Dec 7, 2013

Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ


LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ

 
Người Việt ta từ ngàn năm xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ là loại chữ tượng thanh, ghép những chữ cái thành từ. Chữ Việt có  trước cả chữ Hán hàng ngàn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt nam đã có những khám phá và còn tiếp tục truy tìm. Cùng với các nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Pháp, Anh, Mỹ, Tiệp và nhất là Trung Hoa (Lục Lưu, Hứa Thân, Trịnh Tiểu) đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ trước kỷ Công nguyên (BC).
Bộ chữ này lưu lại trong nền văn hóa tiền Việt – Mường. Trên các mặt Trống Đồng và nhiều di vật cổ xưa khác đã được khai quật ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ và rải rác ở vùng cực bắc biên giới Việt Nam, đều có một dạng ký hiệu giống nhau, những hình con nòng nọc là những tự dạng, biểu tượng để ghi chép lại những âm thanh cấu thành từ ngữ. Đó chính là chữ Việt cổ, bộ chữ Việt cổ ấy dùng để ghi tiếng nói của người Việt từ ngàn xưa.
Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp

Tổ tiên chúng ta đã từng phải sống qua một quá trình đô hộ lâu dài của Trung Hoa, với âm mưu hủy diệt nền văn hóa Việt Nam chúng đã bắt dân ta dùng chữ Hán để bức tử, tuyệt diệt với chữ Việt cổ, với mục đích đồng hoá dân tộc. Chữ viết tiếng Việt (bộ chữ Khoa đẩu) thời bấy giờ là đối tượng bị Trung Hoa hủy diệt trước nhất, bởi nó phản ánh tư tưởng, linh hồn, văn hóa của dân tộc Việt.
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi toàn dân đứng lên chống Tàu được viết bằng chữ Khoa đẩu, chữ Việt cổ.

Trong sách Hậu Hán thư (
後漢書), quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận.... "
Sách này còn viết rằng: "Mã Viện sau khi dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng, đã tịch thu các trống đồng của các thủ lĩnh địa phương, một phần đem tặng, phần nấu chảy để đúc ngựa và đúc cột đồng Mã Viện."

Sử xưa cũng ghi lại rằng: " Sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị chính sách đồng hoá. Nhâm Diên và  Sĩ Nhiếp đã bắt đốt hết sách Việt tộc, nhà nào cất giữ, lưu truyền thì bị giết hại. Các trống đồng Việt tộc bị Mã Viện tịch thu (năm 43), tiếp theo sau là cuộc cướp phá, tiêu hủy sách vở Việt tộc của nhà Minh đầu thế kỷ 15…"

Với chính sách tận diệt văn hóa Việt như trên, chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch, vì thế không thể phổ biến được cũng là điều dễ hiểu.
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Khoa Đẩu.
 
 
Chữ Việt cổ trên thân Trống Đồng Lũng Cú.
 
 
Tuy nhiên, với chí khí bất khuất của người Việt, luôn khát vọng độc lập tự do, ông cha ta từ chữ Hán tượng hình đã chế tác ra thứ chữ Nôm để sử dụng, nhằm mục đích giữ gìn nền văn hoá Việt Nam cận đại và bản sắc văn hóa thuần túy dân tộc Việt.
 
Nhìn chung Việt Nam vào thời điểm lịch sử cổ, trung đại, vẫn chưa chính thức có trường lớp nào dạy nói và viết tiếng Việt. Người Việt chúng ta ngày xưa đa số được học (nói) tiếng Việt ngay từ lúc lọt lòng mẹ, trong sinh hoạt gia đình và thông qua những giao tiếp hàng ngày ngoài xã hội là chính. Ở giai đoạn này chữ viết vì chưa truyền bá phổ thông trong dân chúng nên các câu Ca Dao, Tục Ngữ,Thơ ngắn, dài (1)  nhờ có vần, có điệu, nên mau thuộc và dễ nhớ; là loại văn chương ca dao truyền khẩu được phổ biến rộng rãi trong nhân gian và ngày càng phong phú, súc tích.
 
Trong quá trình xã hội phát triển, dân tộc Việt Nam ta đã tiếp xúc giao lưu với nhiều dân tộc khác. Trong tiếp xúc trao đổi thông tin với nhau, vấn đề học hỏi và hiểu rõ ngôn ngữ của nhau trở nên nhu cầu cần thiết.
Vào thế kỷ XV. Sứ thần Trung Quốc đã phải nhờ đến các cơ quan phiên dịch ở Trung Quốc như Hội thông quán, Tứ Di quán, Tứ Dịch quán làm nhiệm vụ phiên dịch mỗi khi giao tiếp với Việt Nam. Các cuốn từ vựng đối chiếu tiếng Hán với một số thứ tiếng khác được lần lượt biên soạn, trong đó có cuốn An Nam Dịch Ngữ (*) là cuốn từ điển dùng để đối chiếu tiếng chữ Hán với chữ tiếng Việt.
(*) An Nam Dịch Ngữ là bản từ vựng dùng cho cơ quan hành chánh (nhà Minh) đặc trách giao dịch với Việt Nam từng phải triều cống.
Giai đoạn năm 939, thời Vua Ngô Quyền lập quốc, các triều đại Vua Việt Nam đã mượn chữ Hán (chữ Nho) để sử dụng trong hành chánh, học thuật. Tuy nhiên, người Việt vẫn nói tiếng Việt, không công nhận chữ Hán (chữ Nho) là quốc ngữ. Tổ tiên ta  luôn tìm cách sáng tạo ra quốc ngữ riêng và đã dựa trên chữ Hán để chế ra chữ Nôm. Chữ Nôm được ghi nhận chính thức xuất hiện vào thế kỷ 13, khi quan Hình Bộ Thượng Thư: Nguyễn Thuyên, triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm bài văn “Tế cá sấu” (2) bằng chữ Nôm. Vào thời nầy, chữ Nôm được xem là Quốc ngữ bên cạnh chữ Nho, nên tập thơ chữ Nôm của Chu Văn An (1292–1370) được ông gọi là Tiều ẩn quốc ngữ thi tập (Tập thơ quốc ngữ). Đoạn Trường Tân Thanh (Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du, là một trong những tiêu biểu hàng đầu những thành tựu đáng kể của chữ Nôm đã đóng góp cho nền văn hoá Việt Nam cận đại.
Tuy nhiên, chữ Nôm vì được cấu tạo trên căn bản chữ Nho, nên khi muốn học chữ Nôm thì phải biết chữ Nho (chữ Hán).Vì vậy chữ Nôm khó học, không phổ thông trong dân chúng, và ít được sử dụng rộng rãi.
 
