Jan 19, 2013

Lời hay qua ảnh đẹp

Tình thương có sự hiểu biết thì sẽ không tàn lụi.
 
Có ba điều khó làm:
giữ được một điều bí mật,
quên đi một sự xúc phạm
và biết dùng thời gian rỗi một cách có ích
 
Kẻ khéo thắng ở chỗ vô cùng mềm dẻo, 
chứ không phải ỷ mạnh lấn yếu
 
Biết  yêu thương vạn vật là biết tô điểm tâm hồn mình
 
Không có tình thương nào ấm áp, 
an bình như tình mẹ thương con
 
Ta chiêm ngưỡng ánh trăng vì hai lẽ:
Một là vì nó sáng, hai là vì ta không thấu hiểu nó
 
Sa mạc có thể đổi thành rừng xanh,
nhưng cá tính con người thì không
 
Sự im lặng có sức “vang” hơn cả sấm sét
 
Gia đình hòa thuận, xóm làng yên vui,
 nên quê hương thái bình
 
Chắp tay lại thì đẹp, 
nhưng mở tay ra sẽ càng đẹp hơn
 
Con ngựa tốt nhất vẫn cần roi,
con người thông minh nhất vẫn cần lời khuyên
 
Kẻ nào gieo nỗi đau cho người khác,
thì sẽ nhận lấy sự lo sợ không cùng
 
Người tìm thấy sự an bình trong gia đình,
là người hạnh phúc nhất
 
Bước chân của người hiền trí,
sẽ không mất dấu bởi thời gian
 
Có quyền thế mà không đức độ thì hại người.
Có nhan sắc mà không công hạnh thì hại mình
 
Thất bại không có nghĩa là bạn đã cúi đầu,
mà chỉ đơn giản là bạn phải đủ can đảm,
 để đương đầu với nó
Sống mà thiếu tình bạn,
chẳng khác gì cỏ cây thiếu ánh mặt trời.
 
Một trong những hạnh phúc lớn của đời sống,
 là tình bạn
và một trong những hạnh phúc lớn của tình bạn,
 là có người,
để gửi gắm một bí mật, một tâm tư 
 (Manzôni)
 
Tình yêu trong xa cách,
ví như ngọn lửa trong gió.
Gió thổi tắt ngọn lửa nhỏ,
 và thổi bùng ngọn lửa lớn.
 
Chúng ta luôn có thì giờ, 
nếu chúng ta sử dụng chúng hợp lý.
 
Đừng nên cười nhạo ước mơ của bất cứ ai!
Những người không có ước mơ chẳng có nhiều đâu!
 
Trên bước đường công tác, 
hành lý của con người cần mang theo,
đó là lòng kiên nhẫn, tính chịu đựng.
Đừng bao giờ mất kiên nhẫn! 
Đó là chiếc chìa khóa cuối cùng mở được cánh cửa!
 

Jan 18, 2013

TRANG THƠ NHẠC CUỐI TUẦN

                                 NỮ NHẠC SĨ DIỆU HƯƠNG


Trang thơ nhạc tuần này xin giới thiệu tiếp đến các bạn những tình khúc của Nhạc sĩ Diệu Hương.





Diệu Hương sinh ngày 26 tháng 10 năm 1955 tại Huế trong một gia đình có 13 người con mà cô là con gái duy nhất. Năm 5 tuổi, Diệu Hương theo cha là một sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cùng với gia đình chuyển vào Đà Nẵng. Tại đây cô theo học trường Sacré Coeur. Sau khi hoàn tất bậc trung học, Diệu Hương lên Đà Lạt theo học trường đại học Chính trị Kinh doanh và từng được bầu là trưởng ban văn nghệ trong những năm đại học. Trước đó Diệu Hương đã từng theo học piano với các dì phước cũng như từng hát và đóng kịch trên sân khấu nhà trường và tham gia những hoạt động hướng đạo. Tại Đà Lạt, Diệu Hương cũng ở nội trú với các dì phước, trong thời gian đó, Diệu Hương tập guitar rồi về Sài Gòn học tiếp tục với một người bạn.
Sau biến cố tháng 4 1975, Diệu Hương rơi vào cảnh buồn bã "đời sống lúc đó không có chi nữa hết" và cô viết bản nhạc đầu tay Tôi muốn hỏi tại sao vào năm 1977. Cô còn tiếp tục sáng tác một vài ca khúc khác.
Sau nhiều lần vượt biên không thành, cuối cùng Diệu Hương và gia đình sang Mỹ vào năm 1990 theo diện HO. Tại Mỹ trải qua nhiều công việc, rồi Diệu Hương theo học ngành thiết kế đồ hoạ.
Nhạc phẩm đầu tiên Diệu Hương sáng tác tại hải ngoại là bản Mùa thu nơi đây viết năm 1990, ngay sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ, diễn tả tâm trạng của một người xa quê hương, nhớ về thành phố cũ trong khung cảnh một mùa thu.
Năm 1997, cô viết Lặng nhìn ta thôi và ca khúc này đã được đưa vào CD do Lệ Thu trình bày với một số ca khúc khác của Diệu Hương. Tiếp đó ca khúc Mình ơi mang đậm nét dân ca do Ý Lan trình bày đã đưa tên tuổi Diệu Hương đến với đông đảo công chúng yêu nhạc. Đến nay Diệu Hương đã phát hành 5 CD Ở lại ta đi, Giòng lệ khô, Khắc khoải, Cho dòng sông cuốn trôi và Hư ảo trong đó có nhiều bài hát nổi tiếng được các ca sĩ trong nước và hải ngoại trình bày. Đặc biệt Vì đó là em  và Phiến đá sầu với tiếng hát ca sĩ Quang Dũng và Tuấn Ngọc.

Sau đây là bài của ký giả Trường Kỳ viết về Diệu Hương.


Diệu Hương sinh ngày 26 tháng 10 năm 1955 tại Huế sinh sống và theo học tại Đà Nẵng từ lúc lên 5 tuổi.
Sau khi hết bậc trung học, lên Đà Lạt học Chính Trị Kinh Doanh, và học piano với các dì phước
Hiện định cư tại hoa Kỳ từ năm 1990 bắt đầu viết nhạc từ năm 1977.

