Jul 5, 2011

Tưởng nhớ cô Nguyệt Lãng



Cô Nguyệt Lãng tại tư gia tết 1984

Khóc Cô Nguyệt Lãng
Bồi hồi xúc động
Tin cô mệnh chung
Kỷ niệm hiện về
Như một cuốn phim
Chiếu lên từng khúc.
Thập niên tám mươi
Cứ mỗi ba năm
Thầy cô chu du
Khắp nơi thế giới
Gặp cô hai lần
Cô N.Lãng và thầy Hữu Bông đến Sherbrooke 1983
Thầy cô đến chơi
Sang Canada viếng thăm
Họ hàng con cháu.

Cô N.Lãng và thầy Hữu Bông đến Sherbrooke 1986

Cứ mỗi lần gặp
Kim Đoan khen cô
Sung sướng vui vẻ
Trẻ mãi không già
Cô cười vui thỏa.
Thầy trò đắc ý
Nhắc chuyện Trưng Vưong
Cô luôn diện đẹp
Tiếng giầy đặc biệt
Làm em chú ý
Nghe cô từ xa.
Tính cô vui vẻ
Trò ít bị la
Dù hay nghịch phá
Những giờ học nhạc
Không khí vui nhộn
Thư giãn ca hát
Em yêu thích nhạc
Vì nhờ cô dạy.
Thời gian trôi nhanh
Lần cuối gặp cô
Hơn hai mươi năm.

Mỗi độ Xuân về
Em hay nhớ cô
Chụp hình gia đình
Làm thiệp chúc Tết
Gởi đến họ hàng.

Angelina và Cô Lãng 1984 (Penang Mã Lai)
Giờ đây cách xa
Chúa gọi cô về
Cảm động nhớ Cô
Nhưng vững lòng tin
Có ngày gặp lại
Nơi cõi vĩnh hằng.
Kim Đoan
05-07-2011

Thầy Hữu Bông là cựu giảng sư dạy toán ở đại học Mã Lai, thầy là cậu họ của Anh Tuấn vì thế KĐ và A.Tuấn được cô N. Lãng đến thăm 2 lần vào năm 1983 và 1986.

Jul 4, 2011

Thành kính phân ưu



Rất xúc động khi nhận được tin buồn:

Bà Nguyễn Hữu Bông
Khuê danh Maria Dương Nguyệt Lãng

Cựu giáo sư Âm Nhạc
trường nữ trung học Trưng Vương Sài Gòn
vừa từ trần ngày 2 tháng 7-2011
tại Morristown, New Jersey, Hoa Kỳ
hưởng thọ 79 tuổi





Toàn thể cựu nữ sinh TV 63-70 xin chân thành chia buồn cùng thầy Bông và tang quyến.
Nguyện cầu hương linh cô Nguyệt Lãng được về cõi vĩnh hằng.






Chuyện Bà Cháu

CHUYỆN BÀ CHÁU
Lưu Hảo Chi





Bà tôi họ Cao, lấy ông tôi từ năm bà mười ba tuổi, hãy còn đánh chắt ngoài sân, và bà kể lũ trẻ đang chơi với bà bảo rằng: Người ta đang đi hỏi cưới mày đấy!! Bà kể với tôi rằng lấy chồng từ thuở mười ba, nhưng bà chẳng biết chuyện gì cả! Tối vẫn ngủ với mẹ chồng. Mãi đến năm muời chín thì bà đẻ ra bố tôi. Ông tôi họ Lưu,nên bà là cội nguồn gần nhất để chúng tôi tìm thấy một dòng dõi ʺnữ Lưuʺ tức là các con gái nhà họ Lưu.