 
Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kim Vân Kiều) của thi hào Nguyễn Du
(Sách cổ viết chữ Nôm)
 
 
Đến giai đoạn thế kỷ 16, năm 1533. Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam để truyền dạy ĐạoThiên Chúa, các giáo sĩ đã nghiên cứu, và soạn ra bộ chữ từ chữ La tinh để viết và cách phiên âm tiếng Việt, dùng cho việc giảng đạo bằng ngôn ngữ Việt . Từ bộ chữ này đã trở thành Chữ Quốc Ngữ. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, có tính chất quyết định đã giúp cho ngôn ngữ Việt, và nền Văn Hóa Việt Nam được phát  triển nhanh chóng.
Các giáo sĩ, tu sĩ Jesuit (Dòng Tên)   http://en.wikipedia.org/wiki/Jesuit Người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. Sử dụng chữ cái La tinh để ghi chép, phiên âm Tiếng Việt.
Năm 1618, linh mục Francisco De Pina cùng với linh mục Phêrô, đã dịch Kinh Lạy Cha và các Kinh căn bản khác sang tiếng Việt, có thể xem đây là khởi đầu cho việc soạn thảo chữ Quốc ngữ.  Các Linh mục tương đối hoàn tất hệ thống chuyển mẫu tự La-tinh thích hợp với cách giọng phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Nhưng giai đoạn nầy chưa được đầy đủ.  
Bản Kinh lạy Cha được viết tay năm 1632 nguyên bản như sau:
 
 

Người có công hoàn thiện công trình này là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La , Ngữ pháp tiếng An Nam, và  “Bài giảng giáo lý Tám ngày” đầu tiên xuất bản vào năm 1651. 
 
Từ điển Việt-Bồ-La
 
 
Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày (trang đầu)
 
 
Hình bìa  “Sách Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày”
 
Link sách DOWN LOAD (Phép Giảng Giáo Lý Tám Ngày) 
(Tài liệu lưu trữ  88.3 MB dạng (pdf)
https://www.dropbox.com/s/3eg88d2zf720bf2/PHEP%20GIANG%208%20NGAY%20%28TVST%29%20%20-%20%20Cathechismvs%20%20%20Alexandre%20de%20Rhodes.pdf
 
Ðây là sách giáo lý được biên soạn để giúp cho các cha truyền dậy giáo lý tại Việt nam. Cuốn sách được in bằng hai thứ tiếng: La tinh và Việt Nam.
Trên mỗi trang sách chia làm hai, có một gạch đôi từ trên xuống dưới: Bên tay trái của người đọc sách là chữ La tinh, bên tay phải là chữ Việt.
Ðể người đọc dễ dàng đối chiếu song ngữ. Giáo sĩ Alexandre de Rhodes - Ðắc Lộ, đặt ở đầu mỗi ý tưởng chính mẫu tự abc... cho hai phần La, Việt, rồi chính giữa trang sách cũng đặt mẫu tự abc... cho hai phần La Việt song song. Cuốn sách gồm có 319 trang.
Sách  không chia ra từng chương, mà lại chia theo từng ngày học (Tám ngày), được trình bày in ấn có tính cách như một giáo trình sư phạm.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes

Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (Sinh năm1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư). Ngài đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630).
Ngài là người có công rất lớn trong việc hệ thống hoá chữ viết tiếng Việt. Nhờ đó mà chữ Quốc Ngữ được hình thành và trở thành hệ thống có quy tắc và khoa học, dễ viết, dễ phát âm, dễ học.
Nhìn chung, sự hình thành Quốc ngữ không phải do công sức cá nhân của một giáo sĩ, mà là công sức tập thể của nhiều giáo sĩ thuộc nhiều nước khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau, đã đến truyền đạo tại Việt Nam. Và trong đó còn có sự đóng góp trực tiếp nhưng âm thầm của rất nhiều giáo sĩ Việt Nam và đồng bào giáo dân lúc bấy giờ.

Chữ Quốc ngữ tuy ra đời từ thế kỉ 17 (1651) ở Việt Nam nhờ công lao tâm trí của các Tu sĩ  truyền giáo, nhưng bị giới hạn chỉ dùng để giúp các Cha giảng, truyền đạo. Vì lúc ấy triều đình phong kiến Việt Nam, đàng Trong lẫn đàng Ngoài với chính sách cấm đạo, và giết hại Giáo sĩ nên chữ Quốc ngữ đã không thể phát triển, truyền bá rộng rãi.
Quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ được hoàn chỉnh có thể chia làm 3 giai đoạn sau:
 
(Trích đoạn trong sách Lịch Sử Chữ Quốc Ngữ - Nghiên cứu của linh mục Ðỗ Quang Chính, do nhà sách Ra Khơi xuất bản tại Sài gòn năm 1972).
 
Giai Ðoạn Sơ Khởi (1620-1626):
Các nhà truyền giáo Âu Châu đã đến Hà Tiên và Thừa Thiên từ giữa thế kỷ 16. Nhưng mãi sang đến đầu thế kỷ 17 những hoạt động truyền giáo này mới được ghi lại khá đầy đủ. Khởi đầu, các nhà truyền giáo đã đến Hội An để giúp đỡ các giáo hữu người Nhật. Hội An (Hội Phố) thời ấy là một cảng buôn bán sầm uất, với những phố riêng cho người Nhật và người Hoa.
 
Theo sách cũ, người Âu Châu đầu tiên thạo tiếng Việt là linh mục Francisco de Pina, người Bồ Ðào Nha (Portugal) (3) . Năm 1620, với sự công tác của người bản xứ, các tu sĩ Dòng Tên (Jésuite) tại Hội An đã soạn thảo một sách giáo lý bằng chữ Nôm. Từ năm 1621 trở đi, các nhà truyền giáo đã bắt đầu chuyển qua mẫu tự abc những địa danh, tên tộc, và từ-ngữ Việt trong những bản tường trình cho giáo hội về hoạt động của họ.
 
Dựa vào những tài-liệu viết tay còn được lưu trữ, trong giai-đoạn sơ khai của chữ Quốc Ngữ, các chữ thường được viết liền và không có đánh dấu. Thí dụ:
 
- Annam = An Nam
- Unsai = Ông Sãi
- Ungue = Ông Nghè
- Bafu = Bà Phủ
- doij = đói
- scin mocaij = xin một cái
- Sayc Chiu = Sách chữ
- Tuijciam, Biet = Tôi chẳng biết
 
 
Giai Ðoạn Hai (1631-1648)
Những tài-liệu viết tay trong giai-đoạn này, đặc biệt là của linh mục d’Amaral, cho thấy chiều hướng mới trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Các chữ được viết cách ra và đã được bỏ dấu. Nhiều chữ được viết như ta hằng thấy ngày nay. Thí dụ như:
 
· Nghệ An
· Bố Chính
 
Nhiều chữ nhìn tương tự nhưng có lối đánh vần và bỏ dấu hơi khác
 
· Thính hoa: Thanh Hóa
· oũ bà phủ: Ông bà Phủ
· hụyen: huyện
· sãy: sãi
 
Ngoài những bản tường trình, giai đoạn này còn có ba tài-liệu quan-trọng khác. Một là biên-bản hội-nghị năm 1645 của 35 linh mục Dòng Tên tại Macao để xác nhận mô thức rửa tội bằng tiếng Việt Nam (4) . Hai là cuốn tự-điển Việt-Bồ-La của linh mục Gaspar d’Amaral (Diccionário anamita-português-latim). Ba là cuốn tự-điển Bồ-Việt (Diccionário português-anamita) của linh mục Antonio Barbosa (5) .
 