Từ khoảng hơn 2 năm nay, những người yêu nhạc bắt đầu nhắc nhở đến tên Diệu Hương, nhất là sau khi nhạc phẩm "Mình Ơi" của chị do Ý Lan trình bầy trên CD" Đừng Hỏi Tại Sao" ( cũng lấy từ tên một nhạc phẩm khác của Diệu Hương ) được tung ra trên thị trường. Tuy nhiên những chi tiết về người viết nhạc thuộc phái nữ này chưa được mấy người biết tới vì Diệu Hương trước đó chỉ âm thầm sống với niềm đam mê của mình là âm nhạc mà chị coi là một phương tiện để diễn đạt những xúc cảm và suy tư của chính mình.

Thật ra Diệu Hương đã viết nhạc từ khi mới 22 tuổi. Cô sinh viên trường Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt năm nào đã mang rất nhiều tham vọng và rất hăng say trong các công tác văn nghệ như đàn hát hoặc viết văn. Nhưng trong sự đổi thay của thời cuộc sau biến cố tháng Tư năm 75, Diệu Hương đã dồn tất cả lẽ sống của mình vào âm nhạc. Nhờ có một số vốn liếng về văn chương đến từ sự thích thú đọc sách nên Diệu Hương đã đưa những suy tư của mình qua lời ca vào trong âm nhạc một cách rất hài hòa.

" Hương mê viết văn lắm. Từ nhỏ Hương mê lắm, tại Hương đọc sách nhiều, Hương đọc sách không ngừng, nhất là anh tưởng tượng khoảng 8, 9, 10 tuổi mà Hương để cả một chồng sách ở trong giường để đọc. Hương nằm Hương đọc hết cuốn này Hương thả xuống, lại đọc hết cuốn kia. Đọc sách không ngừng nhưng phải công nhận cũng nhờ qua đọc sách thì Hương cũng có một cái vốn liếng về văn chương". Cũng do sự say mê với chữ nghĩa, nên qua những lời ca của chị, người nghe rất dễ dàng nhận ra sự rất đắn đo và thận trọng trong cách dùng chữ của Diệu Hương, một người luôn tìm cách thoát ra những sáo ngữ. Trong sự buồn bã triền miên có thể coi như tuyệt vọng như lời Diệu Hương nói về thời kỳ nhiều xáo trộn trong cuộc sống sau tháng 4 năm 75, chị đã đi tìm một giòng nhạc để quên đi những phiền muộn nhờ có sự đam mê lôi cuốn .
" Cũng chính vì vậy, trong những lúc Hương suy nghĩ mà bị chìm đắm như thế thì Hương lại đi tìm cái dòng nhạc để cho Hương giải thoát qua khỏi cái đó. Thoát khỏi cái buồn để Hương quên, cho nên Hương tự động Hương kiếm ở trong đầu, tìm ra cái giòng nhạc"...

Và vào năm 1977 giòng nhạc mang tên Diệu Hương ra đời với nhạc phẩm đầu tay mang tên " Tôi Muốn Hỏi Tại Sao " . Qua nhạc phẩm này, Diệu Hương cho biết muốn nói lên tâm trạng của mình sau khi lâm vào tình trạng thất vọng chán chường vì thấy những ước mơ của chị khó lòng thành tựu trong một sự xáo trộn không lối thoát, do đó đã đi tìm những niềm hạnh phúc thật nhỏ nhoi :

" Đối với Hương, đời sống lúc đó không có chi nữa hết. Tại Hương ước mơ nhiều quá mà bây giờ Hương bị thất vọng quá nhiều cho nên Hương mới đi tìm một cái hạnh phúc rất là nhỏ bé, Do đó Hương mới viết là "tôi muốn hỏi tại sao có những chiều, những chiều mưa xuống nhiều mà sao em không đứng nhìn mưa để nghe trong mạch tim em xao xuyến bất ngờ’. Cho dù một cơn mưa bất chợt cũng đủ cho mình tìm thấy một niềm hạnh phúc rất nhỏ, như khi nhìn những hạt mưa, những cái bong bóng rớt xuống đường thì đó cũng có thể là niềm vui cũng được".
Diệu Hương cho biết đã viết nhạc phẩm đầu tay này trong đêm tối dưới ánh sáng mù mờ của một ngọn đèn nhỏ tại căn nhà trên đường Huỳnh Tịnh Của, Sài Gòn vì không muốn làm phiền giấc ngủ của gia đình. Sau khi hoàn tất sườn bài được viết nguêch ngoạc, chị để đến ngày hôm sau mới chỉnh lại và đã rất mừng khi nhận thấy mình có được khả năng viết nhạc. Sau đó mấy ngày, Diệu Hương đã hát cho một số bạn bè nghe trong một buổi sinh hoạt văn nghệ và rất được tán thưởng vì âm điệu dễ thương cùng lời ca thích hợp với tâm trạng của tuổi trẻ. Thời gian sau đó, Diệu Hương đã tận dụng khả năng viết nhạc của mình để tạo thành môt số ca khúc khác.
Tôi muốn hỏi tại sao - Tiếng hát Quang dũng
Diệu Hương sinh ngày 26 tháng 10 năm 1955 tại Huế trong một gia đình có 13 người con mà chị là con gái duy nhất. Đến năm 5 tuổi, Diệu Hương theo bố là một sĩ quan trong quân đội, cùng với gia đình vào Đà Nẵng. Tại đây chị theo học trường Sacré Coeur ( tức Thánh Tâm ) và hoàn tất bậc trung học để sau đó lên Đà Lạt theo học trường đại học Chính Trị Kinh Doanh và từng được bầu là trưởng ban văn nghệ trong những năm đại học. Trước đó Diệu Hương đã từng theo học piano với các dì phước cũng như từng hát và đóng kịch trên sân khấu nhà trường và tham gia những hoạt động hướng đạo. Tại Đà Lạt, Diệu Hương cũng ở nội trú với các dì phước và cho biết tuy thích sự khắt khe của các dì, nhưng trong lòng lại có những ước mơ rất sôi nổi, cái gì cũng muốn làm, nhưng bị đè nặng bởi những sự khắt khe đó thành ra có những điều không thực hiện được. Cũng trong thời gian này, Diệu Hương tập guitar rồi sau đó về Sài Gòn học tiếp tục với một người bạn.

