Jun 11, 2013

Chia buồn cùng Phương Hà và anh Lịch






Rất xúc động được tin buồn
 mẫu thân của phu quân TV6370 Phương Hà

Cụ bà
Maria Phạm Thị Sen

Đã từ trần ngày 11 tháng 6 năm 2013  tại Việt Nam.
Hưởng Thọ 86 tuổi



Gia đình TV 63-70 và ĐSTV XIN THÀNH KÍNH PHÂN ƯU cùng anh Lịch bạn Phương Hà và tang quyến. Nguyện xin hương linh bác được hưởng  nhan Thánh Chúa cùng hạnh phúc nơi cõi vĩnh hằng



CẢM TẠ

Các bạn TV thân mến.

Gia đình Phương Hà xin được gửi lời cảm tạ chân thành đến tất cả các bạn TV63-70 đã gửi email, gọi điện thoại đến an ủi và chia buồn  cũng như các bạn đã đóng góp xây giếng hồi hướng công đức cho má chồng của Hà.


Gia đình Phương Hà cũng xin được gửi lời cám ơn đến Minh Tâm đã đại diện các bạn gửi vòng hoa , Mỹ Điệp, Kim Thanh và Kim Đoan đã gửi trái cây đến phúng điếu, và các bạn TV Saigon đã đến thăm viếng , dự lễ cầu nguyện và tiễn đưa linh cữu Má chồng của Hà đến nơi hỏa táng.

Xin chân thành cảm tạ các bạn .

Gia đình P.Hà.





Giếng nước Maria.







Jun 10, 2013

Áo dài Le Mur Cát Tường

LE MUR CÁT TƯỜNG



Hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường, bút hiệu Lemur Cát Tường (nghĩa chữ Hán “Cát Tường là điềm lành”, và dịch tiếng Pháp “bức tường là le mur”), sinh năm 1912 tại tỉnh Sơn Tây khi cha là Nguyễn Huy Thành, gốc Hà Nội, đang làm việc tại sở Hỏa Xa ở đó.
Vốn bản tính hiếu động và nhiều sáng tạo, Nguyễn Cát Tường đã hội nhập vào các lãnh vực khác nhau của đời sống, chỗ nào ông lưu tâm tới cũng đều ghi lại sự cải tiến.
Năm 1928, Nguyễn Cát Tường trúng tuyển vào khóa 4 trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương và tốt nghiệp vào năm 1933.
                                   
Lemur Cát Tường (1912-1946)
Ngày 15 tháng 11, 1931 ông tham dự vào “cuộc triển lãm hội họa và điêu khắc, các tác phẩm do học sinh của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thực hiện trong dịp hè, nghĩa là ngoài ảnh hưởng trực tiếp của các giáo sư của họ…”.  Cuộc triển lãm này được bà Yvonne Schultz phê bình trong bài Các Họa Sĩ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương: “Một trường phái mới xuất hiện,…sẽ làm giầu cho Viễn Đông bằng những tác phẩm thích ứng với sự nhậy cảm của những người An-Nam thề kỷ 20”.
Năm 1932, lúc còn đang học vẽ, ông đã có những tranh khôi hài ký tên A. S. LEMUR trên báo Phong Hoá của Nguyễn Tường Tam, từ khi báo mới ra được 3 tháng.  
Ngày 11 tháng 2, 1934 báo Phong Hóa Mùa Xuân, số 85, Nhất Linh bất ngờ tạo ra một tiết mục mới: “VẺ ĐẸP riêng tặng các bà các cô” và giao cho họa sĩ Nguyễn Cát Tường, mới 22 tuổi, phụ trách để làm nên cuộc Cải Tiến Y Phục Phụ Nữ Việt Nam, sâu xa, lạ lùng và vang dội nhất từ xưa tới nay.
Người họa sĩ trẻ măng này, vừa viết bài, vừa vẽ kiểu… Đầu tiên là việc phân tách và trình bày những ưu khuyết điểm của Y Phục Phụ Nữ đương thời, rồi sau đó, ông đưa ra những đề nghị đổi mới cho thích hợp với thời tiết, thoải mái khi cử động, rộng rãi cho máu huyết lưu thông và tôn cao vẻ đẹp sang trọng và yêu kiều của người phụ nữ. Đó là lần đầu tiên trên báo Phong Hóa và đặc san Đẹp, do NXB Đời Nay phát hành. Lemur Cát Tường giới thiệu đến độc giả những bộ y phục phụ nữ tân thời mà ông đã tạo kiểu và tạo dáng: có cổ, không cổ, có tay, tay ngắn,  không tay, vai bồng, vai xẹp, cổ tay xoè, không xòe, có khuy, không khuy, vạt áo dài, vạt áo ngắn (mini) và sau này năm 1937 tại hiệu may LEMUR còn có áo kiểu vai chéo (đời sau gọi là vai Raglan), áo đi xe đạp và áo cô dâu…
Ông Cát Tường còn cho rằng phần chính và cốt yếu trong bộ y phục: “ Nó là cái quần...” cần được “thay đổi lối cắt kiểu may”:  “Từ cạp đến đầu gối nên thu hẹp bớt để vừa khít với thân hình, như thế những vẻ đẹp thiên nhiên của từng người mới lộ ra được. Còn từ đầu gối trở xuống đến chân, hai ống quần lại phải may rộng dần ra để khi đi đứng cái dáng điệu của các bạn được tăng thêm vẻ nhẹ nhàng”.  (Phong Hóa  89  1934/03/16)
Ngoài ra ông còn cải tiến cả những cái áo yếm, y phục mặc ở nhà, trong phòng ngủ, khi dự tiệc, khi tắm biển và cho tới cả đôi giầy, đôi dép. Ông cũng vẽ chung với Nhất Linh vài mẫu y phục trẻ con và phụ nữ miền quê.
Để cổ động giới phụ nữ, ông đã kêu gọi các bạn trường Mỹ Thuật giúp sức. Lần đầu tiên tại Hà nội, người ta được gập các hoạ sĩ danh tiếng như Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Lemur Cát Tường … ra đứng cửa tiệm may, tiệm vải để chỉ dẫn và cho kiểu cho các khách hàng còn bỡ ngỡ về màu áo, loại vải hay lụa thích hợp với vóc dáng, nước da của từng người. Các bà các cô Hà Nội chưa bao giờ được chiều chuộng đến thế…
Y phục Lemur đã được những người đẹp yêu mỹ thuật của cả nước, nhất là Hà nội, các phụ nữ trí thức như Luật Sư Nguyễn thị Hậu, Giáo sư Trịnh Thục Oanh,  bà Bác Sĩ Lê Đình Quỵ… dẫn đầu phong trào mặc y phục phụ nữ tân thời.  Các cô nữ học sinh lớp lớn đua nhau may mặc… không khí xã hội và cảnh sắc Việt Nam thay đổi… bờ hồ Hoàn Kiếm như đẹp hẳn lên…
Năm 1936, tiếp tục qua báo Ngày Nay, Cát Tường viết những bài báo về những đề tài làm đẹp cho phụ nữ như chuyện dồi phấn, thoa son, chọn mầu vải, tập thể dục, sống sao cho KHỎE và ĐẸP.
Ông lập gia đình với cô Nguyễn Thị Nội, gái Bắc Ninh, con cụ Hàn Nguyễn Văn Cầm, một gia đình chuyên sản xuất hàng thêu, hàng ren để xuất cảng ra ngoại quốc.
Năm 1937, để việc đổi mới y phục tân thời có kết quả tốt đẹp, những người phụ nữ muốn mặc áo dài mới được hài lòng, thấy mình đẹp hơn, duyên dáng hơn, mỹ miều hơn, ông bà Cát Tường khai trương Hiệu May  LEMUR , quảng cáo trên báo Ngày Nay:
Đây cũng là công lao của bà Cát Tường, người đã quán xuyến, điều khiển trong ngoài cho hiệu may LEMUR để ông khỏi bận tâm mà thực hiện những cải tiến mỹ thuật khác. Hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường ngoài việc viết báo, vẽ tranh, chụp ảnh, sáng chế y phục, ông còn đưa mỹ thuật vào đời sống và thủ công nghệ Việt Nam trong các lãnh vực:
  • Sáng chế loại hàng Ren mới xuất khẩu và cải tiến nơi làm việc của các nhân công.
  • Cải tiến và mỹ thuật hóa xe xích lô đạp.
  •  Sáng chế nón Phụ Nữ Lemur, guốc cao gót, đồ mộc và đồ chơi cho trẻ em.
  •  Mở hiệu cắt tóc và tắm nước nóng, khuyến khích việc vệ sinh và sạch sẽ.
  • Mở phòng trà đầu tiên để tạo nơi gặp gỡ cho các văn nhân và nghệ sĩ.
  • Dạy vẽ tại Trường Thăng Long.
  • Cả hai Ông bà đều tham gia vào Đoàn Ánh Sáng làm việc Nhân Đạo và Xã Hội.
Tháng 12 năm 1946, tình thế trở nên rối ren khi quân đội Pháp đang trở lại Bắc Việt để tái lập địa vị. Cả nước trên đà thực hiện việc kháng chiến, dân Hà Nội được lệnh tản cư. Gia đình Cát Tường dời về làng Tràng Cát, tỉnh Hà Ðông.
Ngày 17 tháng 12 năm 1946, ông Cát Tường trở về nhà để lấy thuốc men, quần áo cho các con và người vợ sắp tới ngày sinh.  Ông đã bị Dân Quân bắt tại Hà Nội và đưa đi biệt tích…
Bóng dáng những kiểu quần áo Lemur, sau hơn bảy mươi năm, vẫn còn thướt tha bay lượn nhiều nơi trên thế giới, thấp thoáng trong những nẻo đường quê hương, tung tăng khắp các sân trường, cao sang và trang trọng khoe mình vào những dịp hội lớn. Bộ quần áo nhã nhặn, kín đáo và duyên dáng ấy đã mang lại sự kiêu hãnh cho người mặc cũng như đưa đến niềm vinh dự cho người Việt trong nước cũng như tại hải ngoại.