Ðến năm 1972, biên bản cuộc hội nghị được lưu trữ tại Văn Khố Dòng Tên tại La Mã (6) . Còn hai cuốn tự-điển kia, lúc đầu được tàng trữ tại Văn Khố Dòng Tên tỉnh Nhật Bản tại Macao, đã mất tích sau các cuộc di chuyển của văn khố này từ Macao qua Manila (Phi Luật Tân), từ Manila qua Madrid (Tây Ban Nha). Sở dĩ chúng ta còn biết đến hai cuốn tự-điển này là vì chính Ðắc Lộ, trong lời tựa của cuốn tự-điển mà ông xuất-bản năm 1651, đã viết rõ là ông đã dùng hai cuốn tự-điển trên để soạn-thảo cuốn tự-điển của mình.
 
Giai Ðoạn Ba (1649-1651):
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ và việc ấn hành hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên của Ðắc Lộ (7) . Hai cuốn ấy là:
 
· Dictionarivm annamiticvm, lvsitanvm, et latinvm, ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lvcem editvm. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4°
· Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in Octo dies diuisus. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chiụ phép rứa tọi, ma /beào (8) đạo thánh đức Chúa blời. Ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide in lucem editus. Ab Alexandro de Rhodes è Societate Iesv, ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico, Roma, 1651, in-4° . (Hết phần trích dẫn)
 
 
 
Toàn Quyền Đông Dương Martial Merlin (Bên phải hình)
Mãi cho đến ngày 18 tháng 9 năm 1924 (Giai đoạn Pháp thuộc), toàn quyền Đông Dương Martial Merlin (1923-1925) đã ký quyết định chính thức cho dạy chữ Quốc Ngữ ở ba năm đầu cấp tiểu học, được phổ biến rộng rãi toàn quốc. Sự ra đời và truyền bá chữ Quốc ngữ mọi nơi, trong các trường học, đã giúp cho người Việt Nam, dễ dàng học hỏi, nghiên cứu khi tiếp xúc với văn hoá phương Tây qua sách báo, nâng cao nhận thức, dân trí phát triển cao hơn và nhanh hơn so với các nước trong vùng.
Cũng nhờ từ đấy, người Việt, tiếng Việt đã thật sự hoàn toàn thoát được ảnh hưởng chính sách Hán hóa của Trung Hoa đã đô hộ nước ta trong suốt gần 1000 năm.
Học sinh trường Công giáo tỉnh Nam Định
 
Tinh thần sĩ phu (Nho giáo) xưa, ít nhiều bị lệ thuộc chẳng những Nho giáo mà cả văn hóa Trung Hoa.  Việc bãi bỏ Nho học và thay đổi chữ viết từ chữ Nho (chữ Hán ) sang Quốc ngữ, đã giúp Việt Nam chấm dứt vĩnh viễn giai đoạn lệ thuộc chữ Hán và văn hóa Trung Hoa.
 
Vì đắm chìm lâu đời trong văn hóa Trung Hoa, nên có người lầm tưởng rằng văn hóa Trung Hoa là văn hóa dân tộc, và những anh hùng, liệt nữ Trung Hoa là khuôn vàng thước ngọc cho văn hóa Việt, lịch sử Việt. Các tác giả chữ Nho xưa thường dùng điển tích về những vua quan, anh hùng, thần thánh, phong tục, tập quán của Trung Hoa để làm mẫu mực cho người Việt.
 
Nhưng từ khi có chữ Quốc ngữ, dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi văn hóa Trung Hoa, nhiều người mới có cơ hội tìm thấy lại cội nguồn, trở lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Từ đấy,  nền văn hóa dân tộc càng ngày càng được đề cao trong nền văn học Quốc ngữ, trong Sử sách giáo khoa: Hai Bà Trưng, Triệu Nữ Vương, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Quang Trung mới là những anh hùng đích thực, những tấm gương sáng trong lịch sử của người Việt Nam.
 
Trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam
 
Trường Trung học Adran (Collège d'Adran) (3) Là trường dạy Quốc Ngữ đầu tiên ở Việt Nam được các linh mục mở ở Sài gòn từ năm 1861 - 1887.
Trường ADRAN Sài Gòn, đến năm 1954 được chia thành 2 Trường Trung Học : Trung học Võ Trường Toản và Trung học Trưng Vương.
 
Hình một lớp học trong buổi thực nghiệm ngoài trời.
Chấm dứt  thời kỳ của nền giáo dục chữ Hán, chữ Nôm: Lối học từ chương.

 
Một lớp học trong giờ Địa lý.
Hình Thầy đồ và các học sinh ngày xưa.
 
Quang cảnh trường thi Nam Định khoa thi năm Nhâm Tý (1912)
 
 
Giấy Khai Sinh năm 1938 còn sử dụng 4 ngôn ngữ (Hán, Nôm, Quốc ngữ và Pháp)
 
 
 
Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ lần đầu tiên phát hành tại Sài Gòn, ngày 15/4/1865.
 
Trương Vĩnh Ký - Pétrus Ký (1837-1898)
 
 
Khi nói đến chữ Quốc ngữ, và Báo Chí Việt Nam thì cũng không thể quên công lao của Ông Trương Vĩnh Ký, ông là người đầu tiên sáng lập,khai sinh nền Báo Chí Quốc ngữ của Việt Nam, ông là Tổng biên tập tờ Gia Định Báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên: 
 
Ông Pétrus - Trương Vĩnh Ký đã viết một bài khuyến khích việc học chữ Quốc ngữ, trong đó có đoạn như sau:
“…Thầy Ký dạy học có làm sách mẹo (văn phạm) dạy tiếng Lang Sa (Pháp), có làm ra chữ Quốc ngữ (sic) để người ta dễ học. Những người ký lục (thư ký) giỏi cùng siêng năng sẽ lo mà học chữ quốc ngữ vì có hai mươi bốn chữ và viết đặng muôn ngàn chuyện, chữ chi mắc rẻ (khó dễ) cũng viết đặng, không phải như chữ Tàu học già đời mà còn có chữ lạ viết không ra, ở đây có Phủ Tường (Tôn Thọ Tường) đã học đặng chữ Quốc ngữ, viết đặng, đọc đặng. Chữ ấy chẳng khó đâu, ra công học một đôi tháng thì thuộc hết…”
 
Ông Trương Vĩnh Ký là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục, và chuyên khảo cứu văn hóa tiêu biểu của Việt Nam.Với tri thức uyên bác, am tường và nhiều cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, nên ông được:
- Tấn phong Giáo sư Viện sĩ Pháp.
- Được nêu tên trong Bách khoa Tự điển Larousse  http://www.larousse.fr/archives/pages/recherche.aspx?keyword=Truong%20Vinh%20Ky,
- Đứng vào vị trí " Toàn Cầu Bác Học Thập Bát Quân Tử"  tức là một trong 18 nhà bác học hàng đầu thế giới trong thế kỷ 19.
- Đứng vào hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới, ông viết và đọc thông thạo 27 ngoại ngữ, một nhà thông thái biết nhiều thứ tiếng nhất ở Việt Nam...
(4)
Ông đã để lại cho kho tàng Văn học Việt Nam hơn 100 tác phẩm về văn học, lịch sử, địa lý, từ điển và dịch thuật...
 
