thức dậy trong người Mường. Y giơ tay ra gạt:

- Ấy! ai lại thế! Nhà cháu đã có gà, chả phải mua gì đâu mà hai thầy đưa tiền.

Cả ba người phải nói khéo mãi, y mới chịu cầm tờ giấy bạc gập nhỏ bỏ túi. Rồi chủ và khách ngồi nói chuvện chung quanh bàn đèn. «Sáu-ba» yên lặng nằm tiêm thuốc, và xong mỗi điếu y lại quay mồi Linh, Khanh và người Mường. Nhưng lần nào ba người này cũng từ chối và mời lại. Như thế y kéo luôn một lúc đến năm sáu điếu. Giữa câu chuyện gia thế của người Mưòng, Linh quay sang Sáu-ba hỏi chen một câu:

- Thì ra bác bếp cũng hương khói phụng thờ thần Phù dung đấy à?

Y không hiểu. Linh phải giảng nghĩa:

- Bác nghiện thuốc phiện à?

Y cười nhạt nhẽo:

- Không, hút chơi đấy thôi, thầy ạ, ở đây cần phải hút. Anh em chúng tôi hễ ai

không hút là thế nào rồi cũng đi tiểu ra máu mà chết.

Chủ nhà gật gù

- Bác ấy nói đúng...!..Mà lại hút nhiều cơ chứ! Với lại làm cái nghề của chúng tôi, không ăn không được cơ!

Cái nghề ấy là nghề nấu thuốc phiện lậu, một nghề không nguy hiểm như người ta tưởng tượng vì, - lời người Mường - « đã có quan Châu và các quan Lang che chở!» Y cho biết rằng quan Châu đã kịch liệt phản đối việc xông xáo vào làng bắt thuốc phiện của bọn lính thương chánh, và yêu cầu quan Tây mỗi khi đi bắt đâu phải báo cho quan Châu biết.

- Hai quan đã thấy chưa? Tây nó phải chịu nghe theo. Thế rồi mỗi khi nó định đi bắt đâu thì quan Châu lại báo cho quan Lang biết, rồi quan Lang báo ngay cho mình biết để mình giấu hàng đi. Vì thế mà sở thương chánh lập ra ở Vụ Bản phải bãi đi vì chả có việc gì nữa. Bắt đâu ra thuốc phiện mà ở mãi đấy, ăn tốn tiền lương của Tây phải không thầy?

Bốn người cùng cất tiếng cười thích chí. Rồi đến lượt Sáu ba thuật chuyện buôn bán thuốc phiện của y thưở xưa, cái nghề mà y yêu mến nhất trên đời.

- Thế sao lại ra lính?

- Ấy, vì thế này. Tây nó bắt quan Lang tuyển lính. Nhưng trên tôi chả ai muốn đi lính cả. Quan Lang liền lập mưu, làm một bữa tiệc mời những người danh vọng đến ăn. Thế rồi nó ép chúng tôi phải ra.

Chủ nhân sau một điếu thuốc phiện, nằm ngửa nhìn khói tỏa bồng bồng trước mặt, vẻ nghĩ ngợi. Bỗng y ngồi nhỏm dậy hỏi:

- À ban nãy hai quan nói cái gì khói hương phụng thờ thế nhỉ? Phụng thờ thần gì thế?

Khanh cười đáp:

- Ở Trung Châu, nghiện thuốc phiện người ta nói hoa mỹ là:khói hương phụng thờ ả Phù dung. Phù dung là thuốc phiện……(1)

- Ừ! mà mình phụng thờ có thật, hai quan ạ. Nói đến khói hương, tôi lại nhớ một lần đã khổ sở, mất ăn mất ngủ vì nó.

Và y thuật lại câu chuyện cho Linh và Khanh nghe:

Người Mường trọng sự thờ phụng tổ tiên. Và tuy mấy năm nay giá dầu quá cao, người vợ chủ nhà này cũng cố mua được thứ dầu tốt, trong trẻo, thơm tho về thấp đèn thờ. Chai dầu ấy nàng cất vào trong một rương khóa kỹ, sợ chồng lấy dùng vào ngọn đèn thuốc phiện.