Với Diệu Hương, đến khi lớn lên chỉ nghĩ là sẽ viết văn để thực hiện cho mình một quyển sách, mà cho đến nay chị vẫn muốn thực hiện điều đó. Nhưng giòng nhạc tiềm tàng từ lâu bùng dậy, để sau khi nhạc phẩm đầu tiên ra đời, Diệu Hương đã liên tiếp sáng tác thêm 5,6 nhạc phẩm khác vì chị quan niệm trong cái buồn " phải đi tìm một lẽ sống rất nhỏ để có thể cứu vớt mình một tí ". . Nhất là sau khi biết là viết nhạc được nên Diệu Hương đã tận dụng khả năng sáng tạo của mình để " Có những giòng nhạc nào bất chợt đến là chụp lấy ngay ", như lời chị nói, và sáng tác tùy theo tâm trạng hoặc chủ đề thích hợp với giòng nhạc

Sau nhiều lần vượt biên bất thành, cuối cùng Diệu Hương và gia đình sang Mỹ vào năm 90 bằng diện HO. Đời sống nơi đất lạ đã khiến cho Diệu Hương chán nản không còn thiết tha gì đến việc sáng tác vì phải bận bịu với việc mưu sinh qua nhiều lần thay đổi việc làm. Từ thư ký cho các trường dành cho người tỵ nạn, cho văn phòng luật sư và nhân viên viên bưu điện. Hiện nay Diệu Hương đang theo học ngành graphic design. Và cuối cùng, thêm một lần nữa, chị đã " phải đi tìm một lẽ sống rất nhỏ để có thể cứu vớt mình ". Và lẽ sống đó không khác gì hơn là âm nhạc. Nhạc phẩm Diệu Hương sáng tác đầu tiên ở hải ngoại là Mùa Thu Nơi Đây vào năm 90, ngay sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ, diễn tả tâm trạng của một người xa quê hương, nhớ về thành phố cũ trong khung cảnh một mùa thu :" Mùa Thu nơi đây tôi nhớ thương thành phố xa mờ mà bao năm qua tôi đã đi về trên những đường xưa. Mùa thu nơi đây lạnh lùng, từ nơi phương xa trời rộng lòng ai có nhớ ai không? Có tôi nỗi nhớ vô cùng...Mùa Thu nơi xưa dịu dàng, giờ trong tôi nghe muộn màng. Tình yêu cho anh một ngày, rồi một ngày nào đã phai. Về đây khi tôi ngồi lại, niềm cô đơn ôi còn dài...". Nhưng phải chờ đến một thời gian Diệu Hương mới tìm được niềm vui trong sự sáng tạo một giòng nhạc mới, điển hình như nhạc phẩm Mưa Còn Rơi Mãi Vì Ai. Chị đã sáng tác nhạc phẩm này trong một ngày mưa rất hiếm hoi ở miền nam California, được coi như một phối hợp tâm trạng mình với cảnh mưa rơi :
" Đối với Hương, nếu mà nói chung thì đời sống buồn nhiều hơn vui. Có lẽ vì con người Hương có quá nhiều ưu tư. Thì có một bữa...ở Cali thì trời đâu có mưa đâu, trời không có mưa cái chi hết đó. Nhưng bữa đó không biết sao mà trời mưa dầm dề ... Mưa thì tự nhiênHương cũng nhớ Sài Gòn nữa, nên đã viết nhạc phẩm này""
Mùa thu nơi đây - Tiếng hát Diệu Hương

Được sinh ra với một bản chất rất nhậy cảm, Diệu Hương không biết sao lúc nào cũng buồn để rồi suy nghĩ. Ngay từ khi 9, 10 tuổi đã như vậy để ngay trong đôi mắt của chị người ta cũng có thể nhìn thấy sự ưu tư, qua nhiều năm tích lũy những trầm mặc. Nơi Diệu Hương, tuy bên ngoài rất năng động nhưng lại là một con người rất dễ xúc cảm: có thể vì một chuyện nhỏ buồn nào đó cũng khiến chị mất ngủ cả tháng với những trằn trọc và suy nghĩ liên miên.

Tuy nhiên đời sống trên một góc nhìn nào đó đối với Diệu Hương rất vui, do chưa gặp phải những khó khăn, trắc trở nào vì được sinh ra và hài lòng với gia thế của mình, được thoải mái với những gì nhận được từ bố mẹ do đời sống sung túc của gia đình, cùng với những chiều chuộâng thương yêu. Nhưng đó đã chắc hẳn là một niềm hạnh phúc? Diệu Hương đã trả lời câu hỏi này qua một nhạc phẩm mang tên Nơi Đâu Hạnh Phúc, phảng phất triết lý sắc sắc, không không của nhà Phật…:" Đối với Hương cái gì rồi cũng sẽ tan biến. Niềm vui đối với Hương cũng thế, nó vui rồi Hương lại thấy nó tan biến. Như hạnh phúc đối với Hương cũng vậy. Hương thấy nó hạnh phúc, xong rồi tại sao Hương suy nghĩ để rồi Hương lại thấy nó không có hạnh phúc"

Vào năm 97, Diệu Hương hoàn tất một nhạc phẩm mang tựa đề " Lặng Nhìn Ta Thôi ", để diễn tả kiếp sống của người nghệ sĩ, được ấp ủ từ lâu " Hương muốn viết một bài về một người nghệ sĩ, mà Hương muốn viết cách đó mấy năm rồi! Bài đó nó được hình thành trong một thời gian rất lâu. Vì Hương viết nửa chừng lại không viết được ! Mấy năm rối, bốn năm năm trước đang lái xe hơi giữa đường đó, Cái giòng nhạc chỉ đến với Hương có nửa chừng nên viết không được. Hương lại bỏ qua một bên, nhưng vẫn ấp ủ cái điều đó hoài"

Và cuối cùng " Lặng Nhìn Ta Thôi " được hoàn tất vào năm 97. Diệu Hương cho biết rất hài lòng với nhạc phẩm này và đặc biệt là nhận thấy rất thích hợp với tiếâng hát của Lệ Thu. Và cũng do đó Lặng Nhìn Ta Thôi đã được đưa vào CD do Lệ Thu trình bầy với một số ca khúc khác của Diệu Hương. Và Lặng Nhìn Ta Thôi cũng đã được dùng làm đề tựa cho CD này của Lệ Thu, được ra mắt rất thành công tại vũ trường Ritz vào năm 98