Bà- người phụ nữ Việt Nam mà tôi cho là điển hình cuả sự cam chiụ những bất công, sự không thể tưởng tượng được một cách rất Việt Nam. Bà không được đi học
‐Thế hệ trước đây 50 năm, đàn bàđược đi học rất ít, (sợ viết thư cho bồ) và phải phục tòng‐ tam tòng tứ đức. Những nữ lưu ở trong dòng họ ấy, tôi phải kể đến hai người đã ràng buộc với tôi nhiều là bà và chị. Tôi yêu bà, vì giản dị là bà yêu thương tôi. Còn chị thì tôi kính sợ!! Những đứa cháu yêu bà thì chắc chắn phải là cháu cưng! Tôi là một trong những đứa cháu được bà cưng‐ Tức là bà đã dành nhiều công nuôi nấng. Lòng yêu là một cái gì vô cùng trừu tượng, và tôi luôn mang trong lòng tình yêu mộc mạc ấy để mà tự thỏa mãn là được bà cưng, tự an ủi cái hẩm hiu ʺmồ côiʺ cuả mình! Tuổi thơ, tôi thích chơi một mình. Bạn tôi thường là cái xó nhà. Tôi đứng trong cái xó đó để thấy mình được bỏ
quên. Mà có lẽ tôi thèm được bỏ quên, để được tự do mơ mộng. Tôi sẽ thủ thỉ với cái xó nhà rằng tôi đứng đây trông mây trời qua khe cửa, hay tôi sẽ tưởng tượng ra rằng thằng sàn nhà thì được lau rửa hàng ngày, còn tôi là cái xó kẹt thì chỉ để cho nhện giăng và ấn lão chổi cùn vào đứng chung!! Tôi nghĩ ra chuyện cái xó, để ví như cuộc đời mình đã bị xếp xó.

Câu chuyện bắt đầu từ lúc tôi lên một, tôi bị mắc bệnh đậu mùa và mẹ tôi đã thảy tôi cho ông bà tôi nuôi. Lúc đó, bà tôi cũng vừa mất một người con trai một tuổi cũng vì mắc bệnh đậu muà. Ông tôi ra tiệm thuốc bắc, bốc thuốc bổ về cho bà uống cho ra sữa tiếp mà nuôi tôi. Tôi đã lớn lên bằng sữa của bà. Bà cưng chiều tôi và tìm mọi biện pháp tránh cho tôi khỏi rỗ huê... Một dấu ấn kinh khiếp cuả bệnh đậu quái ác mà nhiều người vướng phải. Bà cho tôi món quà mà tôi không thể quên được đó là mười hai cô tiên bằng bột. Bà bảo đó là mười hai bà mụ. Những cô tiên cuả con bé lọ lem, lủi thủi chơi một mình với cơi trầu của bà. Thỉnh thoảng bà dấu đi một cô và hỏi tôi xem còn đủ mười hai cô không? phải coi chừng đừng để chuột tha! vì tất cả các cô ấy đều làm bằng bột và nhuộm phẩm.