Sự lo ngại của nàng quả một hôm thành sự thật. Hôm ấy, nàng đi chợ vắng, người chồng ở nhà đến cơn nghiện mà hết dầu. Hắn biết vợ có một chai dầu còn gần đầy mà nàng cất trong rương. Nhưng rương khóa, biết làm thế nào? Hắn cáu kỉnh toan lấy rìu phá rương ra để tìm chai dầu. Về sau vớì cái giây thép hắn cũng mở được khóa.

Thế là bắt đầu từ hôm ấy, hắn dùng toàn dầu cúng tổ tiên vào việc cúng ả Phù dung. Rồi hôm chai dầu gần cạn hắn đâm lo sợ nghĩ thầm: «Con mụ mà nó biết thì khổ với nó ». Hắn liền nhờ người đàn bà hàng xóm mua hộ một chai dầu cá với một giá rất rẻ, để thế vào chỗ dầu đã dùng vào đèn thuốc phiện: « dầu gì thì cũng đến đốt có ngọn là được! Can chi lại đi dùng dầu ăn thuốc để mà thắp đèn, phí quá! Đàn bà rõ lẩn thẩn quá!»

Nhưng hôm dùng đến dầu để cúng, người vợ mở nút chai, bỗng chun mũi lại kêu:

- Sao mà dầu hôi thế này?

- Hôi à? Người chồng vờ hỏi. Sao lại hôi?

- Hôi quá. Ngửi xem đây này!

Người chồng ra ngửi thử cũng chun mũi lại như vợ.

- Hôi mà lại còn tanh nữa.

- Tại sao thế nhỉ?

- Ai mà biết. Chắc mình mua phải thứ dầu xấu, nó lên men nên nó ra thế.

- Để rồi phải mắng cho lão hàng dầu mới được. Nó lại cậy nó là người Kinh nó đánh lừa dân Mường à. Để chai dầu đây, phiên chợ sau đem ra phố bắt nó đổi.

Người chồng mỉm cười giàn xếp:

- Thôi, sinh chuyện với người Kinh làm gì? Với lại dầu nào mà chả thắp được, quý hồ cháy thì thôi. Có ăn đâu mà cần thơm tho.

Người vợ chau mày, giận dỗi:

- Thế thì mất nhiều tiền mua dầu tốt làm gì. Việc thờ cúng mà hôi tanh thế này, sao được.

Người chồng cố tìm lý để tránh cho vợ một cuộc đôi co bất công với người Kinh.

- Dẫu sao cũng lỗi tại mình. Ai bảo mình nhầm. Người ta có thể đổ cho mình đem về thay dầu khác vào để bắt đền người ta cơ mà.

Nói dứt câu ấy và nghĩ đến sự thực hắn cười vui vẻ đổ dầu ra đĩa:

- Ở chai thì nó hôi, chứ rót ra đĩa cũng không đến nỗi mình ạ.

Đến đây, người Mường ngừng lại kéo hơi thuốc phiện, rồi hắn nhớn nhác nói:

- Chính cái việc ấy đã làm cho tôi khốn khổ đấy.

Khanh ngơ ngác hỏi:

- Sao vậy? Bà ấy làm ông khổ, phải không?

- Không, đâu có thế. Nhưng mà cũng được vài lần thì các Ngài không về nữa.

- Ai kia? Ai không về?

- Các Ngài. Tổ tiên ấy mà!

- Tổ tiên!Sao ông biết các Ngài không về?

- Sao lại không biết!

Hắn nhắc đi nhắc lại mãi một câu như còn đang ở dưới sức đe dọa của Tổ tiên:

- Thế mới chết chứ! Các Ngài bỏ đi biệt, thế mới chết chứ. Các Ngài không về nữa thế mới chết chứ!

Khanh và Linh cố giữ để khỏi bật cười, vì hai chàng cũng không thể tưởng tượng được người Mường kia làm thế nào mà biết rằng các Ngài không về. Muốn hỏi để biết nhưng lại sợ làm phật lòng con người tín ngưỡng.

- Thế rồi sau các Ngài có về không?

Khanh có giữ vẻ trang nghiêm hỏi lại một câu.