Trước khi dòng nhạc của Diệu Hương được biết đến qua CD " Lặng nhìn Ta Thôi " với tiếng hát Lệ Thu thì nhạc phẩm mang tựa đề " Mình Ơi " do Ý Lan trình bầy đã một thời được coi là nhạc phẩm đưa tên tuổi của Diệu Hương đến với thính giả nhất. Đó là một nhạc phẩm mang âm điệu dân ca, một loại nhạc Diệu Hương không bao giờ nghĩ là sẽ sáng tác, trong khi chỉ chủ trương sáng tác tình ca. Từ năm 97 qua đến năm 99. Mình Ơi đã là một trong những nhạc phẩm được ưa thích nhất, được yêu cầu phát thanh rất nhiều lần trong những chương trình nhạc tại Nam California, mặc dù Diệu Hương không hề mong mỏi một sự thành công như vậy. Trước đó Diệu Hương dã soạn lời Việt cho một số nhạc phẩm Pháp và Mỹ để Ý Lan trình bầy rất thành công trong CD " Ghét Quá Trời Mưa " như " Xin Biết Cho Em Tình Này" ( Compare Me With The Rest ), " Dòng Nhạc Từ Đâu Đến" ( Et J’Ecoute La Musique ), " Chỉ Một Người" ( Nothing Compare To You ), " Niềm Tin Đã Mất " ( Losing My Religion ), " Khi Đôi Ta Biệt Ly" ( Everytime We Say Goodbye).

Khi Ý Lan ngỏ ý muốn Diệu Hương sáng tác một nhạc phẩm dân ca, Diệu Hương nhận lời dù trước đó chưa hề sáng tác thể loại này. Lời ca mộc mạc của " Mình Ơi" đã khiến nhiều người lầm tưởng Diệu Hương đã gặp phải một sự đổ vỡ trong tình yêu để thốt ra những lời than thân trách phận:’" đôi chim là chim ríu rít trên cành, em yêu tiếng gọi là mình, mình ơi . Đêm qua thức giấc bùi ngùi, nhìn quanh là em không thấy mặt người, là người mình thương. Từ khi mình bỏ em buồn, đôi chim lơ láo quay cuồng biếng ăn. Co ro tìm một chỗ em nằm, phòng không chiếu lạnh nhện sầu giăng ngang . Nhưng thật sự là chị sáng tác nhạc phẩm này đề nhớ đến thân phụ Diệu Hương - một người chị rất khâm phục về khả năng mỹ thuật - qua đời và đã thôi thúc chị sáng tác một nhạc phẩm dành riêng cho ông, mà chị coi như những lời tạ lỗi về những gì đã làm cho thân phụ chị không được vui. Nhưng chính yếu là Diệu Hương muốn viết nhạc phẩm này thay cho lời thân mẫu chị dành cho người bạn đời đã khuất bóng, để lại nơi bà một sự hụt hẫng trong cuộc sống, luôn lệ thuộc vào thân phụ chị lúc còn sinh   tiền.



  


Là một người luôn sống với những suy tư và hướng về những kỷ niệm một cách trân trọng, Diệu Hương đã phối hợp tất cả với tâm hồn nhậy cảm của mình để viết nên " Vẫn Còn Mùa Xuân Cho Em", là một trong những ca khúc thành công nhất trong dòng nhạc tình của mình :" Khi Hương viết bài đó, Hương hay suy nghĩ lắm. Hương hay suy nghĩ về cái đời sống lắm. Hương suy nghĩ về những câu chuyện tình, Hương suy nghĩ về đời sống, Hương phối hợp vô trong đó là Hương viết. Tại vì con mắt Hương hay có những nét ưu tư, thì đầu tiên hết Hương viết là " vẫn còn mùa Xuân cho em thôi, sao trong mắt em đong đầy nét muộn phiền, tiếp thành mùa đông đem vây quanh, cho đời em rã rời từng ngày tháng"

Vẫn còn mùa Xuân cho em - Nhật Hạ.
Hiện nay Diệu Hương đang nuôi ý định thực hiện một CD gồm những nhạc phẩm ưng ý nhất của mình, dự định sẽ được phát hành trong năm 2001. Tuy nhiên Diệu Hương chỉ đi theo con đường âm nhạc bằng sự đam mê và những cảm xúc của riêng mình, nên chỉ muốn được gọi là một người viết nhạc mà không muốn dùng danh từ nhạc sĩ với nghĩa nhà nghề cho những hoạt động âm nhạc của mình:" Hương không thích theo con đường nhà nghề, Hương chỉ làm theo cảm xúc thôi. Ví dụ như có cái cảm hứng lúc nào thì Hương viết, và Hương để dành, nếu như được dịp mà phổ biến thì Hương cũng thích. Những ngày đầu tiên nghe trên đài hay nghe trên CD mà giọng hát của ca sĩ hát nhạc mình, Hương thấy vui vui. Bởi vì anh biết là Hương cũng không nghĩ là mình trở thành nhạc sĩ. Hương không nghĩ là Hương đi theo con đường nhà nghề, vì vậy ai dùng chữ nhạc sĩ để gọi Hương thì Hương rất mắc cỡ! " 

Trường Kỳ 


Phiến đá sầu - Tiếng hát Tuấn Ngọc.

Youtube playlists nhạc Diệu Hương - 20 videos của Phung Nang Tran.
https://www.youtube.com/playlist?list=PLF3C9B023CAF97E91

P.Hà sưu tầm + biên soạn.