Tượng đài lịch sử, vinh danh ông Trương Vĩnh Ký cạnh Nhà Thờ Đức Bà trước 1975.
 

Mãi đến thời gian gần đây, phần tượng lịch sử còn lại của ông được đem ra triển lãm "mỹ thuật" trong Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM.

Các nhà khoa bảng, trí thức, cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, kết hợp với nhiều nhà trí thức cấp tiến thời đó, khởi xướng ra các phong trào Duy Tân, Đông Du nhằm vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho (Hán) học, kêu gọi việc học Quốc ngữ để nâng cao dân trí, với lý do đơn giản: Quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho (Hán). Các ông đã vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (Trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục,1907). Trong một bài thơ khuyến khích việc học quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục, có đoạn viết:
“… Chữ quốc ngữ là hồn trong nước, Phải đem ra tỉnh trước dân ta, Sách các nước, sách Chi-na, Chữ nào nghĩa ấy, dịch ra cho tường…”
Các sĩ phu của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Khi phong trào Duy Tân, và Đông Kinh Nghĩa Thục ngày càng lớn mạnh, khiến cầm quyền thuộc địa Pháp lo ngại tinh thần yêu nước và chống thực dân Pháp của đồng bào Việt Nam. Việt Nam Vong Quốc Sử của nhà ái quốc Phan Bội Châu xuất hiện lúc bấy giờ là một trong những tiếng chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc. Làn sóng yêu nước nổi lên khắp nơi, làm thực dân Pháp phải lo sợ, nên đã ngưng trợ cấp và đóng cửa một số trường.
 
Bài mở đầu sách Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu.
 
 
Chữ Quốc ngữ trong giai đoạn này vẫn ngày càng phổ biến, đã giúp dân chúng dễ dàng học, hiểu biết những sơ đẳng cần thiết trong đời sống, theo dõi sát các tin tức thời sự, các chuyển biến thời cuộc chính trị trong nước và thế giới qua sách báo, truyền đơn.Từ năm 1925 nhiều đảng phái chống Pháp được thành lập, truyền đơn, lời kêu gọi, sáng tác thơ văn yêu nước… đều viết bằng chữ Quốc ngữ.
 
 
Nền văn học Việt Nam vào năm 1933 chuyển biến mạnh, xuất hiện một thể loại Văn mới, là Văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ do ông Nguyễn Tường Tam, bút hiệu Nhất Linh và nhóm văn sĩ thành lập lấy tên: Tự Lực Văn Đoàn, với 10 năm sáng tác và hoạt động báo chí, khai sinh nên dòng văn học lãng mạn Việt Nam. Nổi trôi trong những diễn biến lịch sử bất lợi, khó khăn của thời cuộc đất nước lúc bấy giờ, nhưng nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã cống hiến nhiều vào sự phát triển Văn Học của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 20. Toàn bộ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn vẫn được lưu truyền tự do và được đưa vào trong giáo trình giảng dạy Văn học tại các trường Trung học miền Nam sau 1954 mãi cho tới 1975.
 
Lớp học Mẫu giáo trong giờ Tập Viết, giáo dục miền Nam trước 1975
 
 
Tóm lại, ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) là phương cách để con người giao tiếp, thông tin với nhau, hoặc diễn đạt tư tưởng của mình cho người khác biết. Ngôn ngữ cũng là một phần của văn hoá, là linh hồn của một dân tộc. Trải qua thời gian và không gian, ngôn ngữ không ít, nhiều đã phải thay đổi để cho phù hợp với nhu cầu, hoàn cảnh và đà tiến hoá của xã hội.
 
 (1)
- Ca Dao: Câu hát ngắn thành khúc điệu được phổ thông trong dân gian
- Tục Ngữ: Câu nói có tính cách răn dạy hay châm biếm chuyện đời
- Châm Ngôn: Lời văn có vần điệu để khuyên đời
- Cách Ngôn: Lời nói làm khuôn phép (cách kiểu mẫu, khuôn mẫu)
- Ngạn Ngữ: Câu nói ngắn gọn của dân gian với mục đích răn dạy
- Phong Dao: Lời ca câu hát dân gian, diễn tả phong tục tập quán các địa phương.
- Phương Ngôn: Lời nói thông dụng của từng địa phương có ý nghĩa như câu tục ngữ
- Thành Ngữ: Những câu nói ngắn gọn, dùng khi nói hay viết đã được trau chuốt.
- Dân Ca: Những bài ca phát âm tiếng địa phương dân tộc, dễ hiểu và tâm tình dân tộc
(2) Văn “Tế cá sấu”
Ngặc ngư kia hỡi mày có hay
Biển Đông rộng rãi là nơi này
Phú Lương đây thuộc về thánh vực
Lạc lối đâu mà lại đến đây
Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
Xuống nước giao long cũng phải chừa
Thánh thần nối dõi bản triều nay
Dấy từ Hải Ấp ngôi trời thay
Võ công lừng lẫy bốn phương tịnh
Biển lặng sông trong mới có rày
Hùm thiêng xa dấu dân cày cấy
Nhân vật đều yên đâu ở đấy
Ta vâng đế mạng bảo cho mày
Hãy vào biển Đông mà vùng vẫy.

(3) Adran: Là Tước Hiệu của Phu tá Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc)
(4) Petrus - Trương Vĩnh Ký :
Ông đã được nhận các chức vụ và huân huy chương:
Huy chương Dũng sĩ cứu thế của Tòa thánh La Mã ngày 1 tháng 10 năm 1863.
Năm 1871, được cử làm hội viên Hội Nhân Văn và Khoa học vùng Tây Nam nước Pháp, Hội nhân chủng học, Hội Giáo dục Á châu.
Huy chương Isabelle la Catholique của Tây Ban Nha ngày 27 tháng 6 năm 1886.
Thành viên Hội chuyên khảo về Văn hóa Á Châu ngày 15 tháng 2 năm 1876.
Hội viên Hội chuyên học địa dư ở Paris ngày 7 tháng 7 năm 1878.
Huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhị đẳng của Pháp ngày 17 tháng 5 năm 1883.
Huy chương Tứ đẳng Long Tinh, Ngọc Khánh, Long Khánh của Nam triều ngày 17 tháng 5 năm 1886.
Huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh đệ ngũ đẳng của Pháp ngày 4 tháng 8 năm 1886.
Huy chương Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Pháp ngày 3 tháng 6 năm 1887
Hàn Lâm Viện đệ nhất đẳng của Hoàng gia Cam Bốt.
Vua Đồng Khánh ban cho ông chức Hàn Lâm viện Thị giảng học sĩ.
Vua Khải Định ban hàm Lễ Bộ Tham Tri.
Vua Bảo Đại ban hàm Lễ Bộ Thượng Thư.