- Ôi giời ôi, tôi khổ sở mất một tháng, kêu cầu van lạy các Ngài mới lại chịu về. Vợ tôi thì khóc lóc mãi.

- Thế bây giờ các Ngài đi về rồi, thì hẳn ông kệch đến già không dám dùng mỡ hôi thắp đèn thờ nữa chứ?

- Vâng. Cái chỗ dầu hôi tôi đem vứt xuống suối cho chảy đi mất tích. Nhưng một đêm nguy quá hai quan ạ, tôi lại bị con ma thuốc phiện xúi dục làm càn. Các quan có tin rằng có ma thuốc phiện không? Đêm hôm ấy tôi hút mới được hai điếu thì hết dầu. Mua dầu ư? Mua ở đâu. Chẳng lẽ đương đêm mò ra phố… Mà khuya khoắt ai người ta bán cho! Tôi đương mơ màng nằm nghĩ cách làm thế nào để hút được cho đủ cơn nghiện, thì bỗng tôi chập chờn ngủ thiếp đi. Ấy chính lúc bấy giờ con ma thuốc phiện nó hiện về đấy, hai quan ạ.

- Nó hiện về? Thế hình thù nó thế nào? Khanh hỏi.

Người nghiện mắt mở to như còn đương bị ma nạt. Và hắn kể tiếp:

- Nó cao lênh khênh, đầu nó to như cái dành mà hốc hác giơ xương ra. Mắt nó sâu như hai cái hang, răng nó nhe ra. Nó giơ tay trỏ mãi vào cái rương để xui tôi đến mở mà lấy dầu. Thấy tôi làm thình nó lay tôi dậy. Tôi mở mắt ra thì nó đã biến mất. Ánh giăng chiếu xiên qua cửa sổ, gian nhà sáng rõ và tôi đăm đăm nhìn cái rương kê làm bàn thờ tổ tiên. Đã hai ba lần tôi lần ra ngắm nghía cái khóa rồi nghĩ đến các cụ tôi lại sợ hãi quay về chiếu nằm bên khay đèn tắt lửa. Nhưng động chợp mắt thì con ma lại hiện lên. Lần này nó ghé hẳn vào tai tôi nó thì thầm: « Mày sợ ông vải mày hơn sợ tao à? Mày mà để lửa thờ tao tắt lụi, thì tao bóp cổ, tao vật chết tươi bây giờ ».

Chẳng đừng được tôi phải đánh liều đi lấy cái chìa khóa giây thép mở rương lôi chai dầu ra, chiết vào phẩu đèn, đánh diêm thắp lửa. Ngọn đèn lúc bấy giờ sao mà đẹp thế, cứ sáng tươi mà trong vắt lên thôi. Tôi cằm chai dầu giơ lên xem. Còn những già một nửa. Và tôi vui vẻ nghỉ thầm: « Thế mà mình cứ lo sợ vẩn vơ. Cứ dùng rồi mai kia ra phố mua bù vào, đã sao » Hút luôn một lúc năm, sáu điếu tôi lại ngủ thiếp đi. Thì nó lại đến.

- Con Ma?

- Vâng con ma, nó lại đến. Lần này nó reo mừng nhảy múa. Rồi con nữa, rồi con nữa, một lát sau đến gần một chục con ma hiện về nắm tay nhau mà nhảy chung quanh cái bàn đèn mà hát những bài ca thuốc phiện và cười khanh khách. Mãi gà gáy sáng chúng nó mới đi và tôi mới thức dậy.

Rồi tối sau cũng thế hai quan ạ, ma nó lại về nó xúi tôi lấy dầu cúng để thắp đèn thuốc phiện. Tôi sợ hãi quá phải đánh thức vợ tôi dậy kể cho nghe câu chuyện. Vợ tôi giận tôi phát khóc lên. Và sáng hôm sau đi phố sớm mua chai dầu khác cất kỹ không cho tôi biết chỗ. Nó không biết cái ám ảnh ghê gớm của con ma thuốc phiên nên nó chỉ sợ ông vải thôi. Nó bảo lần sau mà còn đem dầu hôi rẻ tiền ra cúng các Ngài thì các Ngài đi hẳn đấy không về nữa đâu.. Các Ngài đã báo cho nó biết thế.