Áo dài Le Mur[sửa]

"Le Mur" chính là cách dịch sang tiếng Pháp của Cát Tường, một họa sĩ vào thập niên 1930 đã thực hiện một cải cách quan trọng trên chiếc áo tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau mà thôi. Vạt trước được họa sĩ nối dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước đi đồng thời thân trên được may ôm sát theo những đường cong cơ thể người mặc tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo. Để tăng thêm vẻ nữ tính, hàng nút phía trước được dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo một bên sườn. Tuy nhiên, áo dài Le Mur có nhiều biến cải mà nhiều người thời đó cho là "lai căng" thái quá, như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thêm nữa áo Le Mur mặc cho đúng mốt phải với quần xa tanh trắng, đi giày cao, một tay cắp ô và quàng vai thêm chiếc bóp đầm. Lối tân thời này đã bị một số dư luận khi đó tẩy chay và cho là "đĩ thõa" (như được phản ảnh không hề thiện cảm trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng).

Cô Hòa Vân trong bộ y phục tân thời mùa Thu của Lemur  1938  -  Courtesy of Trịnh Bách

Mother and Child by Cat Tuong  1940  Courtesy of  Sotherby
             Tranh vẽ bà Cát Tường và cô con gái đầu lòng Nguyễn thị Minh Nguyệt.

KỂ CHUYỆN CŨ - ĐÀO PHƯƠNG DUNG




ĐÀO PHƯƠNG DUNG
Thảo ơi,

Được kể lại chuyện cũ thích quá.Hồi đó Điệp rủ tụi mình có cả Thảo ,và Mỹ Hoàng đi Vũng Tàu bằng tàu thủy do Hội Đạo của Mỹ Điệp tổ chức .Sáng sớm hôm đó có mặt ở bến Bạch Đằng,nhưng Điệp không ra kịp nên tất cả Diên ,Thảo , Hoàng và Dung cũng vẫn lên tàu thủy ..Ra tới VT,ổn định được phòng ốc rồi nhưng vẫn chưa thấy Điệp xuất hiện.Cho đến sáng hôm sau, mọi người phải tập trung trước sân để làm lễ theo đạo Thiên Chúa,Tụi mình chả biết đọc kinh nên cứ đứng dương mắt ra nhìn những người đọc kinh,tính của Thảo là động nên không chịu được,nhất định đòi ra khỏi nhóm cho được tự do bay nhẩy,thế là cả bọn hăng hái xin ra hết, đúng là con nít không biết lo toan,nghĩ sao là làm ngay.Tất cả tiền chi phí ăn ở sinh hoạt đều đóng cho nhóm tổ chức hết rồi, mỗi đứa chỉ còn một ít tiền dằn túi để tiêu lặt vặt ngoài biển,cũng không cần đòi tiền đi xe lượt về...Thế là cả bọn tung tăng được tự do đi ra ngoài,sau đó Hoàng đề nghị về nhà cô của Hoàng ngụ đỡ vài hôm vì nhà cô rất rộng,nhưng bàn nhau chỉ ở thôi ,còn tới bữa ăn,sẽ ra ngoài bãi chơi và ăn ở bãi để khỏi làm phiền cô của Hoàng..Kế hoạch tưởng tính hay lắm và thực hiện ngay..

Tất cả gom tiền lặt vặt của nhau lại,ăn uống chi tiêu đúng khoảng 2 ngày thì hết nhẵn..Hình như không ai cảm thấy lo sợ..Hết tiền thì cứ đi lang thang dọc theo hết bãi trước rồi ra bãi sau..nhưng lại không thấy ai than gì cả...Rồi buổi chiều đang đi lang thang thất thểu thì Thảo gặp 1 người bạn của anh của Thảo,anh ấy có nhã ý mời cả bọn đi ăn cơm chiều ( có 2 anh ),nhưng chắc vì sĩ diện nên đều nói có hẹn về nhà người quen ăn cơm,thế là anh nói: vậy khoảng 8 giờ tối nay các em ra bãi trước các anh sẽ đãi ăn kem ở kiosque... gì? (quên tên rồi Diên ạ).