Năm tôi lên bốn, tôi vẫn ở với bà và tôi tiềm tàng biết rằng bà rất sợ ông. Tôi nhớ, bà tôi lam lũ, sắn váy quai cồng gánh nước gạo nuôi heo. Ông tôi làm chef ở một tiệm ăn, nên có thể xin được những đồ ăn dư thừa của thực khách, đem về nấu cám và nuôi lợn rất tốt. Không biết con đường từ tiệm ăn (tức là phải ở thành phố) về đến một chốn nghèo nàn vùng quê hẻo lánh nào đó, đã phải xa mấy dặm để thân cò của bà lặn lội những quãng vắng, với hai thùng cơm hư, mùi vị chẳng lấy gì làm hấp dẫn ấy, theo bà đi những bao năm đời khốn khó, cúi mặt xuống con đường trơn và lầy. Có con đường nào rợp bóng cây xanh cho bà ngừng nghỉ ở những ngày hè oi bức?? Tôi vẫn không quên một lần tôi đứng chờ bà về. Từ đằng xa, tôi đã thấy đôi thùng nước gạo, chiếc khăn mỏ quạ dập dềnh trên đầu... Những bước thoăn thoắt như chạy, để xua đi cái nặng nề và chua chát (cả mùi vị lẫn thực tế!). Bà tôi thấp thoáng lướt tới, bà dừng lại
dưới hiên nhà, nét cười tươi thắm, vẫn không quên quà cho tôi : một chục quả sấu chin vàng rượm, đặt trên mặt lớp cơm thiu... Đây là những quả đã rụng xuống trên con đường về làng mà bà đã dành cho tôi... Cả cuộc đời tôi khi còn có bà, lúc nào tôi cũng được bà dành cho quà ngon, bà không ăn chua, nhưng quả ổi dòn, quả cóc dôn dốt, thì bà lựa tuyệt hảo. Những lúc nghĩ lại để dành cho bà chút trân cam cuả lòng ưu ái, thì bà nay đã không còn. Tôi mủi lòng nhớ lại câu chuyện gánh nước gạo cuả bà, vì hôm đó, sau khi cho tôi chục quả sấu làm quà, bà tôi vào nhà, ngồi xuống chõng tre, tôi còn nhớ đôi bàn chân không guốc dép, đôi tay buông thõng và tiếng thở dài não nuột, tôi kinh hãi khi nghe bà tôi gào lên thảm thiết khóc và than rằng ông tôi đã chuẩn bị một cái roi mây để về đánh bà!! Bà tôi là nạn nhân cuả chế độ phong kiến, chồng chúa vợ tôi! Đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp, và được quyền đánh đập giáo huấn vợ con!!
Năm tôi lên chín, bố tôi mất. Tôi trở lại sống với bà và lại được ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, được gối đầu lên cánh tay trần và mùi trầu ngai ngái cuả bà, được ngủ quên đi trong tiếng quạt phe phẩy nhẹ nhàng những làn gió mơn trớn tóc mai... Tôi ngáy trước bà, nên không hề biết được những đêm trằn trọc của bà sau ngày bố tôi mất, chỉ giật mình nửa khuya, nhìn thấy dáng ông tôi hình hài tiều tụy, bên cút rươu cạn, người đàn ông ngửa cổ khóc khan, tiếng khóc đứt đoạn vì thương con đã khuất, cảnh
nghèo và lũ cháu mồ côi quá sớm.
Đó là mùa hè năm 1959, những trận mưa nhiệt đới xối xả và làm bầu không khí mát dịu hẳn. Tôi đến đó với lòng bỡ ngỡ và thích thú vì nhà có cây sung. Tôi thích cây, bạn thiết cuả tôi là cây cỏ, lá nõn tươi nhựa, lá già xanh đậm với những nốt li ti mà ở trong đó có những con bọ bí hiểm. Quả lại càng hấp dẫn hơn, chín vàng, đỏ thẫm, hoặc xanh rụm. Những quả non mới chớm li ti và những chùm sung tròn trịa đẹp mắt. Bà tôi bảo cây sung vô ích vì quả ăn vô duyên. Nhưng tôi lại rât thích trèo lên cây và vắt vẻo trên cành ngắm trời mây xanh thẳm, hay đợi con vàng anh hót lanh chanh trên cành nhỏ, gọi tôi dậy lúc bình minh vừa chớm...Bầu trời thơ ấu đầy lộc non, khung cửa sổ nhỏ và lòng bình yên cỏn con trong nỗi buồn không tên của những ngày vừa mất bố.
MỘ CHÍ
Bùn nhầy nhụa
Đất đen
Những nhát cuốc lấp mộ, ngát mùi cỏ dại
Sự trở về ướt sũng
Tiếng mưa rơi buồn
Trời ướt... Đêm lạnh đen thẫm
Côn trùng ngân nga
Mắt tôi dừng lại
Căn nhà tranh vách đất
Tôi thấp thỏm chờ
Trong tiếng à uôm não nuột
À uôm
‐ ếch nhái‐ ao chuôm...
Đèn dầu hiu hắt
Tôi mơ hồ thấy bức màn đen
từ từ phủ lấy một quãng đời đen
Sắp đến
Ngày bố tôi mất
Cô đơn
‐ vắng lặng.
Chuyện thần giao cách cảm
‐ có linh hồn hay không??
Nhưng tôi biết chắc một điều
‐ lúc bố chết thì không yên lòng, vì lúc bốn giờ ba mươi sáng, bác tôi nằm mơ thấy bố đi từ hàng rào vào, với tay bẻ cành dâm bụt làm ngọn roi, trao cho bác dặn lời tâm huyết: ʺBác trông nom hộ tôi mấy cháu, chào bác tôi đi đâyʺ...Bác tỉnh dậy lúc năm giờ, vội chạy vào nhà thương thì người ta đang đẩy bố vào nhà xác. Bố tôi chết lúc bốn giờ.
Rồi bác trông nom các cháu giùm cho bố. Nhưng tôi không ở với bác, vì học trường công gần nhà và được ở với ông bà nội. Dầu gì chăng nữa, tôi cũng thấy văn hóa Á Đông giàu nhân bản, vì ông bà tuy rất nghèo, nhưng vẫn sẵn sàng mở rộng vòng tay che chở, yêu thương các cháu không
một chút phàn nàn! Bà ôm ấp nắm ruột thịt thân thiết cuả bà, là hậu duệ của người con trưởng mà bà đã dành nhiều kỳ vọng và lòng ngưỡng mộ
‐ Bà bảo bố tôi đẹp nhất bầy, giỏi, khéo tay và rất nghệ sỹ. Tên của tôi là bút hiệu cuả bố, để ông dịch sách và làm thơ (chắc không con cóc như tôi!) Bố đặt tên tôi cho những kỷ niệm đẹp một thời cuả ông.
Nhà bà nội
‐ một nếp nhà tôle ciment, tường phên vách đất. Cái nhà như một cái hộp chữ nhật lớn, có hai cửa ra vào đều ở bên hông hộp chữ nhật và một cửa sổ lớn, hoàn toàn bằng phên để gió trời tha hồ mà thổi vào lồng lộng. Nhà có hai cửa đều có thể thoát ra đường cái, cửa chính có số nhà, và cửa sau không có. Nhưng nhà lại là tận cùng cuả ngõ cụt, nên hứng tất cả mọi tai ương. Tôi đến nơi đây lúc không bao giờ thấy
bố tôi trở lại, và chỉ trong một thập niên
‐ ba người đàn ông trong nhà đã ra đi. Sau bố tôi mất mới 37 tuổi, đến ông nội 67 tuổi và người sau cùng là chú út mất lúc mới 21.