Sợ quá! hai quan ạ! Các quan tính ông vải thì còn thương con cháu. Các Ngài giận thì các Ngài bảo thế thôi. Chứ con ma thuốc phiện thì nó thương gì mình phải không, hai quan? Không vâng theo mệnh lệnh của nó thì nó bóp chết thật đấy, hai quan ạ. Ở dây chán người làm trái ý nó, nó đưa đường cho lính đoan bắt giam, chết khô ở trong nhà pha vì không có thuốc hút cơ đấy.

Rồi hắn ta nhắc đi nhắc lại mãi một câu:

- Gớm thật con ma thuốc phiện!

Trong khi hắn kể câu chuyện thuốc phiện cho Linh và Khanh nghe thì Sáu-ba nằm ngủ kéo một giấc ngon lành. Mãi lúc con gái hắn bưng mâm lên hắn mới lay dậy. Khanh mỉm cười hỏi:

- Thế nào Sáu ba có thấy con ma thuốc phiện hiện về không?

Hình như Sáu ba đã nhiều lần được nghe câu chuyện vừa kể nên y mỉm cười hỏi chủ nhân:

- Lại chuyện con ma thuốc phiện và chai dầu hôi, phải không?

- Vâng, nó ghê gớm lắm đấy, cái con ma thuốc phiện, trêu vào nó thì cứ là chết!

Buổi chiều khi mặt trời đã khuất núi, ba người gánh ba gánh cỏ nhẹ thênh thang trở về trại giam, Khanh hỏi Sáu ba:

- Này ông Sáu ba, làm thế nào mà cái ông chủ nhà ấy biết rằng các Ngài không về?

Sáu ba ngơ ngác hỏi lại:

- Các Ngài nào thế?

- Tổ tiên ấy mà! Ông vải ấy mà!

- À! lại chuyện chai dầu hôi. Biết chứ! Xin âm dương thì biết các Ngài về hay không về chứ!

- À ra thế.

Khanh và Linh cùng cất tiếng cười vui thú.

- Thế mà mình nghĩ mãi không ra.

Từ đó thỉnh thoảng Linh và Khanh lại xin đi cắt cỏ để ăn cháo gà và nghe những câu chuyện thật thà của người bạn Mường trong làng Nghĩa.

Chú thích:

( 1) Những chỗ có ghi dấu chấm chấm là do bản thảo bị mối xông mất một dòng. Truyện này mấy năm trước, tôi đã có cho in đầy đủ trong một tờ báo mà chưa tìm lại được. (Chú thích của Nguyễn Thạch Kiên)



ĐỢI TẾT TRONG TÙ



hững ngày cuối cùng của nhà văn Khái Hưng

Cuối năm 1946 tại Hà Nội… Mùa đông đã tới trên đất Bắc mang theo gió bấc lạnh buốt thấu xương. Lúc đó, tình hình căng thẳng giữa Việt Minh và Pháp đã chín mùi và chiến trang Việt – Pháp bùng nổ vào buổi tối ngày 19- 12.

Chúng tôi đã tản cư khỏi Hà Nội từ hai tuần trước và trở về quê ở gần làng Cố Lễ (huyện Nam Trực, Nam Định), mặc dầu biết rằng vẫn bị trinh sát theo rõi từng bước. Ngay khi bộ đội đột kích quân đội Pháp ở Thủ đô, thì tại Nam Định. lực lượng của thực dân cũng bị bao vây và đồng thời Tổng bộ Việt Minh hạ lệnh « quét » hết các chiến sĩ Quốc Gia. Bởi vậy ngay tối hôm sau (20-12), chúng tôi ba người đều bị công an đang đêm xông vào nhà từng người bị bắt trói giam tại quận lỵ. Nhưng số phận chúng tôi còn « hên »: chín ngày sau, đúng lúc chúng tôi bị trói thành « xâu » và sửa soạn dẫn đi « trôi sông » thì một công điện của Trung Ương tới chỉ thị cho Công an không được bắn chết bừa bãi, phải lập hồ sơ tội trạng để đưa chúng tôi ra tòa án. Thế là ngay đêm ấy, chúng tôi bị áp giải lên trại giam của Công an tỉnh đặt tại chiến khu Lạc Quần (huyện Xuân Trường – Nam Định ). Lúc đó đã sang tháng chạp âm lịch. Thiên hạ bắt đầu sửa soạn Tết. Chợ Lạc Quần trở nên tấp nập hơn những ngày thường và đã điểm mầu chợ Tết, với bánh, mứt, cam, bưởi, tỏa mùi thơm tới trại giam chúng tôi cách chợ chừng 200 thước.