Anh Thư chuyển

Dec 6, 2013

ÁO TRẮNG NGÀY XƯA

         ÁO TRẮNG NGÀY XƯA



                                 


Tôi cứ nhìn ngắm mãi  hình ảnh dễ thương , yêu kiều của các cô bé học trò trong một video giới thiệu về áo dài trắng của nhà sản xuất lụa  Thái Tuấn. Hôm qua, một cô bạn gửi cho tôi bộ lịch Áo trắng 2014 cũng với những hình ảnh của các cô bé học trò duyên dáng trong những chiếc áo dài trắng với lời nhắn gửi " Hà ơi ! Nhớ quá những ngày còn thơ "  .... làm tôi bỗng thấy bâng khuâng, nhớ về một thời áo trắng ngày xưa.

Ngày đó, những ngày tháng đầu tiên bước vào trường Trưng Vương của đầu thập niên 60, chúng tôi vẫn còn bé lắm. Những cô bé 11 tuổi đầu vừa đậu qua được kỳ thi tuyển để có  một niềm hãnh diện khi được mặc áo dài trắng làm nữ sinh trung học trường TV. 11 tuổi với thân hình bé tí, chúng tôi trông thật ngây ngô trong những chiếc áo dài rộng thùng thình. May quá, lúc đó trường lại cho các lớp từ đệ Thất đến đệ Tứ được mặc áo đầm trắng song song với áo dài đi học.  Thế là lũ học trò bé xíu chúng tôi được thoải mái hơn trong những chiếc áo đầm trắng đủ kiểu, thật dễ thương tung tăng đến trường.

Rồi những mùa hè trôi qua, chúng tôi cũng lớn dần theo hai hàng me dọc theo con  đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy lá me bay để bắt đầu bước vào tuổi mộng mơ của những cô nữ sinh trung học đệ nhị cấp. Năm học đệ Tam là năm học thường được coi là năm học phè , xả hơi để chuẩn bị cho 2 năm học kế tiếp thi Tú Tài 1 và Tú Tài 2. Lúc này chúng tôi chỉ được mặc áo dài trắng đi học, chúng tôi cũng bắt đầu biết làm điệu, những bước chân cũng đã luống cuống  khi đi ngang qua ngôi trường hàng xóm Võ Trường Toản, biết thẹn thùng  khi thấy thấp thoáng bên  gốc cây bên kia đường trước cổng trường ai đó  " đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư "
Ba năm học sau cùng thật sự là những ngày tháng đã để lại bao nhiêu kỷ niêm mộng mơ của thời áo trắng học trò.
 Áo dài trắng ngày ấy của nữ sinh chúng tôi thường được may bằng vải tetoron , thỉnh thoảng có em điệu hơn thì có áo dài bằng hàng soie Pháp, soie Bangkok trông thật yểu điệu. Trong thời gian này các cô sinh viên, nữ sinh Saigon chúng tôi  không ai là không biết đến hàng tơ lụa nội hóa  Hồng Hoa với nhiều mẫu hoa văn in trên vải thật đẹp. Thêm vào đó là kiểu áo dài mini, tay raglan, không eo , tà nhỏ và phải hở hở ỏ phần eo một chút  đã tạo nên hình ảnh thật đẹp , thật duyên dáng, thật quyến rũ cho chiếc áo dài thời thập niên 70 của chúng tôi.  Đi kèm với chiếc áo dài mini này là một chiếc quần được cắt theo khổ vải xéo để may thành ống rộng khi mặc vào sẽ tăng thêm phần dịu dàng thướt tha cho tà áo.
 Tà áo trắng trinh nguyên này đã là người bạn đồng hành cùng với chúng tôi trong suốt những năm tháng của thời học trò với bao nhiêu kỷ niệm với bạn bè, với thầy cô , với ngôi trường TV yêu dấu.



                           
                                                                 Áo trắng TV 1970
                                                                          1AP2
                                                                 Áo trắng  ngày xưa 1970
                                                                           1AP1

Trải qua hơn 40 năm,   hình ảnh  những cô nữ sinh TV của thập niên 63-70  ngày nào trong  tà áo trắng,  gặp nhau trong một dịp gần đây , mà một cô bạn đồng niên đã gửi lên cho cả group xem, chúng tôi thật bồi hồi nhớ về một thời áo trắng ngày xưa. 

P.Hà


                                   
                                                               Áo trắng TV 63-70  năm 2013
                                                                 Phong Mỹ - Bạch Mai - Trang


                                                   Áo trắng Trưng Vương 6370  năm 2013
                                                                      Thiên Nga




Video Áo dài trắng của nhà tơ lụa Thái Tuấn.

Dec 1, 2013

QUÊN ĐI NỖI NHỚ



the faded dream
photographer David Diec


                    QUÊN ĐI NỖI NHỚ

                                                  Bích Quy

                  Bao  điều muốn quên thì lại càng nhớ
                  Nhiều điều muốn nhớ lại đành để quên 
                  Niềm vui   khó kiếm
                  Hiếm hoi   nụ cười
                  Chìa khóa niềm vui,
                  Lỡ trao anh rồi
                  Cho em xin lại,
                  Để còn học quên
                  Để không  nhớ những ưu tư,  phiền muộn
                  Làm tim em đau những tháng ngày qua ...
                  Em sẽ cất hết đi những kỷ niệm
                  Vào tít tận sâu trong đáy lòng mình
                  Quên đi rồl̀ ,
                  Nào có thấy vui đâu ?
                  Vậy là trống rỗng
                  Và chẳng còn gì  
                  Anh ơi ... Anh ơi .......

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 12

                                   CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 12





ĐSTV 6370 thân mến gửi đến các bạn sinh nhật trong tháng 12 một ngày sinh nhật thật tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.
Thân mến gửi tặng các bạn những cánh hoa Thủy tiên trắng kiêu sa như những lời chúc mừng các bạn thêm một tuổi mới thật nhiều điều tốt đẹp.

Mỗi một năm trôi qua
Nụ cười của bạn càng tươi thắm hơn
Thân mến chúc Anh Bằng, Thiên Nga, Bích Liên  một ngày sinh nhật rạng rỡ niềm vui và hạnh phúc bên gia đình.