Jan 15, 2013

Đi từ thiện ở nhà thờ TUTRA, Đơn Dương, Lâm Đồng



 Chờ khám bệnh


Mấy hôm nay, tụi Thanh gồm Thành Oanh, Anh Thư, Loan và Thanh theo đoàn từ thiện của Đoàn thị Liên đến nhà thờ TUTRA để làm từ thiện. Để đến được nhà thờ, xe phải đi đến chợ PHI NÔM, quẹo vào làng văn hóa Bồng Lai, đi vào sâu bên trong khoảng 10 km thì mới đến nhà thờ! Tuy ở sâu bên trong nhưng được một điều là khuôn viên nhà thờ rất rộng rãi ( khoảng 4 đến 5 ngàn mét vuông) nên có nhiều phòng và đất rộng để khám bệnh (khoảng hơn 250 người), phát quà chăn áo ấm, gạo cho 100 người lớn, và 250 phần quà tập vở viết và đồ chơi cho trẻ em....
       Đặc biệt lần này có sư cô Thích Nữ Trí Nguyệt cũng đến nhà thờ và phát quà tiền cho các gia đình nghèo. Thanh có hỏi Cha sứ chữ Tutra có nghĩa là gì? Cha bảo từ này đã có từ hơn 200 năm trước, do đồng bào Chăm đặt tên và cứ quen thế mà gọi chứ không biết nghĩa là chi cả!
       Khám bệnh xong và phát quà xong, lên Đà lạt cũng bảy giờ tối, ăn cơm xong là vào khách sạn nhận phòng...Hôm sau tụi Thanh được đi tham quan Đồi Mộng Mơ, Rừng cây khô (nơi làm hoa đặc biệt để lâu cả vài năm không bị héo), đến chùa Linh Quang, chùa này có hai con rồng vàng và một con rồng xanh rất dài ở ngoài sân chùa. Sau đó đến chùa Linh Phước (còn gọi là chùa ve chai vì toàn bộ nhà chùa đều được gắn ghép bằng những mảnh ve chai) , đến chiều đến nhà thờ Domain, ở đấy có nhiều người mua áo, khăn , mũ đan len rất đẹp và rẻ!

 Thanh Oanh Loan Anh Thư
     
Đến ngày chủ nhật, trước khi về tụi Thanh còn được đi tham quan Trúc Lâm viện mới mở, bên  trong có một ngôi chùa mà phía trước là một hồ nước có nuôi rất nhiều cá!!! Hễ thấy có bóng người đứng nhìn là  cá xúm xít vây quanh ... bơi lội rất tư nhiên thoải mái chắc các chú cá này biết mình không bao giờ bị ai làm hại...
     Chuyến đi lần này rất vui vì ngoài việc làm từ thiện còn được đi tham quan và có dịp nói chuyện tâm tình với nhau thật thú vị!!!

KimThanh

Thành phố ngàn thơ


THÀNH PHỐ NGÀN THƠ

Ký sự của Ngô Oanh

Thành Oanh- Loan- Kim Thanh- Anh Thư

 Có lẽ trong văn chương Việt Nam, riêng lãnh vực âm nhạc, đã có ít nhất 30 bài hát về Đà Lạt (ĐL) thân yêu, nào là: "Đà Lạt chiều mơ, Đà Lạt hoàng hôn, Đà lạt lập đông, Chiều Đà Lạt, Ai lên xứ hoa đào, Đà Lạt nhớ, Đà lạt mơ, Đêm giã từ Đà lạt, Một ngày vui mùa đông…..”.
Trong tất cả các bài hát đó, tôi thích nhất là các bài: "Ai lên xứ hoa đào, Đà lạt hoàng hôn, Một ngày vui mùa đông (tác giả LUP, ca sĩ là cô Thanh Hà, hát hay hơn)".
Các bạn nghe thử xem có cùng một "tai nghe" với tôi không nhé?
Đã biết bao năm tôi mới có dịp thăm lại Đà Lạt, lại còn đi vào mùa đông nữa chứ. Buổi sáng và chiều tối, nhiệt độ 16 độ, trưa thì 23 độ. Tha hồ co ro khi đi bộ vào chiều tối hoặc sáng sớm.
Ngũ nương của nhóm Trưng Vương6370 gồm các bạn: Kim Thanh, Thư, Loan, Liên dược sỹ, và tôi cùng đi trong đoàn khám bịnh, phát thuốc của Liên.
Suốt dọc đường đi, tôi nhìn 2 bên đường có vẻ sau này nó sẽ được mở rộng thêm nữa. Ngang Đèo chuối ngày xưa, tôi thấy hàng hàng lớp lớp chuối biến mất, hay là trồng chuối thì lỗ, trồng cà phê thì lời. Chắc là vậy quá. Tới Bảo Lộc, tôi thấy nhà cửa khang trang, đông đúc hơn nhiều. Bảo Lộc hơi mát, thật dễ chịu. Ngày xưa tôi nhìn thấy nhiều đồi trà dọc hai bên đường, nhưng bây giờ tôi thấy nó đâu mất, hay là người ta dời nó vô sâu bên trong hoặc là phá bỏ nó hết rồi?
Chúng tôi ở khách sạn Tâm Dung 2, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa . Khách sạn sạch sẽ, xinh xắn. Dọc con đường Nam Kỳ KN đầy ấp khách sạn. Sáng, trưa, chiều gì cũng không lo đói bụng, vì gần đó đều có hàng ăn uống. Nếu chúng tôi thuê theo khách lẻ thì 1 phòng của tôi là 4 người giá tiền là 500.000 đ / 1 đêm. Nhưng vì tụi tôi dựa lưng đoàn từ thiện, hưởng qui chế "tối huệ quốc" nên giá tiền phòng của 1 người là 60.000 đ/ 1 đêm. Tính tiền cả phòng là 240.000 đ/ 1 đêm. Bravo dược sĩ Liên bằng cả 2 tay và 2 chân luôn.
Ban ngày thì đi theo lịch của đòan, nhưng khi được tự do thì chúng tôi đi dạo trên những con đường dốc, lúc lên, lúc xuống. Buổi tối đi vòng vòng phố xá sẽ thấy rất nhiều chỗ bán dạo quần áo lạnh, cửa hàng cũng vậy, dường như đồ lạnh là đặc sản của ĐL. Nào áo len, khăn choàng, găng tay, vớ bằng len, đủ màu sắc, kiểu dáng…giá rất rẻ các bạn ạ. Có một điểm mà tôi nhận xét là có những kiểu đẹp, nhưng có nhiều kiểu còn hơi quê, chưa đạt khiếu thẩm mỹ cao. Hay là trình độ design thời trang của Việt Nam chưa thể bằng với thế giới? Các bạn nào có tới ĐL thì không biết có cùng nhận xét với tôi không? 