Ở đây toàn thể đều là chính trị phạm. Từ các huyện dồn về, số anh em càng ngày càng tăng… nhưng cũng chưa đến nỗi phải chen chúc nghẹt thở; sàn gỗ chiếu manh và cơm nắm muối vừng vẫn còn đủ chia nhau. Bị kiểm soát và theo rõi liên tục chúng tôi chẳng ai dám nói gì về chính trị và kính tế. Trái lại nhân cảnh chợ Tếtgnầ bên, chúng tôi đưa ra những đề tài «Tết» đã có chuyện mà nói với nhau …và cũng rục rịch để trong ít ngày nữa cùng nhau ăn một cái Tết thuần túy «tinh thần», vì dĩ nhiên chúng tôi sẽ phải tiếp tục sống trên sàn gỗ chiếu manh và ăn cơm nắm muối vừng trong ba ngày Nguyên Đán …

Ngày hôm sau khi ba chúng tôi - Lụy, Thành, Văn - bị di chuyển về trại Lạc Quần, và trong khi anh em chính trị phạm đang bàn tán về chuyện Tết …thì một buổi chiều mọi người được tin lát nữa sẽ có hai ông bạn mới, hình như do Công an quận Trực Ninh bắt rồi cũng đưa lên giam giữ lại đây như trường hợp chúng tôi. Hai người hiện còn ở ngoài văn phòng chi trưởng Công an (tên Thịnh, con ông Hoàn Thành, tiệm mũ có tiếng ở Nam Thành).

Tới 5 giờ chiều (giờ cũ), chúng tôi tập họp ăn cơm. Vừa ngồi xệp xuống đất và bẻ đôi nắm cơm thì một công an viên dẫn hai người vào cho nhập bọn với chúng tôi. Một người chừng trên bốn chục tuổi có vẻ hào hoa phong nhã nhưng hơi gầy yếu. Âu phục chỉnh tề: Complet và cà vạt, mũ « phớt », ngoài khoát pardessus de ville, tay xách một cặp da cũ đựng quần áo và đồ dùng vặt.

Người thứ hai trẻ hơn cũng mặc âu phục nhưng đơn giản: quần đen, sơ mi và áo len nâu dài tay với một bọc vải gói ghém áo quần và vật dụng.

Trong gian phòng ẩm thấp và thiếu ánh sáng tất cả chúng tôi cùng đứng lên hân hoan đón hai bạn mới. Bỗng anh Văn trố mắt nhìn kỹ hai người rồi thốt lên:

- Tưởng ai xa lạ … hóa ra anh em nhà cả!

Rồi anh ghé tai Lụy nói thầm:

- Anh Khái Hưng đấy! chắc anh đã đọc những tác phẩm của anh rồi. Còn anh giáo Dưỡng vẫn thường đi lại hoạt động với chúng ta … ». Lụy gật đầu mỉm cười. Bộ ba chúng tôi tới bắt tay anh rồi cùng ngồi ăn ngấu nghiến cho xong bữa. Chiều hôm ấy may mắn có thêm chút rau muống sống do anh Văn hái trộm trong thửa ruộng sau nhà. Chúng tôi gọi nhựng món ngoài lề như vậy là những món «siêu vô sản ».