Lúc lớn khôn rồi thì tôi mới nhận rõ cái ʺvô phúc thiểu âm đứcʺ cuả một gia đình mà rường cột thì ngã đổ, nhà chỉ còn đàn bà góa và trẻ con ở với nhau, chứ hồi còn nhỏ, căn nhà cuả bà tôi là cả một cái gì bí mật thân thiết cho tôi được tự do thơ thẩn cả ngày, tôi đã sống thật bình an.
Đầu nhà có một cây sung mọc chui ra khỏi mái. Một khoảng trời xanh và gió, một khoảng lá nõn những muà xuân, hoặc những ngày hè oi ả, sau những trận mưa lớn, lá sung nâu trôi đầy từ máng xối xuống thùng nước chứa cuối sân sau, ở trong lu nước, đã có một chú cá vàng đuôi đỏ, thơ thẩn ẩn núp dưới lớp lá mục, chơi trò trốn tìm hồi hộp với đôi mắt cuả tôi tìm kiếm. Tôi sợ chú theo nước mưa tràn ra khỏi thùng nước mà chui xuống cống rồi ra tít tận biển khơi. Nhà bà nghèo lắm, ngay dưới gốc sung là một tấm giường gỗ, nơi đây được mắc một chiếc võng gai để bà ru cháu ngủ. Lúc này em tôi đã được mười tháng tuổi. Rồi chúng tôi cũng lớn lên với tiếng hát ru u hoài ngọng nghịu cuả bà. Tôi thay hình ảnh mẹ hiền bằng hình ảnh bà tôi chịu thương chịu khó, hiền từ, đẹp như tranh mộc cuả lòng tôi. Tôi chẳng thừa hưởng chút anh khôi nào của bà cả, môi mỏng, đỏ thắm (vì trầu) mũi dọc dừa, mắt sâu. Bà cười tội nghiệp khi bồng cháu giơ cao ngang đầu và bảo sẽ gọi em bằng ʺcon Côiʺ. Trong tấm lòng cuả bà, lúc nào cũng thấy sự mất mát côi cút cuả chúng tôi là đau khổ hơn cả.
Những lúc nằm bên bà, ngủ trưa hay ngủ sớm, tôi thường ôm lấy cái bụng xồ xề của bà, ngửi mùi nồng ấm của trầu và nhìn vào đôi mắt trắng đục, bà chẳng nhìn tôi nhưng khẽ khàng kể lể (lúc đó tôi đâu khoảng mười tuổi): ʺÔng mày đi xa về muốn lúc nào thì cứ gần bà, chẳng kể gì là bà đang có tháng!ʺ Tôi chẳng biết ất giáp gì, nhưng mơ hồ hiểu là bà phải chịu đựng khi sống với ông! Giọng bà luôn luôn có âm điệu hơi buồn.