Kim Thanh - Anh Thư

Xa cách Đà Lạt quá lâu, hôm nay tôi thấy rõ sự thay đổi nơi ĐL. Ngày xưa, cỡ thập niên 80, ĐL xứng đáng được các văn nhân, thi sĩ đặt tên là "thành phố ngàn hoa". Vì khi bạn đi bộ trên những con đường, vỉa hè của nó đều là cỏ, có khi hoa dại như Dã Quỳ mọc đầy. Nhà nhà đa số đều có cửa rào bằng gỗ, đặc điểm nổi bật nhất của ĐL là nhà nhà đều trồng bông. Có khi là violet tím nằm rạp trong sân, có khi là hoa kim ngân. Bạn có biết hoa kim ngân dùng làm gì không? Người ta phơi khô rồi nó thành một món ăn đấy. Đố bạn biết là gì? Bạn có mua đồ khô ở tiệm chạp phô thì kim ngân là chính nó. Bạn dùng nó làm gì? Trong các món hấp có bún tàu, nấm mèo đó. Bạn có bao giờ ăn canh câu kỷ chưa? Ở ĐL tôi thấy có người trồng nó làm hàng rào. Canh câu kỷ nấu với thịt nạc bầm nhỏ, ngon lắm các bạn à.

Buổi sáng còn hơi lạnh, hơi sương mà đi dạo vòng vèo trên những con lộ lúc lên, lúc xuống, bạn ngửi được mùi hoa ngan ngát của Tường Vi, của Cúc trắng. Thởu còn học TV, tôi rất là yêu thích bông Marguerite của ĐL, bông hoa cúc màu trắng thật to, còn gọi là Bạch Cúc, vậy mà tự điển Anh-Việt dịch là Cúc mắt bò, tự điển thiệt là chán phèo.


Bây giờ ĐL đã có Hasfarm, có vẻ người ta chuộng mới nới cũ chăng? Tôi thấy Marguerite biến mất, chỉ còn cúc trắng, bông nhỏ xíu, dáng vẻ không bằng Marguerite. Ở Sàigòn bạn sẽ không tìm ra được Marguerite đâu.

Thành phố bây giờ nhà cao tầng, hiện đại mọc lên rất nhiều, đa số là khách sạn mini. Các bạn sẽ ít thấy có nhà nào còn trồng bông làm hàng rào lắm. Cũng giống như Sàigòn vậy thôi. Bạn sẽ không còn ngửi được mùi thơm của bông hoa dọc suốt những con đường. Hình như văn chương, thơ, nhạc đều ưu ái ĐL nhất, với những cái tên đầy vẻ lãng mạn: Thung lũng tình yêu, Rừng Ái ân, Hồ Than Thở, Suối Vàng…. ĐL buồn mộng mơ là nguồn cảm hứng cho biết bao văn thi sĩ.


Trong khi đó biết bao văn thi sĩ đều sống ở Sàigòn, nhưng người ta lại cảm hứng về ĐL bởi nhịp sống chậm và lãng mạn. Nhưng bây giờ ĐL không còn buồn mộng mơ như vậy nữa. ĐL bây giờ hiện đại như … những thành phố hiện đại khác. Phải chi người ĐL phát triển theo chiều hướng sạch, đẹp hiện đại nhưng nhà nhà vẫn yêu thích trồng bông hoa như trước. Vĩa hè vẫn xanh rì màu cỏ, hàng rào đều là bông hoa, để những người vừa nghịch ngợm, vừa yêu hoa như tôi nhảy cẩng lên, vói tay bẻ trộm 1 cành bông Tường Vi hay Mimosa… Tôi nhớ hồi đó đi bộ ngang qua Giáo Hoàng Học Viện toàn là bông Mimosa làm hàng rào vây kín , tuyệt đẹp. Tôi nhảy lên bẻ trộm 1 cành. May quá không có vị linh mục nào bắt quả tang ngay tại trận, hahaha.

Theo tôi thì ĐL không còn có tên là "thành phố ngàn hoa" nữa, vì muốn ngắm bông hoa thì phải vào trong công viên mà ngắm: Đồi Mộng Mơ, Vườn Hoa Thành phố ( vườn Bích Câu). Nên tôi gọi ĐL là "thành phố ngàn thơ" vì ĐL còn trong thơ, nhạc rất nhiều. Thật buồn khi cái hiện đại làm mất đi cái độc đáo của chính mình.
Sau này không hiểu các văn thi sĩ có còn nguồn cảm hứng không nhỉ? Khi nhìn thành phố ĐL rồi cũng giống như bao thành phố khác, không có gì đặc biệt để tưởng nhớ. Nhưng chắc là còn, hồ Xuân Hương đó, mai này nếu người ta lại san lấp hồ để xây nhà cao tầng lên trên. Ôi thôi chỉ mới là tưởng tượng mà đã thấy buồn le lói trong tim. 

Cafe Thủy Tạ trên Hồ Xuân Hương

Hình như chỉ có kinh tế là cần thiết chứ văn chương, thi phú để làm gì nhỉ?

Trên xe chúng tôi có 1 ông phó nháy tình nguyện làm tour guide cho đoàn. Anh này đưa ra 3 câu đố về ĐL, ai trả lời được cả 3 câu sẽ được tặng 10 tấm hình.
Có 3 cái gì mà ĐL không có so với Sàigòn? Cả đoàn trả lời có 2 câu nên anh tour guide không thèm tặng hình. Đó là:



ĐL không có đèn xanh, đèn đỏ.
ĐL không có xe xích lô ( cái này thì đúng là không thể phát triển vì lỡ 1 ông du khách Tây bụng phệ ngồi lên chiếc xích lô, chắc là cả hai sẽ cùng té lăn cù xuống thung lũng quá).
ĐL không có dừa vì người ta đã trồng thử nghiệm nhiều mà cây dừa vẫn không sống được ở ĐL.
Hay quá, đó là những điểm nhận xét lý thú về ĐL.
Ba ngày đi chu du theo đoàn từ thiện, chúng tôi ra về, mong một ngày sẽ trở lại ĐL để đón không khí lạnh ở đó.


NGÔ OANH





Jan 13, 2013

Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa ?


Những lần lang thang trên web tôi bắt gặp những câu như : Huế có bao nhiêu chùa? Có mấy cây cầu bắt qua sông An cựu ? Quả thật rất khó trả lời. Hoặc chỉ một câu hỏi đơn giản thôi : Kinh thành Huế có bao nhiêu cửa ?
 