Về tới nhà cô của Hoàng đói meo vẫn ráng nhịn.. thỉnh thoảng nhìn lên đồng hồ sốt ruột .. Đúng 6 giờ chiều thế là cả bọn hối nhau mau mau ra bãi trước ăn kem ( người ta hẹn 8 giờ,nhưng sốt ruột quá 6 giờ đã vội đi rồi ).Quán kem cách nhà chỉ khoảng 5 phút đi bộ.

Vào đúng quán rồi ,cả bọn ngồi chờ...5 phút rồi 10 phút..chưa được nửa tiếng, Thảo tuyên bố tụi mình cứ ăn kem trước thế nào anh ấy cũng ra ,không dám thất hứa với tớ đâu.( Diên biết không..ở nhà Thảo oai lắm ,là con gái út nên được cưng chiều,còn anh của Thảo rất hiền lại nghe Thảo răm rắp..Bạn của anh mà lơ mơ không đúng hẹn là về tới Saigon không thoát được tội với Thảo đâu..Thế là cả bọn yên tâm ngồi tì tì xơi kem mà trong túi không đứa nào còn đồng xu nào cả..

Ăn kem xong vẫn chưa đến 8 giờ...Thế là cứ ngồi đợi ..tiếp tục ngồi đợi ..lâu lâu cứ ngoảnh cổ ra ngoài ngóng anh ấy cứ như ngóng mẹ đi chợ về...( hậu quả là về tới nhà bị sái cả cổ)..Thật hú hồn, đúng 8 giờ ( không sớm hơn, không trễ hơn 1 ly nào cả), 2 ông anh quí hóa xuất hiện.. Thảo nói: Tụi em ăn kem xong rồi, bây giờ anh trả tiền rồi đi về..

2 ông này cũng hiền như anh của Thảo,đã răm rắp nghe lời Thảo, trả tiền và good bye nhau ..đi về nhà.

Để rồi sáng hôm sau lại lang thang ngoài bãi..và vẫn đói meo ( chắc vì sức trẻ nên chưa em nào bị đuối sức ). Thật là may, hôm đó Diên lại gặp cô bạn của Diên ( hình như cô ấy tên Hương ?). Cô ấy đi buôn bán với mẹ cô ở Vũng Tàu bằng xe hơi nhà loại camionette . Diên vội chụp lấy bạn và yêu cầu cho cả bọn đi nhờ xe về Saigon.Cô bạn tốt bụng đồng ý,và hẹn sáng hôm sau mọi người tập trung trước khách sạn..Cả bọn hí hửng thoát nạn.Tờ mờ sáng hôm sau tất cả đã có mặt tại khách sạn. Bước vào phòng mùi tôm rim thơm nồng nặc,hóa ra trước khi về ,bà mẹ đã nấu cơm ăn với tôm rim.Bác bảo: "Các cháu vào ăn luôn rồi về Saigon, nhanh lên.. " Cả bọn nhìn nhau ngần ngừ..đói lắm rồi đấy...Bác lại dục ăn lần nữa, thôi không can đảm từ chối được nữa, tất cả vào ăn.. chưa bao giờ thấy cơm ngon như ngày hôm đó...

Tới lúc cũng được lên xe, thở phaò nhẹ nhõm ,xe bon bon vừa ra ngoại ô Vũng Tàu thì xe dở chứng nhất định không nhúc nhích nữa..Xe được kéo tới garage thì họ bảo phải để xe lại sửa nhưng sáng mai mới lấy được.

Bây giờ thì chịu hết nổi rồi..cả bọn không thể đợi được dến mai nữa vì đã từ giã cô của Hoàng rồi ,không thể quay về đó được nữa.

Tụi mình lại đứng ở đường để đón xe đò, gặp được xe đò vẫy tíu tít.. Yên vị trên xe rồi, tưởng đã thoát không ngờ lơ xe đến hỏi tiền mua vé...Không đứa naò còn đồng nào..Nhưng lơ xe thật tử tế ..mắng té tát cả bọn xong nhưng không đuổi xuống mà chỉ bắt ngồi xuống sàn xe ( thời đó chở quá quy định chỗ ngồi là bị phạt ,nên lơ xe bắt cả nhóm không được ngóc đầu lên ).

Về tới hàng xanh gần nhà Diên, mọi người xuống. Diên bảo tụi mình có thể gọi taxi về nhà Diên sẽ có tiền trả. Và cuối cùng ba của Diên phải chở từng nhóc đứa nào về nhà đứa đó... Chấm dứt hết chuyện rồi Diên ạ.KHông biết Thảo và Hoàng còn nhớ chuyến du lịch VT không tiền khoáng hậu đó hay không ?






















































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Jun 9, 2013

GIA CHÁNH CUỐI TUẦN-Chỉ cần 5 phút để rút xương gà

Chef Jacquecs Pepin hướng dẫn cách rút xương gà rất nhanh chóng chỉ cần 5-10 phút 
Chúc bạn có món gà rút xương thật hấp dẫn.....

Jun 8, 2013

Anh Mới Biết Yêu Lần Đầu

                                             
 
                            Anh Mới Biết Yêu Lần Đầu
 
Truyện của PHƯƠNG LAN  qua các giọng đọc NGUYỄN HỮU NHUNG, ẢI LAN và CHÂU HIỆP                      
                                                    RedRose    
                                  Lá Diêu Bông Mix     
 