Bà sinh nhiều, nhưng không nuôi được. Hữu sinh vô dưỡng. Tên các con của bà: Yên, Ổn, Nhàn, Tỉnh, Thông, Minh, Định, Trịnh, Nghĩa, Danh, Dự.. ít nhất cũng phải mười hai người con. Theo cách đặt tên thì ông bà không muốn giàu có sang trọng, nhưng chỉ ước ao được một cuộc sống yên ổn với những bông trái thông minh. Mà cái tên thì luôn luôn phản lại cái người. Phản bội một cách trắng trợn hơn là tất cả, những người con thân yêu cuả bà đều lặng lẽ giã từ trước khi bà nằm xuống(tôi chỉ còn một
ông chú là sống tới bây giờ để lo viêc hậu sự). Bà không được đi học, nhưng có theo lớp xoá nạn mù chữ, nên bà biết đọc biết viết. Bà đọc kinh thánh và hát thánh ca với các cháu. Dưới ánh đèn dầu lù mù, bà hát: ʺLàm giàu tôi không ham Chuá ôi! Bạc vàng phù vân đấy thôi...ʺ
Mà thật vậy, làm sao mà giàu có được khi bà vẫn phải buôn gánh bán bưng,và lo chạy gạo từng bữa phụ nuôi lũ cháu nhỏ mồ côi. Tôi nhớ những bữa cơm thanh đạm
‐ gạo đỏ, muối vừng, thêm tô canh rau ngót nấu tôm khô. Tôi rất ghét rau ngót vì lá hơi chát và cứng. Mỗi lần bà nấu canh rau ngót là tôi lại khóc: ʺCháu không biết ăn mà bà cứ nấu món này hoài!ʺ Rồi nước mắt ở đâu mà lắm ... cứ rơi lã chã!! Bà lườm cho một phát, rồi lẳng lặng đi rán cho tôi một quả trứng!
Thủa bé, tôi hay lẽo đẽo theo bà, vì hình như tôi, môt đứa trẻ mồ côi cha, sớm xa mẹ nên đã bám theo bà vì bà đã săn sóc tôi. Bà để cánh tay trần, mặc cái yếm trắng lấm lem mồ hôi, bà quạt phành phạch cho tôi ngủ. Nửa đêm tôi thức giấc vì bà cầm cái đèn dầu con để hun bắt từng chú muỗi kếch xù căng máu, đã lẻn vào mùng mà chích tôi no nê. Thỉnh thoảng tôi chợt thức dậy vì những cơn đau răng nhức buốt, tôi khóc lè nhè suốt đêm mà không biết. Lúc đó tôi đã chín mười tuổi đầu. Tôi nhớ bà với mùi trầu
thơm ngai ngái, cái cơi trầu cuả bà bằng nhôm, có một hai quả cau và vài tệp lá trầu. Tôi hay theo bà đi chợ, mò mẫm, lầy lội vì đường trơn mưa ướt. Đôi dép lép nhẹp. Thoạt tiên bà mua bó rau muống bỏ vào làn... Bà ra cuối chợ mua ít cà chua, hành lá, một quả xoài chua và một quả dừa cho chú tôi. Bà mua nửa chục cóc cho các cháu. Tôi theo bà đến hàng thịt bò, bà mua thịt nạm để làm thịt kho. Tôi chắc là thịt nạm rẻ nhất. Cuộc sống ngoi ngóp lầm lũi. Buổi trưa tôi nằm ở cái chòm bậc cửa, bà trải tấm chiếu. Tôi nằm gối lên đùi bà và học bài học thuộc lòng cuả tôi (lớp 4). Ngó ra cửa, tôi nhớ mãi cây tầm ruột (nhà hàng xóm) lá xanh vàng đều đặn, cây thấp mà đã có quả từng chùm..Rồi những trưa hè êm ả, tôi nhổ tóc sâu cho bà, những sợi tóc mỏng nhỏ trắng muốt. Bà ngồi lim dim. Tôi