Chắc rằng khá nhiều người dân Huế chẳng trả lời đúng câu hỏi này, mà chỉ cố gắng nhớ lại những cổng thành mình đã đi qua. Hàng ngày người ta có thể qua lại rất nhiều lần ở các cửa thành nhưng ít có ai lại từng nghĩ đến việc thống kê một con số như vậy, cũng như việc bạn thường xuyên đến nhà người bạn thân của mình nhưng bất chợt ai hỏi nhà bạn ấy số bao nhiêu, tôi chắc rằng không phải ai cũng trả lời đúng.
http://ihue.org/wp-content/uploads/2012/11/cua-ngan.jpg
Thể Nhân Môn – Cửa Ngăn (mặt phía trong kinh thành)
Vậy thì chúng ta hãy cùng nhau đi thăm tất cả các cổng của Kinh thành Huế nhé. Bắt đầu từ cửa Thể Nhân, là cửa thành còn giữ nguyên được hình dáng và kiến trúc ban đầu cho đến hết 13 cửa lớn nhỏ của Kinh Thành Huế.
cua ngan Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Của Ngăn năm 1926 (mặt phía ngoài kinh thành)

Thể Nhân Môn có tên thường gọi là cửa Ngăn, nằm phía Nam, bên trái Kỳ Đài của Kinh Thành. Phần vòm cửa được xây dựng năm 1809 dưới thời vua Gia Long, vọng lâu bên trên được xây dựng vào năm 1829 dưới thời vua Minh Mạng. Lúc đầu có tên là Thể Nguyên, sau khi xây vọng lâu thì cải thành Thể Nhân. Nhân dân quen gọi là cửa Ngăn Dưới để phân biệt với cửa thành Quảng Đức là cửa Ngăn Trên.
quangduc 1 Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Cửa Quảng Đức – Cửa Sập
Phía bên phải di tích Kỳ Đài là Cửa Quảng Đức nằm ở mặt Nam của Kinh Thành. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng vào năm 1829, thời Minh Mạng. Trận lụt năm 1953, đã quét sập đổ hoàn toàn bộ phận vòm cửa và vọng lâu, vì thế dân chúng vẫn quen gọi là cửa Sập. Trong chiến sự năm 1968, cửa bị phá hoại nặng nề, và cấm không cho ra vào. Năm 1998, cửa được phục chế lại.
Hai cửa này dành cho vua và hoàng gia ra vào. Mỗi lần vua và hoàng gia ra thành, triều đình cho lính ra đóng lại, ngăn không cho dân chúng đi qua. Sau khi vua và hoàng gia trở vào trong Nội rồi thì hai cửa bị ngăn ấy mới được mở ra lại để cho dân chúng đi như thường. Trận lụt năm 1953 làm sập cửa Ngăn Trên nên từ đó dân chúng gọi là cửa Sập. Và cửa Ngăn Dưới thì được gọi là cửa Ngăn cho gọn như ngày nay.
CuaNhaDo Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Chánh Nam Môn – Cửa Nhà Đồ (hiện đang được trùng tu)
Nhìn ảnh chắc hẳn bạn có thể hình dung được chiều dày của vòng thành
Bên trái cửa Quảng Đức là cửa Chánh Nam Môn nằm ở phía Nam Kinh Thành, cuối đường Nguyễn Trãi, dân gian vẫn gọi là cửa Nhà Đồ. Cửa này nay chỉ cho phép lưu thông một chiều từ đường Nguyễn Trãi ra đường Lê Duẩn. Phần cửa vòm được xây dựng năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lầu bên trên được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 10, tức năm 1829. Lúc đầu, phía bên ngoài cửa có cục Tượng Ty, hay còn gọi là Đồ Gia, là kho chứa vật dụng, binh khí, dịch nôm na hai chữ Đồ Gia là Nhà Đồ, vì thế cửa Chánh Nam còn có tên gọi là cửa Nhà Đồ. Trận lũ năm 1953, đã làm sập phần vòm và vọng lâu bên trên cửa Nhà Đồ.
thuongtu Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Đông Nam Môn – Cửa Thượng Tứ (phía bên trong thành)
Bên phải cửa Ngăn là cửa Cửa Thượng Tứ có tên chữ là Đông Nam Môn, nằm ở góc Đông Nam Kinh Thành, nay chỉ lưu thông một chiều từ đường Trần Hưng Đạo đi vào đường Đinh Tiên Hoàng, bên ngoài là phường Phú Hoà, bên trong là phường Thuận Thành. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809 dưới thời vua Gia Long, vọng lầu được xây dựng vào năm 1829, thời vua Minh Mạng. Sở dĩ cửa có tên gọi là Thượng Tứ ngày xưa, ở gần bên trong cửa thành này (khoảng vị trí trường Trần Quốc Toản hiện nay), triều đình đã thiết lập một cơ quan tên là Viện Thượng Tứ, chuyên trông coi việc nuôi ngựa để kéo xe cho vua.
CuaHuu Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Tây Nam Môn – Cửa Hữu (vọng lâu và vòm cửa bị sập)

Cửa Hữu, có tên chữ là Tây Nam Môn, nằm ở phía Tây Nam của Kinh Thành, ở đầu đường Yết Kiêu. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời vua Gia Long; vọng lâu được xây dựng năm 1829, thời Minh Mạng. Đêm mồng 5/7/1885, vua Hàm Nghi đã xuất bôn từ cửa này ra khỏi Kinh Thành, để ban hịch Cần Vương. Chiến sự năm 1968, đã làm sập vọng lâu và vòm cửa.
Tay CuaChinh Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Cửa Chánh Tây

Cửa Chánh Tây nằm ở phía Tây Kinh Thành, trên đường Thái Phiên, TP Huế. Phần cửa vòm được xây dựng vào năm 1809, dưới thời  vua Gia Long, vọng lầu bên trên được xây dựng năm 1829, dưới thời vua Minh Mạng. Trong chiến sự năm 1968, nơi đây từng là cửa ngõ giao tranh ác liệt, cửa bị tàn phá hoàn toàn phần vọng lầu phía trên, sau đó bị cấm đi lại. Nay cửa đã được tu sửa.
dongba Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Chánh Đông Môn – Cửa Đông Ba (hiện đang được tu sửa)