Sau bữa ăn, chúng tôi ra bờ sông (cũng thuộc phạm vi trại giam) rửa bát đủa chân tay rồi về quây quần xung quanh một ngọn đèn dầu hỏa tù mù. Anh Văn với tư cách là người đã quen biết anh Khái Hưng từ lâu (1) ngồi ở bên anh. Cuộc họp bắt đầu ngay bằng câu chuyện của anh K.H. Về trường hợp anh bị bắt:

«Tôi tản cư ở Hà Nội về Nam Định, ít lâu trước ngày Tác Chiến, qua tỉnh lỵ, mặt trận Liên Việt cấp chứng minh thư cho tôi về quê tạm trú tức là quê vợ tôi tại làng Lịch Diệp, quân Trực Ninh (2). Trước ngày Tác Chiến, họ không đá động gì đến tôi cả, tôi vẫn được tự do đi lại. Buổi chiều gần tối tôi thường đi chơi ở ngoài làng, đi hóng gió và ngắm cảnh đồng ruộng. Có khi đứng nói chuyện với dân quân du kích tới khuya trong điếm gác... Thế rồi xảy ra Tác chiến ở Hà nội. Ngày hôm sau tôi bị gọi ra Ủy Ban Xã, giấy tờ bị thu hết rồi họ bắt tôi đưa lên Công An huyện. Tôi bị giam giữ ở đó cho tới trưa nay cùng với anh Dưõng và nhiều người khác rồi họ đưa hai chúng tôi về đầy ở cùng với các anh. Dĩ nhiên họ coi tôi là một người nguy hiểm...Lệnh từ trung ương xuống, cấp dưới chỉ biết thi hành.

«Tuy rất nhiều người có cảm tình với tôi, nhưng họ không dám đi ngược lại chỉ thị cấp trên. Dù sao tôi cũng chưa bị đánh đập tra khảo gì cả ».

Nói tới đó, bỗng anh ngước mắt nhìn chằm chặp vào mặt Thành:

- Hình như trước tôi đã gặp anh nhiều lần, không nhớ ở đâu?

- Thầy quên rồi à!Mấy năm trước tôi học trường Thăng Long…thầy dạy Việt văn mà! (3)

Do đấy chúng tôi mới biết K.H. là thầy cũ của Thành.

Nhưng anh nói chặn ngay:

- Thôi chú cứ gọi tôi bằng «anh ». Bây giờ chúng mình đều là anh em cả! Lúc đó. Nhóm chúng tôi lại được thêm một người nhập bọn: anh Xuân Bách, bạn thân của anh Lụy, vừa ở tóp khác nhảy sang góp chuyện. (4).

Mấy phút sau, ba tiếng cồng báo hiệu đã tới giờ ngủ. Đội nhân viên «trực» tới dồn chúng tôi sang ngôi nhà hai tầng dùng làm phòng ngủ phạm nhân. Cùng với nhiều anh em khác. Nhóm chúng tôi ngủ trên gác - một sàn gỗ không giường màn không chăn gối, ngoài đống chiếu tạm đủ cho mỗi người vừa trải vừa đắp. Nhưng may mắn là ở đây rất ít muỗi. Hơn nữa, căn phòng họp và kín đủ giữ hơi thở của chúng tôi lại để sưởi ấm lẫn nhau đỡ lạnh được phần nào.

Đêm ấy, vì anh giáo Dưỡng không mang chăn theo, nên phải đắp chung với một bạn khác sẵn có một tấm chăn len khá rộng. Còn anh K.H.dùng áo choàng thay chăn, khăn len bọc cổ và gối đầu trên cặp da phủ khăn bông.

***

Hồi ấy Lạc Quần là một chiến khu quan trọng của miền Nam Trung Châu Bắc Việt ( thuộc Liên khu 3). Trại lính « khố xanh » cũ lúc đó đã biến thành Bộ Tư lệnh của đại tá Việt Minh Hà Kế Tấn. Công an tỉnh Nam Định đặt trại giam gần sát đó để có thể nhờ bộ đội can thiệp tức khắc nếu xảy ra những trường hợp bất ngờ ( các chính trị phạm nổi loạn hoặc các nhóm quốc gia đánh úp để giải phóng đảng viên). Anh em chúng tôi thuộc nhiều đoàn thể khác nhau: Việt Quốc, Việt Cách, Duy Tân, Dân Tộc, Công giáo … không thiếu một đảng phái chống Cộng nào. Đến trung tuần tháng chạp âm lịch, tổng số lên tới gần 50 người.