nhớ tóc bà ít và ngắn, khuôn mặt nhỏ, da mỏng mũi dọc dừa, miệng mỏng. Bà không hôi nách sâu răng. Nói tóm lại là bà rất sạch sẽ, chỉ có một tội là nghèo. Tôi đã tiêm nhiễm cách ăn mặc sống nâu sòng nghèo khổ của bà, lam lũ nhưng chịu khó, lúc nào cũng có việc làm và tin kính Thượng Đế.
Những đêm hè, trời quang đãng, mấy bà cháu bế nhau ra đường chính nhìn đèn và xe cộ cùng hóng mát (đường Phan Thanh Giản cũ). Cuối dẫy phố kia là bảng hiệu xanh đỏ chớp lấp lánh chữ bằng đèn Neon : Áo Len U S A . Những năm 1959
‐1960, Sài Gòn vẫn còn thưa thớt ít người...Đêm chỉ xôn xao vài giờ, rồi lại chìm vào yên lặng. Tôi ngồi bế em ngủ trong lòng và nhìn trời hiu quạnh, tôi thấy mình như trôi trong trời rộng‐ Tôi thích những đêm hè quang đãng ấy.
Hồi còn bé, mỗi lần chúng tôi chòng ghẹo nhau khóc
‐ mách‐kể lể, thì bà tôi lại rít lên:ʺlại chọc cứt ra mà ngửiʺ nghĩa là một đứa nào trong bọn đã là cái thứ khó chịu ưa khóc và lại hay bị chòng ghẹo. Tôi không nhớ là đứa nào trong bọn chúng tôi hay khóc, nhưng tôi nhận thấy nếu mình có bị ăn hiếp, thì bà lại dúi cho tôi môt đồng để đi ra đầu ngõ ăn đậu đỏ bánh lọt, hoặc là ăn nghêu hấp, húp nước mắm xì xụp. Bởi vậy tôi nghiệm thấy một điều, tôi đích thị là cháu cưng cuả bà. Bà lúc nào cũng dành dụm, để phần và cho cháu quà ngon. Chiếc bánh đa vừng phải bẻ để chia đều cho các cháu! thơm ngọt‐ăn mãi không chán. Tôi yêu thương bà lắm. Bà chính là Mẹ cuả tôi ở trong tâm khảm. Những lúc tôi đau răng, nhức chân! bà sai chú chở tôi đi bệnh viện Thanh Quan (chắc là nhà thương công) để xếp hàng lấy số ‐ cho cháu chích thuốc và đem cháu về! Bây giờ, dù tôi có già năm sáu chục tuổi thì tôi vẫn luôn nghĩ về bà với tâm trạng cuả đứa trẻ lên mười, để được như vẫn còn bà yêu quý săn sóc vỗ về. Bà không còn nữa
nhưng mỗi lần buồn tủi, tôi lại thầm gọi bà và cầu nguyện để ơn trên vì tấm lòng tôn kính thượng đế cuả bà mà đức ngài sẽ ban phước cho tôi.
Lúc tôi còn bé, không hay đau ốm vặt, nhưng bị bệnh nhức chân, chắc là thấp khớp. Tôi được bà dẫn đi châm cứu. Người ta châm miễn phí! Châm cứu rất hiệu nghiệm, giảm đau ngay, nhưng không phải lúc nào cũng có cơ hội mà đi chữa. Bà bắt tôi uống nước ngải cứu của bà! Những chén thưốc đen, đắng nghét, sợ muốn chết. Rau ngót còn không ăn được nữa là ngải cứu! Thế nên tôi cứ mắt trước mắt sau, không thấy bà là đổ ụp xuống cống! Nhiều hôm nhức chân quá, tôi phải thuê hai em đấm chân, 500 cái thì kể một chuyện. Chẳng biết chuyện ở đâu ra lắm mà kể hết ngày này sang ngày kia!