Cửa Đông Ba có tên chữ là Chánh Đông Môn, tức cửa nằm ở phía Đông Kinh Thành, cuối đường Mai Thúc Loan, thành phố Huế. Địa danh này phát xuất từ tên của pháo đài Đông Hoa có từ thời Gia Long. Đến đầu thời Thiệu Trị, vì triều đình kiêng dùng tên húy của mẹ nhà vua là bà Hồ Thị Hoa, cho nên đổi tên thành Đông Gia. Nhưng nhân dân quen gọi là Đông Ba. Phần cửa vòm được xây dựng từ năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lầu được xây dựng năm 1824 dưới thời Minh Mạng. Ngày 5/7/1885, nơi đây đã diễn ra trận giao tranh ác liệt giữa quân Pháp và quân triều đình do Tôn Thất Thuyết chỉ huy. Trong chiến sự năm 1968, bom đạn đã đánh sập phần vọng lầu làm hư hại nặng nề cửa chính Đông Ba.
CuaAnHoa Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Tây Bắc Môn – Cửa An Hòa

Cửa An Hoà có tên khác là Tây Bắc Môn, cửa nằm ở góc Tây Bắc của Kinh Thành, nối từ đường Nguyễn Trãi ra thẳng đường Tăng Bạt Hổ. Phần vòm cửa được xây dựng năm 1809, dưới thời vua Gia Long, vọng lâu được xây dựng vào năm 1831, thời vua Minh Mạng. Người dân Huế gọi là cửa An Hòa vì trước mặt cửa thành này là làng An Hòa và chợ An Hòa.
cuabac 21409 Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Đông Bắc Môn – Cửa kẻ Trài

Đông Bắc Môn có tên gọi dân gian là cửa Kẻ Trài, nằm ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, bên bờ Tây của sông Đông Ba. Phần vòm cửa được xây dựng vào năm 1809, dưới thời Gia Long, vọng lầu được xây dựng vào năm 1824, dưới thời vua Minh Mạng. Ngày xưa, Kẻ Trài là tên một xóm ở phía trước cửa thành, nơi đây có chợ Mới, có Hàng Bè, có phố Đông Hội, thương nhân Bắc kỳ đưa  hàng hoá vào buôn bán, họ làm lều quán lúp súp, thành những dãy nhà trài hai bên bờ sông, dân bản địa thường gọi là Kẻ Trài, từ đó cửa Đông Bắc cũng có tên là Kẻ Trài.
cuachanhbac Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Chánh Bắc Môn – Cửa Hậu
Chánh Bắc Môn tục gọi là Cửa Hậu, vì nó tọa lạc tại mặt sau của Kinh Thành. Cửa Hậu nằm cuối đường Đinh Tiên Hoàng, nhìn ra đường Tăng Bạt Hổ. Phần cửa vòm được xây dựng năm 1809 dưới thời Gia Long. Vọng lầu được xây dựng vào năm 1831 dưới thời vua Minh Mạng. Sau khi thực dân Pháp chiếm kinh thành Huế (1885), cửa Chánh Bắc (Mang Cá lớn) và cửa Trài (Mang Cá nhỏ) bị đóng kín để lập đồn Mang Cá. Do hậu quả của chiến tranh và thiên tai cửa đã bị hư hại, nên suốt 116 năm hai cửa này vẫn chưa được khai thông. Hiện nay, cửa Chánh Bắc đã khai thông trở lại.
Ngoài 10 cửa nêu trên còn có 1 cửa nhỏ khác không thông ra ngoài là Trấn Bình Môn.
tran binh mon Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Trấn Bình Môn thông đến Trấn Bình Đài ( đồn Mang Cá)
Trấn Bình môn thuộc vòng tường thành của Kinh thành không phải là cửa thông ra ngoài thành mà là thông đến Trấn Bình đài là pháo đài phòng thủ của Kinh thành. Cửa này đươc trổ ra ở giữa đoạn thành nối hai pháo đài Bắc Định và Đông Bình (của Kinh thành) lại với nhau. Ngay trước mặt cửa là một chiếc cầu xây bằng đá và gạch bắc qua hào, dùng để nối liền mạch giao thông giữa hai địa phận của thành chính và thành phụ.

Và 2 cửa đường thủy : Tây Thành Thủy Quan và Đông Thành Thủy Quan.
Tay ThuyQuan Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Tây Thành Thủy Quan (còn gọi là cống Thủy Quan)
Tây thành Thủy Quan là cửa đường thủy thông giữa sông Ngự Hà trong kinh thành với sông đào Kẻ Vạn khu vực Kim Long. Phía bên ngoài thành là cầu Thủy Quan (QL1A đoạn đi qua Thành phố).
Dong CongLuongY Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?
Đông Thành Thủy Quan (vẫn thường gọi là Cống Lương Y)
Đông Thành Thủy Quan cũng là một cửa thủy thông giữa sông Ngự Hà với sông đào Đông Ba, phía Đông kinh thành. Sông Ngự Hà, ban đầu mang tên Thanh Câu dài khoảng 3.600m, chảy vắt ngang qua mặt hậu trong lòng Kinh Thành theo hình thước thợ. Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), sông được cải tạo và đổi tên thành Ngự Hà, nối liền Tây Thành Thủy Quan với Đông Thành Thủy Quan, thông nước từ sông Hương qua sông đào Kẻ Vạn với sông đào Đông Ba rồi chảy về ngã Bao Vinh hợp lưu cùng sông cái đổ nước ra cửa Thuận An.
Cửa này thông ra phía bên ngoài thành qua cầu Thanh Long (đường Huỳnh Thúc Kháng), cây cầu này là nơi mà trong cuộc binh biến 1885 Tôn Thất Thuyết đã bố trí mai phục để chặn quân Pháp từ Tòa Khâm sứ bên kia sông Hương qua ứng ứng cho đồn Mang Cá. Hồi ấy, khi đọc xong tiểu thuyết lịch sử “Huế 1885″ của Thái Vũ, mỗi lần qua đây tôi đều ngoái nhìn cửa thủy thành, cố hình dung ra cảnh chiến đấu hào hùng của hơn 100 năm về trước.
slide0005 Kinh thành Hu¿ có bao nhiêu cía ?