                                                        


HoaThủy Tiên - Hoa sinh nhật Tháng Mười Hai

Tên Hán Việt : Ngọc Châu Ngân Đài
Tên cổ : Jonquil (hoa trường thọ)
Tên tiếng Anh : Daffodil
Tên tiếng Pháp : Narcisse des prèsTên Latin : Narcissus sylvestris

Hoa thủy tiên có tên khoa học là Narcissi, tên tiếng anh là Daffodil thuộc họ hành tỏi.
Thủy Tiên là tên một loài hoa thanh nhã, cánh hoa trắng muốt, tinh khiết, mùi hương ngọt ngào, đường kính hoa cỡ 3cm, mọc từng chùm, nhụy hoa màu vàng hình chuông, lá xanh hình lưỡi liềm dài độ hơn một gang tay, mọc trên một củ tựa như củ hành tây. Hoa thủy tiên tượng trưng cho sự may mắn và trường thọ. Ngày tết, hương thủy tiên quyện với mùi hương trầm từ ban thờ trong cái lạnh đặc trưng của ngày xuân tạo nên một vẻ linh thiêng huyền bí và ấm áp.
Loài hoa của tháng 12 là hoa thuỷ tiên, , tượng trưng cho sự ngọt ngào, thành công, chung thuỷ, những điều ước tốt đẹp, và sự giàu sang.Hoa thuỷ tiên có nguồn gốc từ Bắc Phi, châu Âu và châu Á.Những người sinh vào tháng 12 có ý chí kiên định, có thể vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn. Họ vô cùng tự tin và luôn luôn hướng về gia đình. Những người này có suy nghĩ hệ thống và logic trên con đường đi đến thành công.Người ta tin rằng Hoa Thuỷ Tiên mang lại tài lộc và thịnh vượng. Do vậy, mỗi dịp Tết đến, chơi hoa thuỷ tiên trở thành một tục lệ đón Xuân. Những ngày cuối năm, Thuỷ Tiên được chăm sóc để hoa nở đúng Giao Thừa, hy vọng mang đến tài lộc sung túc và may mắn trong năm mới

Thủy Tiên, theo cách gọi tên hoa có nhĩa là “Nàng tiên nước“, nàng tiên hoa nơi thuỷ cung. Quả như vậy, Thủy Tiên là một loài hoa không nhan sắc loè loẹt, rực rỡ như những loài hoa khác mà mảnh mai, trinh khiết, thuỳ mị, mang phong cách nữ tính, đầy vẻ quý phái.
Hoa Thủy Tiên trắng (Narcissus) biểu tượng cho sự sang trọng và kiêu sa nhưng ý nghĩa của nó lại là yêu chính mình và mang tính ích kỉ.vì dựa theo truyền thuyết Hy Lạp về sự tích hoa Thủy tiên thì vào thời xa xưa có một chàng trai tên là Narcissus rất đẹp trai . Tự phụ về sắc đẹp của mình nên chàng chối bỏ hết những tình yêu của các nàng tiên nữ trong số đó có nàng Echo. Echo buồn bã héo heo đến độ không còn sức lực và mất luôn cả tiếng nói của mình chỉ còn sức lập lại những tiếng sau cùng như tiếng vọng. Các Nữ thần rất giận dữ vì tính kiêu kỳ của chàng Narcissus và quyết trừng trị chàng. bằng cách làm cho chàng cũng phải yêu và thất tình như nàng Echo. Một hôm sau khi đi săn trong rừng, thấm mệt chàng Narcissus đi đến bên bờ suối.
Chàng vục nước đưa lên miệng uống. Mặt nước lay động, khuôn mặt chàng cùng với mảng trời xanh tan tác trong làn nước lung linh. Và rồi những hình ảnh ấy lại được mặt nước chắp nối lại nguyên hình như trước. Khuôn mặt xinh đẹp của chàng chập chờn hiện ra rồi dần dần lắng đọng lại. Chàng kêu lên: "Trời ơi, đẹp quá!" và thầm nghĩ: "Ta hiểu vì sao các cô ấy khổ đau, sầu não vì ta...". Narcissus cứ ngắm nghía khuôn mặt tuấn tú của mình nổi trên làn nước và suy tưởng. Càng ngắm nghía, chàng càng thấy mình đẹp, chàng càng yêu mình say mê, đắm đuối. Chàng đưa tay khuấy nước, mỉm cười vui đùa với mình. Một tình yêu mãnh liệt, sôi sục từ đâu bùng cháy lên trong trái tim chàng. Chàng muốn chế ngự nó, rời bước khỏi dòng suối, nhưng lạ thay có một sức mạnh vô hình nào giữ chân chàng lại, lưu giữ chàng lại. Chàng nhìn xuống khuôn mặt mình trên mặt nước với một niềm khát khao cháy bỏng. Chàng muốn trao cho khuôn mặt xinh đẹp đó một cái hôn nồng nàn. Nhưng chỉ vừa choàng vòng tay, cúi xuống là khuôn mặt đó tan tác, biến đi đâu mất. Chàng đứng lặng người, đau đớn, xót xa. Nhưng rồi khuôn mặt xinh đẹp lại hiện ra trên mặt nước. Narcissus lại mê mẩn trong mối tình câm với hình bóng của mình. Rồi chàng nói thì thào với hình bóng của mình:
-Ta đã yêu ta với một tình yêu nồng cháy. Ôi, có lẽ tình yêu này sẽ đốt ta thành tro bụi mất thôi!
Và chàng Narcissus chỉ suốt ngày ngồi bên bờ suối tương tư sầu não nhìn ngắm chính khuôn mặt xinh đẹp của mình trong tình yêu tuyệt vọng cho đến chết . Nơi chàng nằm chết mọc lên một bông hoa với vẻ đẹp lạnh lùng kiêu kỳ. Hoa trắng muốt, hương thơm ngào ngạt chính là hoa Thủy tiên.



Ngược lại với hoa Thủy Tiên trắng hoa Thủy Tiên vàng (Daffodil) lại mang ý nghĩa là quan tâm và hào hiệp. Thủy Tiên vàng muốn nói rằng : “Mặt trời luôn chiếu sáng khi em ở bên anh“.
Thủy Tiên vàng biểu thị cho tình yêu đơn phương, lòng yêu mến, kính trọng và tinh thần, phong cách hiệp sĩ.
Hoa thủy tiên trắng ví như những cánh tiên, rất nhẹ nhàng, thanh thoát... và thường hay mọc thành từng cụm. Ra hoa vào ngày đầu năm. Thủy tiên được chưng bày trong một cái tô hay chậu đẹp, tôn thêm nét thanh cao của mình, có mùi hương dịu dàng.

Nếu bạn sinh trong tháng nầy, bạn sẽ là người có tính thân thiện, cởi mở với mọi người, dù rằng đôi khi bạn cũng kiểu cách lắm... nhưng từ trong trái tim của bạn mà ra, thì bạn là người có lòng.
Bạn cũng luôn luôn gặp được may mắn do sự cương quyết suy đoán và niềm lạc quan của mình. Chẳng những thế, bạn còn là người ứng biến giỏi, có tài đối đáp mau lẹ và pha lẫn chút hài hước, khiến đem đến cho người nụ cười thông cảm.
Màu mang cho bạn may mắn và thành công là những mầu tím, xanh lá cây và lục lam.