Đời sống tại đây tương đối dễ chịu vì lúc đó Việt Minh còn bận tổ chức kháng chiến chống Pháp, chưa nghĩ tới việc hành hạ chúng tôi. Ngoài điểm ăn ngủ kham khổ, chúng tôi không hề bị gông cùm xiềng xích và cũng không phải làm việc gì cực nhọc, chỉ có một lần chúng tôi được đi vác gạch cho bộ đội xây đồn, riêng vì anh K.H yếu đuối nên bị chúng loại ra. Tuy nhiên không phải không có những cuộc tra tấn.

Đêm nào cũng có vài ba người bị gọi lên phòng đồn trưởng để hỏi cung đúng vào lúc ba tiếng cồng «ngủ» dóng lên. Đánh đập, kìm kẹp, quay điện, tra tấn đủ kiểu cho tới khuya mới thả cho về.

Và mỗi buổi sáng chúng tôi lại thay phiên đấm bóp và săn sóc những nạn nhân đêm trước.

Bởi vậy, ngay buổi sáng ngày thứ nhì, anh K.H. đã nhìn thấy rõ « nếp sống và thủ tục » trại giam. Và cũng từ buổi đó, chẳng bao giờ chúng tôi được nghe anh nói một mảy may gì liên quan tới chánh trị hay là tình thế. Mặc dầu trông đợi phiên mình, nhưng trong suốt thời gian(vào khoảng (15 – 20 ngày) chung sống với chúng tôi, anh chẳng hề bị gọi lên « chịu trận » một lần nào cả. Trái lại, có một số công an viên kể cả đồn trưởng Thịnh tỏ ra rất hâm mộ và kính nể anh. Có lẽ không gì khổ tâm hơn cho một nhà văn khi phải sống trong cảnh hoàn toàn không giất bút và không sách vở. Lúc ra đi, bọn Công an không cho anh mang theo một chút gì để đọc và viết; Tới đây anh đành bó tay, và luôn ngỏ ý thèm đọc, bất cứ sách gì. Một hôm, có một công an viên – anh Thân – vì cảm mến K.H. đã mang tặng anh một tập giấy trắng với một cây bút chì trong lúc chúng tôi đang ngồi quay lại để anh xem tướng cho từng người. Anh K.H.xem tướng rất giỏi - cả tướng tay lẫn tướng mặt. Coi tay anh Lụy, anh bảo là người dễ tính và rộng rãi – anh Thành sẽ vất vả một đời vì bộ tóc rễ tre – anh Văn khó lòng sống tới 50 tuổi …Đến nay tôi thấy những lời anh tiên đoán về số mệnh đều rất đúng.

Từ lúc có giấy bút, chiều nào Khái Hưng cũng ra bờ sông ngồi viết nhật ký, Công an viên Thân thường lui tới để nhờ anh sửa văn. Và bọn anh em chúng tôi cũng bắt đầu gác bỏ đề tài Tết để nhảy sang địa hạt văn nghệ.

Từ bữa đó, anh K.H. đã nói khá nhiều với chúng tôi về các vấn đề văn chương, thi ca, tiểu thuyết vì đây là sở trưởng của anh. Lâu ngày quá rồi anh, chúng tôi không còn nhớ được nhiều. Riêng anh Lụy còn nhớ được một điểm khi hỏi anh về vai trò của VỌI trong cuốn TRỐNG MÁI. Khái Hưng nói:

« Trong tác phẩm này, phong cảnh Sầm Sơn là chính, còn vai trò của VỌI chỉ là phụ, tức là để tả người Sầm Sơn và cảnh Sầm Sơn ».

Lúc nào Khái Hưng cũng tỏ ra bình thản và vui tính. Ngoài những cuộc đàm luận văn chương anh còn thích đánh cờ và rất ham nói chuyện và trong bất cứ chuyện gì anh cũng cài xen vào những câu khôi hài rất dí dỏm và đầy lý thú.

Buổi tối, sau bữa ăn, anh thường kể chuyện cho chúng tôi nghe. Tài kể chuyện của anh ít người sánh kịp; dù chỉ là những mẫu việc rất thường anh cũng có thể biến thành một câu chuyện đầy hứng thú, vì óc sáng tạo tuyệt diệu và giọng nói quyến rũ của anh.