                                                             ~~~~~~~~~~~~~~~
           Bài viết Anh Mới Biết Yêu Lần Đầu - Phương Lan
 
Năm 1954, khi hiệp định Geneve được ký kết để phân đôi Nam, Bắc thì tất cả các cơ sở, trường học của chính quyền Quốc gia đều được di chuyển  vào miền Nam.  Chính thời điểm này và tại mảnh đất hiền hoà của miền Nam thân thương này, là nơi đã nhen nhúm mối tình đầu thầm kín của tôi.
Niên khóa năm 1955 - 1956, tôi mới mười ba tuổi và học lớp đệ lục (tức lớp 6 ) trường Chu Văn An.  Trường tôi tuy là trường nam sinh, nhưng riêng các lớp lớn như đệ nhị, đệ nhất  thì học chung cả nam lẫn nữ sinh.  Nguyên do là vì bên trường Trưng Vuơng, cơ sở chưa tổ chức kịp nên chỉ thâu nhận học sinh đến lớp đệ tam.  Nữ sinh các lớp cao hơn, đặc biệt là các ban ban sinh ngữ - triết học, và ban khoa học thực nghiệm, phải qua học nhờ bên trường Chu Văn An.  Do đó nên mới khởi sinh ra những cuộc tình thơ mộng giữa học sinh hai trường, và mối thân tình giữa trường Chu Văn An và Trưng Vương cũng bắt đầu từ đấy, rồi quen lệ cứ tiếp diễn mãi, đến các thế hệ đàn em sau này.
Tôi được quen chị Kim, năm đó chị trạc độ mười tám, mười chín tuổi và đang học lớp đệ nhất. Tôi bắt đầu chú ý đến chị hôm nhà trường tổ chức văn nghệ vào dịp Tết nguyên đán.  Chị Kim ở trong ban ca múa, hôm đó chị hát bài “ Hướng về Hà Nội. ”  Giọng chị trong vắt, ngọt ngào, vút cao hoà với tiếng đàn.  Tiếng hát của chị làm rung động biết bao con tim của những kẻ tha hương, nhớ về thành phố cũ thân yêu, giờ đã cách xa nghìn trùng.
Tôi đứng im lặng, chiêm ngưỡng chị lộng lẫy trong áo dài màu vàng nhạt, trông thật là đẹp với mái tóc óng ả, đen như mun buông dài đến ngang lưng, một chút son hồng trên môi và nụ cười thật tươi…Tôi về, ngẩn ngơ hết cả buổi, và từ đó mỗi buổi sáng khi đứng xếp hàng chờ vô lớp, tôi thường say sưa ngắm chị xinh đẹp, tha thướt trong áo dài bằng tơ màu trắng.  Tôi về mộng mơ và tôi bắt đầu làm thơ, những trang vở học trò kín đầy những vần thơ yêu với lời lẽ ngây ngô, những lá thơ tình không bao giờ gởi.  Có những ngày chị Kim không đi học, thì suốt buổi hôm đó tôi cũng chẳng học hành gì được, đầu óc để tận đâu đâu, tôi thả hồn theo tưởng tuợng, băn khoăn tự hỏi giờ này chị đang làm gì nhỉ? chị đau ốm gì chăng?  Hay là..? tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp, hay là chị gặp tai nạn trên đường đi đến trường?  Ruột tôi thắt lại vì lo, đầu tôi quay cuồng với bao nhiêu câu hỏi, tôi chỉ mong chóng đến giờ tan học để chạy bay đến nhà chị.  Nhưng đứng trước cổng, tôi lại ngập ngừng không dám vào, không biết viện lý do gì để đến nhà chị, tôi đành đứng rình trước cổng, mong được thấy bóng chị ra vào để yên tâm. Chờ hoài chẳng thấy chị đâu, trời chợt đổ mưa tầm tã, tôi đành phải ra về, quần áo, tóc tai đều ướt nhẹp.  Hôm đó, tôi bị cha tôi đánh cho một trận nên thân, về tội tan học không về nhà, còn mải đi chơi.  Tuy đau, nhưng tôi không hề hối hận, và vẫn cho hành động của mình chẳng có gì sai trái.  Cha tôi làm sao hiểu được những ý nghĩ trong đầu tôi? 
Dạo này tôi thấy mình thay đổi khá nhiều, rõ ràng là đã qua thời kỳ trẻ con, tôi chán hết những trò đá dế, đánh banh, mà chỉ thích đọc sách.  Những tiểu thuyết tình làm tôi mơ mộng, thương nhớ vu vơ, tôi nghĩ về tình yêu và tôi nghĩ đến chị Kim… Bấy giờ đang là mùa mưa, Sài Gòn có những cơn mưa nhẹ nhưng dai dẳng triền miên, tưởng không bao giờ dứt, màn mưa che mờ cảnh vật, không gian như chìm lắng.  Mưa buồn lê thê, hay chỉ tại lòng tôi đang cô đơn?  Ngồi bên cửa sổ, ngắm những sợi nước nghiêng nghiêng như đan mành, chao qua, chao lại theo mỗi cơn gió, lòng chợt man mác một nỗi buồn không tên, cậu bé mười ba đã hết vô tư rồi.  Mưa vẫn rơi miên mang không ngừng, mưa rơi tí tách trên mái hiên, mưa nhỏ giọt trên cành lá đong đưa trước cửa sổ, nhìn những giọt mưa như những hạt ngọc trong vắt, bỗng dưng tôi liên tưởng đến đôi mắt của chị Kim cũng long lanh, ướt át, đẹp lạ lùng.  Tôi mê nhất đôi mắt của chị, vừa dịu dàng vừa tình tứ, tôi đọc thấy trong đó những tình cảm nồng nàn chị dành cho tôi, hay tôi tưởng thế?  Mỗi khi nghĩ đến chị Kim là lòng tôi lại xôn xao những cảm giác khó tả, tâm tư tôi đầy ắp hình ảnh của chị, bóng dáng chị ám ảnh tôi đêm ngày, ngay cả trong những giấc mơ. Tôi băn khoăn tự hỏi hay là mình đã biết yêu? chắc vậy, tôi chắc lòng mình đã yêu chị Kim mất rồi.
Chị Kim không biết có hiểu tình cảm của tôi không, nhưng mỗi khi bắt chợt tôi đang ngây người đứng ngắm chị, chị thường mỉm cười và đôi khi còn thưởng cho tôi mấy cái xoa đầu, hoặc vỗ nhẹ vào vai khiến tôi đỏ mặt, vừa sung sướng vừa mắc cở.  Xưa nay tôi chưa hề có cảm giác đó bao giờ, mẹ và các chị lớn thỉnh thoảng vẫn vuốt ve hoặc ôm tôi vào lòng, tôi chẳng thấy có gì khác lạ.  Thế mà không hiểu sao khi tay chị vừa chạm vào vai, tôi bỗng có cảm giác như một luồng điện vừa chạy qua khiến tôi rùng mình, tim đập như trống làng và người thì nóng bừng lên trong một cảm giác thích thú lạ lùng.  Tôi về sung sướng hết cả ngày hôm đó.  Nhà tôi ở khác phố với chị Kim, và tôi vẫn cuốc bộ tới trường, nếu đi lối tắt thì không xa lắm, nhưng tôi chẳng quản ngược đường, ngày nào đi học cũng đi vòng qua nhà chị. Tôi thường đi rất sớm để được núp sau một gốc cây, lén lút ngắm chị lúc chị dắt xe đạp ra khỏi cổng.  Buổi sáng, trông chị tươi mát trong áo dài lụa, tóc thề xõa ngang vai, làn da trắng mịn và đôi môi đỏ tự nhiên, tôi thấy chị đẹp như công chúa trong truyện cổ tích đời xưa, đẹp như tiên giáng thế…