Những ngày còn ở Đà Lạt, vào dịp xuân sang, tôi được nghỉ tết nhiều ngày, liền làm một cuộc ngao du sơn thủy. Tôi đeo một túi dết lớn, dắt theo hai tiểu đồng là hai đứa em, khoảng lên tám lên mười. Tôi đi hái thuốc cho bà. Nhà nghèo thì làm gì có tiền mua thuốc, nếu không chịu đau vài bữa ʺtự động nó khỏi bệnhʺ thì món thuốc hiệu nghiệm chữa bá bệnh cuả bà là ʺngải cứuʺ. Tôi đi thơ thẩn ngắm trời mây, quả thật Đà Lạt đẹp hơn tôi tưởng lắm lắm. Thông ơi, cao vút xanh rì, thì thầm to nhỏ những lời êm, không dám làm khơi động giấc mơ xuân cuả tôi. Tôi chỉ cho hai tiểu đồng đâu là cây Ngải Cứu, nó khác với cây hoa Cúc ra sao, và cứ thế mà tìm hái. Những kỳ hoa dị thảo
‐ lan rừng cười nụ trong tàn lá xanh. Đôi lúc có tiếng động cuả chú sóc chạy loạt xoạt, đuôi cong vòng duyên dáng! Rồi tôi đến một thung lũng mà bạt ngàn những Ngải Cứu mọc cao hơn đầu tôi. Đúng là cây Ngải Cứu già mà bà tôi mong muốn có. Bà có kể sự tích vua Gia Long có lần chạy trốn trong rừng thì đã được những cây Ngải này mọc cao lên che chở và đã thoát hiểm. Vì vậy mà người đời đã đặt tên nó là cây Ngải Cứu. Thung lũng nhiều Ngải quá chừng, tôi chỉ cần dùng tay
bẻ gập xuống là có cả khiêng. Tôi đã phải loay hoay cùng hai tiểu đồng thuê xe bò kéo một xe Ngải Cứu về phơi và để dành gởi cho bà làm thuốc chữa bệnh. Tội nghiệp bà tôi đau lưng cũng uống Ngải Cứu, đái giắt cũng uống Ngải Cứu! Nhức chân thì giã Ngải Cứu, nướng thêm miếng ngói cho nóng và gói chung vào mà chườm! Bà chẳng tốn đồng tiền nào cho hàng thuốc. Đau mắt thì rửa sạch bằng nước nóng và chườm nước muối! em tôi đầy hơi thì bà dán vào thóp một chút đầu lá trầu! Thuốc là những
gia vị ở quanh bếp cuả bà. Mùa hè nóng rát
‐ rôm sảy đầy lưng‐ bà quạt xoa cho mát, chườm nước mưa lạnh bằng cái khăn mặt màu cháo lòng của bà... Tôi đứng trong ký ức nhỏ nhoi ấy mà thương nhớ và tội nghiệp bà‐
Tôi muốn viết về bà với nỗi đau cuả người mẹ mất con. Thật là bất hạnh. Lúc bố tôi mất, bà khóc thảm thiết lắm
‐Tôi vẫn nhớ mơ hồ tiếng thanʺỚi con ơi, sao con cướp công cướp của của mẹ con ơi!ʺ Đó là công sinh thành dưỡng dục. Bố tôi là niềm kỳ vọng lớn của ông bà. Bố tôi đẹp nhất trong số mười hai người con, lại giỏi giang, và là con trưởng. Rồi đến chú Định là con út, thì bà cũng đi nhận xác. Một ngày tháng mười một đau thương, chú mới rời quân trường được vài tháng, đánh trận ở Đức Hòa Đức Hụê. Chú chết trước Tết Mậu Thân1968. Lúc chưa thấy xác chú, bà tôi khóc vật vã: ʺới anh Kỳ anh Thiệu ơi, các anh giết con tôi”. Khi người ta khiêng xác chú ra, thì bà tôi bất tỉnh. Bà thương chú nhất‐ mà chú cũng rất có hiếu với bà. Thế mà rồi cũngʺcướp công cướp củaʺ của bà mẹ quê.
Số phận của bà sao bi thương quá đỗi. Mỗi khi nhớ bà, tôi ước gì
‐ ước gì bà còn sống để tôi đến quỳ bên gối, âu yếm nắm đôi tay gầy guộc cuả bà mà gọi khẽ:..Bà ơi...Thôi bà cũng chẳng còn trên cõi đờì, mà lúc bà mất, các cháu đều ở xa, chẳng đứa nào về chịu tang, kể cả đứa cháu cưng cuả bà là tôi!!