Tối nào anh cũng kể cho nghe một chuyện, hoặc Liêu Trai hoặc những kỷ niệm làm báo, viết văn và ở tù. Mẩu chuyện của anh mà cả hai chúng tôi nói mãi tới nay là chuyện anh tập hút thuốc lào trên trại giam Vụ Bản (Hoà Bình): Tuy không biết hút nhưng tôi đã gắng tập hút để có thể nhập bọn và gây tình thân thiết với các chú lính Mường. Sau đó, đêm nào tôi cũng tụ họp với họ chung quanh một chiếc điếu cầy «gộc» luân phiên liên hồi hút thuốc lào và kể chuyện. Tôi đã được nghe nhiều chuyện đường rừng rất ly kỳ, tôi cũng kể nhiều chuyện lịch sử và thần tiên. Chỉ một tuần sau tất cả đám lính Mường canh giữ trại đều trở nên « ghiền » nghe chuyện, mỗi khi hơi rảnh rỗi là họ tìm tới và đòi kể chuyện như đòi nợ ».

Ngoài ra, anh K.H. còn là một người rất giàu tình cảm. Mỗi lần nói chuyện hoặc kể chuyện, không bao giờ anh quên nhắc tới một vài bạn cũ – và gặp ai anh cũng tùy trường hợp hỏi thăm tin tức về những người anh đã từng quen biết. Trong thời gian bị giam với chúng tôi, một hôm có cậu con nuôi tới thăm anh(5). Và đêm hôm đó anh lại có dịp kể cho chúng tôi nghe những mẩu chuyện về tình bạn giữa anh và văn sĩ Nhất Linh …nhưng không hề đá động gì tới cuộc đời chính trị và cách mạng của hai người.

Rồi một buổi chiều. Hôm đó đã quá rằm - có lẽ 16, 17, 18, tháng chạp âm lịch, một ngày cận Tết - vào khoảng 4/5 giờ trong khi chúng tôi sắp ăn cơm tối, tên Thoại (công an xung phong) tới báo cho Khái Hưng biết rằng có lệnh mời anh lên « Trung ương » vì cấp Tình không có quyền thẩm vấn và tra xét xử anh- Hắn dục anh thu xếp đồ đạc để cũng đi ngay với hắn - đi lúc chiều tối để tránh máy bay địch.

Mười phút sau, anh đã sẳn sàng trong bộ Âu phục với áo choàng, mũ ‘phớt’ và chiếc cặp da cũ trong tay như khi anh mới bước chân tới trại Lạc Quần- Bùi ngùi cảm động..anh đi bắt tay từ biệt từng anh em phạm nhân... Anh Văn rơi lệ. Mọi người buồn xỉu...

- «Chào anh em ở lại!»

Đó là lời cuối cùng của Khái Hưng. Câu đó tới hôm nay vẫn còn in sâu trong tâm khảm hai chúng tôi. Dù anh không nói thêm lời nào nữa, nhưng chúng tôi đều nhìn thấy trên vẻ mặt anh một nỗi ưu tư vô hạn... Có lẽ vì cảm thấy rằng chuyến đi này sẽ kết liễu đời anh...

Từ hôm đó, nhóm chúng tôi – Văn, Lụy, Thành, Xuân - chẳng ai buồn để ý đến cái Tết sắp tới, mà chỉ suốt ngày nhắc tới kẻ ra đi không có ngày về …

MAI CHI

(XUÂN 1964)

Chú thích:

1) Anh Lưu ngọc Văn là tác giả hai tập sách hát trẻ em do nhà Đời Nay xuất bản trong loại « Sách Hồng » vào khoảng 1940 – 41

2) Bà Khái Hưng là con của cụ Thượng Đính ở làng Lịch Diệp

3) Một trường Trung Học (tư thục) nằm ở góc chợ Hàng Da, Hà Nội. trường này nổi tiếng tại Bắc Việt hồi tiền chiến; đa số giáo sư là các nhà cách mạng

4) Chính tên là Vũ mạnh Xuân; hiện là Đại úy thuộc ngành vận tải ở Nha Trang.

5) Anh Nguyễn Tuờng Triệu, con đẻ của nhà văn Nguyễn Tường Tam được trao cho làm con nuôi anh Khái Hưng vì tình bạn cố giao giữa hai nhà văn.