Có một bài thơ về hoa Thủy tiên dịch từ bài thơ của William Wordsworth tặng các bạn :

                                                                               .
                                            


Cô đơn như vạt mây trôi
Tôi đi qua núi qua đồi lửng lơ
Hốt nhiên như một tình cờ
Tôi may mắn gặp bất ngờ Thủy Tiên
Bên hồ nương gió chao nghiêng
Tán cây che thắm thêm duyên hoa vàng
Tựa như sao sáng xếp hàng
Rạng ngời lấp lánh thênh thang Ngân hà
Dọc dài vô tận ngàn hoa
Ngất ngây vũ khúc hoan ca rộn ràng...

Dõi theo tôi khắp giang hà
Đôi mắt lóng lánh lời hoa nồng nàn
Cô đơn, tôi với hoa vàng
Hóa thân hạnh phúc muộn màng sóng đôi.

( Ẩn danh)

 Tháng 12 cũng được tượng trưng bằng những cánh hoa Trạng Nguyên- Poinsettia

                     

Khi bạn thấy sắc đỏ trạng nguyên phủ khắp những con đường, những ô cửa nhỏ của hàng quán bên đường, đó cũng là lúc không khí Giáng sinh tràn ngập đất trời. Những chậu hoa trạng nguyên rực đỏ không chỉ làm ấm cả khoảng trời đông xam xám mà còn được biết đến như là Hoa Noel và hoa yêu thương. Sắc đỏ tươi thắm của trạng nguyên báo hiệu điềm lành, sự may mắn và những lời chúc an vui cho một mùa lễ hội náo nhiệt và tràn màu sắc.


                                                         
Cứ vào đêm Giáng sinh, ở một thị trấn nhỏ sát biên giới Mexico, người ta lại thấy ánh sáng của mười hai ngọn nến chiếu qua ô cửa sổ của một nhà thờ bằng gạch cũ kĩ. Phong tục này đã có từ nhiều năm, và đó là lúc mọi người mang theo một món quà để mừng ngày Chúa ra đời. Từ trẻ đến già, mọi thành viên trong các gia đình đều hướng đến khung cảnh thiêng liêng ấy, kính cẩn cúi đầu và đặt quà lên bàn thờ Chúa.
Vào một đêm Giáng sinh nọ, có cậu bé mồ côi đứng một mình trước cửa nhà thờ. Cậu ao ước được mang quà dâng Chúa như những gia đình kia, nhưng quá nghèo, cậu chẳng có gì để làm quà cả.
Khi đứng nép sát vào cửa sổ, cậu bé nghe tiếng đàn phát ra từ nhà thờ. Giai điệu du dương khiến trái tim cậu chợt nghĩ đến những điều kì diệu của ngày lễ, cậu quỳ xuống bên ngoài nhà thờ và cầu nguyện.
Khi tiếng đàn vừa dứt, cậu bé đứng dậy và chuẩn bị quay về trại trẻ mồ côi. Nhưng thật ngạc nhiên, ngay chỗ cậu quỳ lúc nãy có một loài cây rất đẹp, lá đỏ, đang nở ra những bông hoa vàng li ti. Cậu chưa từng thấy một loài cây nào đẹp như thế. “ Có lẽ thiên thần đã mang đến món quà này để mình dâng lên Chúa”, cậu nhủ thầm như thế và nhẹ nhàng bưng cây ra. Cậu chạy vào trong nhà thờ và đặt cây hoa lên bàn thờ Chúa.
Về sau, cứ vào mùa Giáng sinh, loài cây ấy lại ra hoa, những chiếc lá đỏ thắm bao quanh hoa vàng. Người trong thị trấn gọi đó là “ Hoa của đêm thánh vô cùng”.

Rồi một gia đình tử tế dòng họ Poinsettia đến nhận cậu bé về nuôi, sau này cậu đã trở thành một doanh nhân thành đạt. Nhiều năm sau, ông quay lại làng quê cũ trong nỗi nhớ da diết, ông cho xây một nhà thờ và một ngôi trường nơi đây. Để đáp lại tấm lòng hào phóng ấy, những người dân của thị trấn đã tặng ông một món quà đặc biệt: loài cây lá đỏ với những bông hoa vàng rất đẹp được đặt bằng chính tên của ông – Poinsettia ( Hoa trạng nguyên).


Tháng 12 cũng được tượng trưng bằng 2 loại đá quí.Blue Topaz - Đá Topaz xanh dương là đá tượng trưng cho tháng 12
Theo tiếng Hy Lạp, Topaz có nghĩa là "toả sáng". Topaz có nhiều màu sắc nhưng chỉ có Topaz xanh dương là viên đá của người sinh tháng 12.



Topaz tượng trưng cho thông minh, sắc đẹp, lòng chung thủy và tình bạn chân chính. Topaz đem lại sức mạnh, hạ hoả người nộ khí, khôi phục sự khôn ngoan, chữa lành suyễn, giảm mất ngủ.
Với sắc xanh của Ngọc lam, sắc xanh của sự huyền bí và của những con sóng hùng vỹ, bạn thể hiện được sự mạnh mẽ, sự thông thái và khả năng thích chinh phục của mình.

Đá topaz xanh tùy từng trường hợp được đeo để trị chứng mất ngủ, giúp người ta trấn tĩnh, thậm chí làm cho người đeo trở thành vô hình. Ngọc lam tượng trưng cho tình bạn, sự may mắn, làm tăng thêm tình thân ái và sự hiểu biết. Theo truyền thuyết, có nói nó xua đi tất cả những đam mê, lú lẫn, xua đi sự ám ảnh, bùa chú và giúp tăng cường thị lực. Người Hy Lạp cổ đại tin rằng nó mang đến sức mạnh lâu dài, tức nó là biểu tượng của sự dẻo dai, bền bỉ. Nó biểu tượng cho sự lộng lẫy, và hiền dịu.

December Birthstone poem - the Turquoise

"If cold December gave you birth
The month of snow and ice and mirth
Place on your hand a turquoise blue
Success will bless whate'er you do."




Đối với những người đã được sinh ra trong tháng của tháng mười hai Turquoise là Birthstonetruyền thống. Tháng Mười Hai Birthstone bài thơ phản ánh một số ý nghĩa mà Turquoise có liên quan - sự thịnh vượng, thành công, hạnh phúc và may mắn. Thuộc tính siêu hình truyềnthống của Turquoise bảo vệ chống lại tất cả các bệnh, tái sinh, và tăng cường. Các đặc tính chữa bệnh của Turquoise có hiệu quả cho các vấn đề sức khỏe liên quan đến cổ họng, phổi, hen suyễn, răng, trầm cảm. và nhiễm trùng. Turquoise cũng được sử dụng để nâng cao sự sáng tạo, sự thanh thản và tinh thần liên kết.
Các bạn sinh trong tháng 12, tùy theo ngày cũng có những cá tính khác nhau
01-16 Tháng 12 = Chó
17-25 Tháng 12 = Khỉ
26-31 Tháng 12 = Chim bồ câu
Chó:Bạn là người rất trung thành và tử tế. Lòng trung thành của bạn là điều mà không một ai phải hoài nghi về nó. Tử tế và thật thà chính là thái độ làm việc của bạn. Bạn quả là người đơn giản. Bạn thường không thích sự phức tạp, khiêm tốn và thực tế!! Đây chính là lý do khiến bạn bè luôn ở bên bạn! Bạn có năng khiếu về thời trang. Nếu tủ quần áo của bạn không được cập nhập những khuynh hướng thời trang mới nhất, thì có nghĩa là bạn đang cảm thấy chán nản. Bạn được nhiều người yêu thích và dễ tiếp cận. Bạn có ít bạn thân, nhưng họ đều là những người có nhân cách đáng tôn trọng.