Chị ra trễ cách mấy, tôi vẫn chờ và khi chị lên xe đạp đi rồi, tôi mới chạy vắt giò lên cổ cho kịp giờ vô lớp.  Có một lần thấy tôi tới trường vừa chạy vừa thở, mặt mũi đỏ nhừ, chị thương hại hỏi:
-         Sao hôm nào Phan cũng đi trễ để phải chạy toát mồ hôi vậy?
Tôi ấp úng nói dối:
-         Tại tối hôm qua em thức khuya học bài nên sáng nay dậy muộn.
Chị cười hiền hậu:
-         Những hôm nào trễ thì cứ ghé chị, chị chở đi học.
Tôi mừng như mở cờ trong bụng, thế là từ hôm đó ngày nào tôi cũng “ thức khuya, dậy trễ ” và như vậy ngày nào tôi cũng được chị Kim chở đi học.  Ngồi trên yên sau xe đạp của chị, tôi cố gắng không dám cử động mạnh sợ chạm vào người chị, nhưng tôi phồng mũi hít hương thơm từ tóc chị theo gió bay ngược lại.  Chị Kim không xức nước hoa, nhưng gội đầu bằng bồ kết pha với chanh nên tóc chị có mùi thơm là lạ.  Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ mùi hương đặc biệt không đâu có, không nước hoa nào sánh bằng, đó là mùi hương tóc của thiếu nữ Việt Nam.
Tôi hay tìm dịp đến nhà chị chơi, khi thì đem cho chị mượn vài cuốn truyện, khi thì nhờ chị giải đáp cho một bài toán khó, khi thì… chẳng có lý do gì cả.  Lúc nào chị cũng vui vẻ tiếp đón, có khi chúng tôi ngồi với nhau cả buổi, tỉ mẩn ngắt từng cái lá sâu của cây hồng tầm xuân ngoài vườn.  Chị Kim thích hoa lắm, mảnh sân phía sau là chỗ phơi quần áo, không rộng lắm, thế mà chị đã chừa ra hơn phân nửa đất để trồng toàn hồng.  Mùa hè, hồng trổ bông rực rỡ, chị thường ra vườn đứng ngắm cả giờ không chán, và trầm trồ khen ngợi:
-         Đẹp quá, ngắm hoa thấy mát dịu cả tâm hồn.
Tôi chẳng thấy mát dịu tí nào khi ở ngoài nắng như thế này, nhưng nhìn khuôn mặt rạng rỡ của chị, tôi cũng thấy sung sướng.  Vui theo niềm vui của chị, tôi hăng hái đi lấy thùng, xách nước tưới cây, hai chị em vừa làm việc, vừa nói chuyện vẩn vơ.  Một lần chị Kim hỏi:
-         Sau này lớn lên Phan sẽ làm nghề gì?
Bị hỏi bất chợt, tôi lúng túng:
-         Em… em cũng chưa biết, nhưng chị, chị sẽ làm gì?
-         Chị à? chị chỉ thích làm cô giáo thôi, vì chị yêu nghề dạy học.
Tôi vui vẻ nói liền:
-         Nếu vậy em sẽ làm học trò, học trò của chị.
Chị cười:
-         Bộ Phan muốn là học trò mãi sao?
Được dịp, tôi thố lộ:
-         Mãi mãi, nếu chị vẫn là cô giáo!
Mỉm cười, chị đập nhẹ vào vai tôi, mắng yêu:
-         Điên hay sao, Phan? Con trai phải học giỏi, phải đi du học ngoại quốc, phải trở thành bác sĩ, kỹ sư…
-         Em khác, em cũng muốn trở thành bác sĩ, kỹ sư. Nhưng…
-         Nhưng sao?
-         Nhưng… em không muốn xa chị! 
Thốt xong câu “ tỏ tình ”, tôi xấu hổ, mặt mũi đỏ bừng không dám nhìn chị mà giả vờ ngó đi chỗ khác.  Chị Kim cười hồn nhiên, lắc đầu không hiểu, có lẽ chị cho rằng tôi còn trẻ con hoặc dở hơi, chị đâu có ngờ hình ảnh của chị đã ghi sâu vào tâm hồn của cậu trai mới lớn ngay từ phút ban đầu.  Không biết  tỏ cùng ai, tôi đành gởi tâm sự qua tiếng đàn.
 Cuối niên học đó chị Kim thi đậu tú tài toàn phần.  Chị mừng lắm, nhưng tôi lại buồn vì lòng tôi ích kỷ, tôi chỉ mong chị rớt vì nếu đậu rồi, chị sẽ không còn học chung trường với tôi nữa.  Tôi bùi ngùi nhớ tiếc những ngày được chị đón đưa đến trường, lòng tôi quặn thắt, nhớ sao là nhớ, tiếc sao là tiếc… Trước khi bãi trường, các lớp đều tổ chức một buổi tiệc mãn khoá, trao quà kỷ niệm.  Nhân dịp này, tôi tặng chị Kim một bộ sưu tập tem thơ mà tôi quí nhất đời, tôi xin chị một tấm ảnh và yêu cầu chị viết vài trang vào tập “ lưu bút ngày xanh ” của tôi.  Chị Kim tặng lại tôi một quyển tập đầy những hoa ép khô rất khéo và mỹ thuật chị tự tay làm lấy, chị dơ lên cho tôi xem vài bông phượng đỏ mới ép, nói giọng buồn buồn:
-         Những bông phượng vĩ cuối cùng đời học trò của chị đấy!
Tim tôi nao lên, cảm thấy như sắp đánh mất một cái gì quí giá, tôi ngó chị lom lom:
-         Tại sao thế? chị thôi học luôn à? chị không học lên nữa sao?
-         Có lẽ không, hoàn cảnh của chị học như vậy tạm đủ rồi.  Chị nghĩ có lẽ chị phải đi tìm việc làm để phụ thêm với mẹ chị, còn Phan ở lại, cứ tiếp tục học cho giỏi nhé?
Tôi rụt dè:
-         Nhưng mà, chị Kim ơi! em… em nhớ chị lắm!
Chị vuốt tóc tôi:
-          Chị cũng vậy, thỉnh thoảng Phan cứ đến chơi, có ai cấm đâu nào?
Chị không cấm, nhưng tôi vẫn không giữ chị được lâu, vì chỉ một năm sau chị Kim đã có người yêu, đó là anh Thiện, một sinh viên năm thứ tư trường thuốc, chị quen anh ta trong dịp hai người cùng đi dự một đám cưới.  Anh Thiện hai mươi lăm tuổi, người cao lớn, vẻ hoạt hoạt bát trí thức, sánh với chị ai cũng bảo xứng đôi.  Nhưng tôi cảm thấy không ai đáng ghét hơn anh Thiện, bởi vì tôi yêu chị Kim nên tôi ghen, tôi tìm những khuyết điểm của anh Thiện để phóng đại lên gấp mười, tôi hỏi chị Kim:
-         Tại sao chị ưng anh Thiện? người gì cặp mắt lúc nào cũng nháy lia, trông gian lạ.
Chị hơi đỏ mặt:
-         Tại anh ấy cận thị, bỏ kính ra nó như vậy, chứ… đâu có…
Tôi tức mình xổ cho một tràng:
-         Phải, đối với chị, cái gì của anh Thiện mà chả đẹp? ngay cả hàm răng đứng trú mưa ba ngày không ướt của anh ấy, chắc cũng đẹp?
Chị Kim giận lắm, cau mặt mắng:
-         Chị cấm Phan khôngđược phê bình anh ấy kiểu đó.
-         Hừ! chị lú ruột rồi, động một tí là bênh.
Chị tức tới phát nghẹn không nói được, một lúc sau mới thở dài:
-         Phan bậy lắm, lần sau không được nói năng như vậy nữa, chị giận.
Thấy chị rơm rớm nước mắt, tôi hối hận và vội vàng xin lỗi chị.
Chị Kim yêu anh Thiện lắm, chỉ cần nhìn nét mặt rạng rỡ và đôi mắt long lanh tình tứ của chị mỗi khi nhìn anh ta, là tôi lại tức điên lên, nhưng không làm gì được, tôi chỉ biết đau khổ cho sự yếu thế của mình.