Khỉ:
Bạn rất không kiên nhẫn và hay cường điệu!!! Bạn muốn mọi việc diễn ra thật nhanh chóng. Trong thâm tâm, bạn khá đơn giản và thích được trở thành trung tâm của sự chú ý. Nhờ thế, bạn khá độc đáo. Bạn luôn bảo vệ bản thân trước mọi yếu tố. Dù cho bạn có bị chỉ trích hay được đề cao trong những cuộc tranh luận, bạn luôn cảm thấy hoang mang. Bởi vậy, bạn luôn phòng ngừa mọi chuyện ngay từ khi mới bắt đầu. Chính giác quan thứ sáu đã giúp bạn nhìn thấy được những điều không ổn và có thể tránh xa khỏi những cạm bẫy. Bạn là mẫu người ám ảnh vì tiền!!!
Chim bồ câu:Bạn biểu hiện là một người sống vô tư lự được đến đâu hay đến đấy. Dù cho có điều gì xảy ra, nghiệt ngã hay vui vẻ, bạn luôn thản nhiên. Thực tế, bạn mang đến niềm vui tại bất cứ nơi nào mà bạn hiện diện. Bạn là 'người lãnh đạo' trong nhóm bạn và có biệt tài an ủi người khác khi họ cần đến. Bạn không thích sự giả dối và luôn tìm cách tránh xa nó. Từ này không có trong từ điển của bạn cho dù vì bất cứ lý do gì. Bạn làm việc rất có phương pháp và biết cách tổ chức công việc thật tốt. Tuy nhiên, bạn lại khá đa tình…


Các bạn sinh trong tháng 12 cũng là thời gian mà mọi người cùng đón mừng mùa Giáng Sinh và năm mới sắp đến.
Mến chúc các bạn một ngày sinh nhật thật vui vẻ, tràn đầy niềm vui và tiếng cười rộn rã bên gia đình và một mùa Giáng Sinh cùng Năm mới an lành , hạnh phúc.


PH sưu tầm.

Nov 28, 2013

Mùa Lễ Tạ Ơn 2013

Mừng Lễ Tạ Ơn


Trong sân tối 27-11-2013






Mùa  Lễ Tạ Ơn 2013


Khí hậu năm nay hơi lạ thường, mùa Lễ Thanksgiving bên Mỹ mà lại có tuyết rơi nhiều ở miền Trung xứ này, gây ra khó khăn cho việc đi lại thăm viếng gia đình vào mùa Tạ ơn. Bên Canada cũng thế, trời lại trở lạnh nhanh quá, ban đêm xuống khoảng -12 độ, tuyết đầu mùa khá ẩm ướt bắt đầu rơi, phủ nhè nhẹ lên những cành cây khô làm thành những cây tuyết, càng nhìn càng thấy là tuyệt tác vì cảnh trí toàn diện thật khác lạ, đẹp ôi là đẹp! trắng xóa khắp nơi, hòa với những ánh đèn vàng ấm áp tỏa lan từ các ngôi nhà, thêm vào mùa này một số nhà đã bắt đầu chăng đèn trước sân để Mừng đón Giáng Sinh. Ngồi nhìn tuyết rơi, buồn man mác khó tả, nhớ đến mẹ hiền, cũng vào ngày này đã rời xa các con cháu về miền bình yên vĩnh cửu. Tôi hồi tưởng lại cách đây 6 năm nhân dịp giỗ hết của mẹ tôi vào cuối tháng 11, gia đình tụ họp nhau về Calgary CANADA có các Cô Chú từ Mỹ, Úc, Montréal  sang chơi, ngày ấy bố tôi còn sống, đại gia đình họp lại đông vui,  cùng nhau đi xem cảnh trí của rặng Rocky Mountain ở Banff bên Canada vào mùa đông, trong gondola nhìn ra các cô tôi đã trầm trồ :

- Oh! Sao mà đẹp như tiên cảnh thế này !

Đúng vậy tuyết trắng bao phủ một rặng núi dài, với tuyết  trên rừng thông xanh, được ngắm nhìn từ trên cao, quả thật là hùng vĩ và đẹp như cảnh tiên vì chỉ có ông Tạo mới cho những bức tranh tuyệt hảo như thế. Nhìn phong cảnh thần tiên, nghĩ đến các bậc sinh thành, lòng buồn man mác, biết đâu giờ này các cụ cũng đang thanh thản dạo chơi và đang nhắc về bầy con đám cháu làm tôi cảm thấy ấm lòng dù ngoài trời gió rét lạnh căm. Tôi hướng lòng về người thân, cám ơn trời đất những gì được hưởng và cũng cầu xin cho mọi người được cơm no áo ấm và bớt những tai ương như trận bão Hải Yến vừa qua, đã gây cho bao người chết bên Phi Luật Tân cùng cảnh màn trời chiếu đất thật thảm thương.
Xin thương chúc các bạn và gia đình một mùa lễ Tạ ơn thật đầm ấm và tràn đầy phước hạnh.

HAPPY THANKSGIVING

KĐ (11-2013)

Nov 27, 2013

Chia buồn cùng Minh Phượng và anh Dũng




Nhận được tin buồn

Thân phụ bạn :    Nguyễn thị Minh Phượng

Cụ ông : NGUYỄN ĐỨC HUỆ
Pháp danh: Tịnh Giác

Vừa từ trần tại San Francisco , California,USA

Hưởng Thọ :93 tuổi

TOÀN THỂ CỰU NỮ SINH TRƯNG VƯƠNG THUỘC NIÊN KHÓA 63-70 XIN THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG MINH PHƯỢNG VÀ TANG QUYẾN CÙNG CẦU CHÚC VONG LINH BÁC ĐƯỢC YÊN NGHỈ NƠI MIỀN TỊNH ĐỘ..

 
ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU








***************************************************************************
  
CẢM TẠ

Mình xin chân thành cám ơn các BẠN  TRƯNG VƯƠNG  63-70 đã gửi lời chia buồn đến gia đình mình,. nhất là 2 bạn MINH TÂM & BẠCH MAI đã đến tận nơi để đưa tiễn BỐ mình về nơi an nghỉ cuối cùng . 
MộtT lần nữa xin chân thành đa tạ các bạn, kèm theo đây mình xin gửi đến các bạn lời cảm tạ đăng trên tờ báo THỜI BÁO SJ . Trong lúc tang gia bối rối có rất nhiều điều sơ xót  mong rằng các bạn niệm tình tha thứ
Thân thương
pp or Phượng Nguyễn





 
Giếng của các TV63-70 tặng để hồi hướng công đức cho Cụ Đức Huệ