Niềm riêng dấu kín trong lòng, chẳng ai buồn để ý tìm hiểu tâm trạng của tôi, bởi vì đối với chị Kim, với anh Thiện, với tất cả mọi người, tôi chỉ là một thằng nhãi.  Anh Thiện trước kia yêu chị Kim say mê, nhưng không hiểu sao càng ngày anh càng lơ là dần, và chẳng bao giờ đề cập đến chuyện cưới xin.  Có lẽ anh cho rằng anh là một thanh niên có địa vị - một ông bác sĩ tương lai - lại con nhà danh giá, thiếu gì gái đẹp, nhà giàu chạy theo? còn chị Kim chỉ được cái nhan sắc, nhưng nhà nghèo, lại mồ côi cha…  Anh làm một con tính, suy xét thiệt hơn, anh thấy là anh dại và anh rút lui từ từ, thưa dần đi lại.  Có một lần anh hẹn, nhưng không đến, làm chị Kim thở ngắn, thở dài, đi ra đi vào, chốc chốc lại nhìn đồng hồ, sáu giờ, rồi bẩy giờ, anh vẫn không đến… Chị Kim nhìn mâm cơm thịnh soạn chị  mất công bỏ cả buổi chiều để trổ tài nấu nướng, bây giờ đã nguội ngắt, chị tủi thân, ứa nước mắt khóc. Tôi đau đớn nhưng đành nén lòng dỗ chị:
-         Chị đừng khóc nữa, chắc anh kẹt chuyện gì đó thôi.  Hay là… chị để em đi tìm, em thử đến nhà anh ấy xem sao nhé?
Chị Kim tươi ngay nét mặt:
-         Ừ, phải đấy! Phan đi giúp chị xem sao? chị là con gái, đến nhà anh ấy không tiện.
Thế là tôi bèn lấy xe đạp, cắm cúi đạp gần năm cây số mới đến nhà anh Thiện để bắt gặp anh ta đang tươi cười âu yếm với một cô gái khác.  Thấy tôi đến, anh ngạc nhiên:
-         Gì thế Phan? có chuyện gì vậy?
Tôi khều anh ra ngoài, nói nhỏ:
-         Anh quên là có hẹn với chị Kim sao? chị ấy đang đợi cơm anh ở nhà.
Anh Thiện à lên một tiếng rồi vỗ trán:
-         Ừ nhỉ, anh quên mất thiệt.
Nhưng rồi chợt liếc vào phòng khách có cô bạn đang ngồi, anh nói khẽ:
-         Nhưng anh kẹt rồi, anh lỡ hẹn sẽ đi coi xi nê với cô bạn kia.
Tôi giận lắm:
-         Anh coi thường chị Kim quá, anh có biết chị ấy đang khóc lóc? chị ấy chờ anh đã ba, bốn tiềng đồng hồ rồi…
Anh Thiện nghiêm ngay nét mặt:
-         Giữa anh và chị Kim đã có gì ràng buộc đâu? Anh chưa hứa hẹn  chi cả, anh coi Kim cũng như các cô bạn gái khác.
À ra thế, tôi chua xót nghĩ thầm và thương chị Kim vô hạn, chị đã yêu anh Thiện với tất cả say đắm của mối tình đầu, chị hy vọng được cùng anh xây dựng gia đình, chị mù quáng trong tình yêu vô vọng.  Chị không biết rằng anh ta là một người tính toán, anh theo đuổi chị, chỉ vì chị đẹp và tính anh thích đi chinh phục, nhưng cưới chị thì anh không cưới, chỉ vì chị nghèo.  Người vợ anh cưới phải đem lợi lộc đến cho anh, không thể là một cô gái trắng tay như chị Kim.  Tôi bẽ bàng ra về, quên cả chào, anh Thiện nói với theo:
-         Biểu với chị Kim tuần sau anh đến.
Tôi muốn nói thẳng vào mặt anh “ đừng đến nữa, chị tôi không thèm, chị tôi không cần cái bản mặt sở khanh của anh đâu. ”  Nhưng tôi đành im lặng, tôi không dám nói, tôi không đủ tư cách để nói, bởi vì chị Kim không chiếm một vị trí nhỏ nào trong tim anh cả.  Trở về nhà chị Kim, không nỡ để chị thất vọng, tôi phải nói dối rằng không gặp anh Thiện và người nhà nói rằng anh phải đi trực dùm cho một người bạn bị đau bất ngờ, chị Kim có vẻ yên lòng với lời giải thích ấy.  Nhưng lâu dần rồi chị cũng hiểu vì càng ngày anh càng tỏ ra lơ là, và đã mấy lần chị bắt gặp anh ta đang cặp tay dạo phố với một cô gái khá đẹp.  Chị Kim buồn, một cái buồn âm thầm nhưng da diết, chị không khóc, nhưng thường ngồi im lặng hàng giờ, mắt nhìn xa vắng. 
Mặc dù trong thâm tâm, tôi rất hả hê về sự rút lui của anh Thiện, nhưng thấy chị sầu não, tôi không đành lòng. Tôi lăng xăng bên cạnh chị, cố làm mọi cách cho chị vui, tôi đem đủ thứ chuyện ở trường ra kể cho chị nghe, từ chuyện ông giáo sư dạy toán, cận thị nặng, bị học trò dấu mất cặp kính, đến chuyện một tên học trò bị kêu lên trả bài trong lúc đang ăn vụng, chuyện một nữ giáo sư trẻ trong lúc đang giảng bài thì bị rơi mất hàm răng giả v..v.. Chị bật cười và quên buồn trong chốc lát.
Ngoài giờ phải đi học, chúng tôi quấn quít bên nhau suốt ngày, đó là thời kỳ tôi sung sướng nhất, vì chị Kim chẳng yêu ai, chị chỉ có một mình tôi.  Chị thường đến nhà để kèm cho tôi học, niên học đó tôi luôn luôn đứng đầu lớp.  Cha mẹ tôi mừng lắm, còn tôi, tôi ước ao sẽ chẳng bao giờ chị Kim đi lấy chồng và chúng tôi cứ sống bên nhau như thế này mãi, suốt đời… Ước mong của tôi chẳng bao giờ thành sự thật vì đến năm tôi lên đệ tứ, sắp sửa thi trung học thì chị Kim đi lấy chồng.  Cái ngày mà tôi lo sợ đã tới, chị Kim không thể sống mãi với mối tình tuyệt vọng, chị không thể yêu mãi một người không xứng đáng, chị sợ tuổi xuân qua đi nên bằng lòng làm vợ một thương gia đứng tuổi, do một đám mai mối.  Ông Hợp tuổi gần bốn mươi, giàu có, đứng đắn và chân thật, mới gặp chị Kim vài lần đã tính ngay đến việc cưới hỏi, đám cưới sẽ rước dâu về tận Rạch Giá. Thế là chị Kim đi lấy chồng, đột ngột và nhanh chóng tới nỗi tôi không kịp chuẩn bị tinh thần để hiểu rằng từ đây chị sẽ xa tôi vĩnh viễn.
Ngày chị lên xe hoa, tôi nằm nhà khóc xưng cả mắt.  Tôi buồn bã dở quyển
“ lưu bút ngày xanh ” đọc lại những dòng chị viết, ngắm lại mấy bông hoa phượng ép khô ngày trước.  Bao nhiêu kỷ niệm cũ hiện về, từ ngày quen biết đầu tiên, những buổi sáng đón đưa nhau tới trường, ba năm thân ái… tất cả đã đi vào dĩ vãng, tất cả sắp xóa mờ, sắp mất hết, chỉ vì chị Kim đi lấy chồng!  Tôi hờn dỗi gom những bông hoa khô thành một gói, đem đến nhà chị quăng trả, chị nhìn tôi ngạc nhiên:
-         Gói gì đó em?
-         Hoa phượng ngày xưa của chị đấy, em trả lại.
Chị lắc đầu:
-         Phan trẻ con quá!
Tôi giận dữ:
-         Em không trẻ con!  Chính chị, chị mới vô tình, chị không bao giờ hiểu được em đâu.
Chị chỉ lắc đầu không nói gì cả, nhưng nhìn mắt chị, tôi biết chị không hiểu thật, vì lúc nào chị cũng coi tôi như một đứa trẻ, những tình cảm chị dành cho tôi chỉ là tình cảm của một người chị đối với đứa em trai nhỏ, chỉ có thế… Chị đi lấy chồng, rồi đây sống cuộc đời bận rộn những bổn phận làm vợ, làm mẹ, liệu chị có còn thì giờ nghĩ đến tôi? một thằng bé dở hơi như chị vẫn thường nói.  Riêng tôi, tôi vẫn ấp ủ hoài những kỷ niệm thân thương ngày cũ, bóng dáng thân yêu của chị, và cả một quãng đời quá khứ êm đềm đã đi sâu vào ký ức, không bao phai mờ cả.
Mười năm sau tôi mới gặp lại chị Kim, bấy giờ chị đã có ba con, trông chị vẫn đẹp, nhưng già dặn hơn xưa, còn tôi đã là một thanh niên trưởng thành.  Nhắc lại những kỷ niệm cũ, chúng tôi đều bùi ngùi nhớ tiếc dĩ vãng, chị Kim bảo:
-         Chóng thật, mới dạo nào… Bây giờ Phan đã thành người lớn rồi.
Tôi muốn nói “ chị không biết ư? em đã thành người lớn từ lâu rồi, từ dạo ấy, nghĩa là từ ngày em biết yêu, em yêu chị… ” Nhưng tôi đã không nói, đừng nói thì đẹp hơn, chị Kim chưa bao giờ hiểu, mãi mãi không bao giờ hiểu.  Phải, chị hiểu thế nào được mối tình của cậu bé mười ba tuổi?
Mười năm sau nữa, tôi mới lấy vợ, một cô nữ sinh Trưng Vương rất đẹp và duyên dáng, kém tôi tới mười tuổi ( lại cũng con số mười định mệnh )
Những buổi tối êm đềm, bên ánh đèn ấm cúng, chúng tôi thường nói chuyện ngày xưa khi còn thơ ấu.  Tôi kể cho Tâm Đan nghe mối tình thuở học trò, nàng nghe xong không nói gì cả, nhưng nhân dịp hai vợ chồng đi ăn cưới một người bạn của tôi, một đại uý phi công hào hoa phong nhã, nhưng cứng rắn có tiếng, người đã từng anh dũng tuyên bố “ không bao giờ để mất tự do, nghĩa là không bao giờ để lọt vào ổ phục kích của các bà .”  Con người hiên ngang, cao gần thước tám, trên không tung hoành, coi trời bằng vung, không sợ ai hết, bây giờ trông khốn khổ trong khăn đóng áo dài, xì xụp lên bái, xuống bái trước bàn thờ gia tiên nhà vợ, chỉ cốt để xin được bàn tay ngọc của một người đẹp cũng dân Trưng Vương.  Tâm Đan mỉm cười, kề tai tôi nói nhỏ:
-         Thấy chưa? đứng trước nữ sinh Trưng Vương, anh hùng hào kiệt nào cũng đều xếp giáp qui hàng hết, làm rể Hai Bà đâu phải dễ?
Thấy tình cảnh của anh bạn, tôi bỗng chợt nhớ đến cái quá khứ chưa xa lắm, cái quá khứ vẫn làm cho vợ tôi kiêu hãnh, đó là thời kỳ tôi theo đuổi nàng, cũng cực khổ trần ai không kém, được dịp báo thù, tôi nghiến răng, xả hết nỗi uất ức:
-         Tưởng gì, các bà có điệu bộ cách mấy, rồi rút cục cũng bị chúng tôi xỏ mũi dắt đi.  Chiến đấu có gian khổ, thì chiến thắng mới vinh quang.  Bây giờ có phải giả dại qua ải thật đấy, nhưng sau cùng, người thắng cuộc vẫn là chúng tôi.
Tâm Đan vẫn cười, một nụ cười rất đẹp - ôi nụ cười, một võ khí ghê gớm của đàn bà, tự cổ xưa vẫn làm bao kẻ anh hùng phải xiêu hồn, lạc phách - Liếc nhanh mọi người chung quanh, thấy không có ai chú ý, nàng bèn êm ái nhéo cho tôi một cái đau điếng:
-         Chưa biết ai thắng, ai bại à nghe? người nào giả dại kiểu đó cũng thành dại thiệt.  Để coi!
Ấy, chỉ có thế mà má bầy trẻ bắt đầu tuyên chiến.  Tối hôm đó, nàng đem hết mùng mền, chăn gối của tôi ra phòng khách, bắt phải ngủ riêng:
-         Để xem ai cần ai cho biết!  Người chiến thắng không bao giờ phải cầu lụy đối phương, hễ van xin là thua cuộc.
A! thì ra bà ấy định chơi trò trường kỳ kháng chiến!  Chơi thì chơi sợ gì? tôi nhủ lòng nhất định không ngán.  Nhưng tôi chỉ làm gan được hai tuần, hai tuần mà sao lâu như hai thế kỷ?  Sau cùng, chịu hết nổi cuộc chiến tranh lạnh kéo dài tưởng như không bao giờ chấm dứt, trong lúc đó địch thủ của tôi vẫn phây phây ra vào, trông ngứa mắt không thể tả. Tôi bèn nén tự ái, hạ mình năn nỉ:
-         Thôi được, cho em thắng!
Tôi thua cuộc, nhưng trong lòng vẫn ấm ức, vì thật ra giải quyết vấn đề ai thắng ai như vậy không công bằng, nghĩa là trong thâm tâm, tôi vẫn không công nhận bà ấy thắng.  Nhưng thôi nhịn một tí cho vui cửa, vui nhà.  Khổ nỗi, nàng không biết tôi nhịn, nên vẫn kiêu hãnh với chiến công và vẫn tuyên bố rằng: việc cho giảng hoà là một “ việc thiện ” để ban ân, bố đức cho địch thủ.  Tôi tức ấm ách mà cứ phải làm thinh, rõ là đàn ông chỉ mạnh về sức vóc bề ngoài, chứ bên trong, lòng dạ ông nào cũng mềm yếu lắm, nhất là đối với phụ nữ.  Xét cho cùng, nhường nhịn vợ chưa chắc đã là dại,  bởi vì các bà chỉ muốn dành phần thắng, thì cứ cho các bà ấy thắng, mình thua nhưng có thiệt đâu? bởi vì mất cái này, thì sẽ được cái khác bù lại.  Sau mỗi lần giận nhau, cuộc làm hoà nào mà chẳng đưa đến kết cuộc vui vẻ?
Bây giờ, sau mấy chục năm sống chung, ngồi tính sổ đời, tôi phải công nhận rằng tôi đã ơn vợ tôi rất nhiều, vì những gì nàng đã cho tôi.  Trải qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, nàng vẫn sát cánh bên tôi, chia xẻ ngọt bùi, an ủi khi tôi sa cơ thất thế, nâng đỡ khi tôi vấp ngã, và… công ơn lớn nhất của nàng là đã sanh cho tôi những đứa con, trai gái đủ cả, đứa nào cũng thông minh, xinh đẹp và giống bố… Với đôi bàn tay nhỏ bé, yếu đuối, nàng đã góp sức với tôi cùng chèo lái, đưa con thuyền bé nhỏ vượt qua bao nhiêu sóng gió, đến bến bờ hạnh phúc bình yên.  Vợ tôi là dòng suối mát mùa hạ, là tình nồng ấm áp mùa đông, là người bạn đồng hành không thể thiếu, là tất cả những gì quí giá nhất trên thế gian này.  Biết nói gì đây để tạ tình em? người bạn đường yêu quí ơi! xin cám ơn em đã cho anh hạnh phúc lứa đôi, xin cám ơn em đã đi bên anh trong suốt cuộc đời.
 
PHƯƠNG - LAN

Trần Năng Phùng chuyển

Jun 6, 2013

TẠP GHI THÁNG SÁU - Bích Quy



                                                            Bích Quy
               
        
               Thoắt cái đã nửa năm rồi,  Tháng sáu lại về, cứ y như hết xuân thì phải đến hạ thôi.  Mùa xuân là mùa của hoa . Hoa nở tràn khắp nơi, đi đâu người ta   cũng cảm nhận được cái tưng bừng của hoa , lòng người cũng rộn rã theo hoa mà hy vọng một năm mới tốt đẹp.  Rồi hoa cũng khép lại để đến tháng sáu lại kết tụ thành quả. Chao ơi, cứ ra đến chợ là thấy trái cây ngập tràn. Có những thứ trái có quanh năm như cam, chuối, đu đủ...nhưng có những trái chỉ khoảng tháng sáu mới nhiều và ngon như trái vải, trái bơ, mơ, măng cụt, sầu riêng....Cứ thấy những trái ấy thì biết là đã giữa năm rồi.

              Những cơn mưa đầu mùa tháng sáu lúc ngập ngừng, lúc hối hả xua đi cái nóng hầm hập vừa qua làm cho không khí cũng dịu bớt cái ngột ngạt  khó thở  ở  Saigon.  Tháng sáu cũng cùng với muôn thí sinh hồi hộp với các kỳ thi tốt nghiệp THPT và Đại học  và cả những ông bố, bà mẹ vất vả chạy chỗ cho con vào trường mầm non, lớp một hay lớp sáu.
             
               Tháng sáu lại là tháng có Father's Day  để mà  tưởng nhớ đến Bố, đến người Cha trong gia đình .    Người cha kính yêu của bạn Mỹ Nga đã ra đi trong tháng ̉6 làm cho các bạn mất cha nức nở nhớ đến cha mình. Các bạn còn cha thảng thốt yêu quý cha mình hơn,  mong cha mãi mạnh khỏe để được phụng dưỡng cha già .   Biết bao câu chuyện cảm động về cha lại được các bạn Thảo UL, Mỹ Nga, Hảo Chi , HAT ....chia sẻ .  Không người cha nào giống nhau nhưng cùng chung nhau một điểm  là yêu thương con cái mình và có nhiều kỷ niệm với con để con nhớ mãi...

                Tháng sáu là tháng mở đầu cho cái sự mừng sinh nhật các bạn trên ĐSTV . Thấm thoát mà đã một năm rồi, tháng sáu lại quay trở lại.  Tháng sáu lại là ngày sinh nhật của bao bạn bè ,  đặc biệt là những bạn ưa thích viết văn.  Chẳng hiểu sao lại cũng tụ hội vào tháng sáu , này là Thảo UL , Hảo Chi, Mỹ Điệp, HAT....và nhiều bạn khác không viết văn thì là bạn đọc văn...

           Liên Hương với bài thơ chúc mừng các bạn thành một "đặc sản" có tên là thơ Phồng Hương Hoe .  Mình không hiểu lắm chữ Phồng, chỉ đoán là ai có tên trong thơ cũng đều Phồng ...mũi vì được khen  và  ai cũng hiểu là bạn làm  thơ tặng  mình với cả trái tim yêu thương. Rồi bạn Mai Nguyễn lại nghĩ đến bạn mà nối tiếp bài thơ của Hương Hoe như tình bạn ngày càng bất tận không dứt , thật là cảm động.  Bạn Phương Hà lại còn làm bánh kem hoa hồng tuyệt đẹp mà chỉ Mỹ Điệp may mắn ở gần được thưởng thức còn các bạn khác chỉ nhìn mà thèm. Không sao, dù ăn trong tưởng tượng nhưng cũng cảm thấy no lòng với sự  tỉ mỉ , chịu khó vừa làm vừa nghĩ đến các bạn của Hà.  Các bạn không sinh tháng sáu khác thì vui vẻ chúc mừng bạn mình làm ấm lòng những bạn phương xa.

         Dù cho mỗi người một hoàn cảnh, một sức khỏe khác nhau. Thêm một tuổi là mệt thêm một chút, lười thêm một chút, ăn kém đi một chút và ...quên đi một chút. Cơ mà, lạ kỳ thay bạn bè thì lại không quên

          Tuy khác nhau về địa lý, có khi xa nhau đến cả nửa vòng trái đất, nhưng ai cũng   rất vui vì biết rằng đâu đó trên quả đất này vẫn còn những người bạn đang nghĩ đến nhau, đến tình bạn hơn nửa thế kỷ nay.  Thật quý lắm thay.