Cuộc đời bà nhiều nỗi ám ảnh sợ sệt. Sợ nhất là ông tôi, hiền nhưng cục tính và hay ʺthượng cẳng chân hạ cẳng tay ʺ với bà, mà bà lúc nào cũng phải chịu thua ngồi im mà chịu đòn. Sợ cô trắng răng là mẹ tôi, con dâu nhiều chữ nghĩa lắm mưu lược. Sợ đến cả con trai (là ông chú tôi) còn lại độc nhất của bà. Ông bảo gì, xúi gì cũng nghe. Tôi cảm thấy tủi cho bà đã quá phục tòng chú, bà bán căn nhà cuả bà mà về ở chung với chú
‐ Phải chung đụng thêm với một nàng dâu thiếu cái giáo dục đạo đức phương đông để tự tu thân tề gia, vô cùng chẳng ưa gì mẹ chồng! Bà tôi có hy sinh của cải, tự do, và ngay cả sức khoẻ cuả bà để mà chăm sóc đàn con cho chú, thì bà vẫn bị cảnh ʺmẹ chồng nàng dâuʺ và để thấy đời nó là địa ngục. Đạo giáo nào kêu gọi long hiếu thảo, tử tế, ăn ở nhường nhịn, kính Chúa‐ yêu người, đâu tôi không thấy ai áp dụng! Tôi chỉ thấy bà lận đận lao đao ʺ tỵ nạn gia đình trịʺ, đôi lúc phải vào nhà thờ xin làm công quả, để được sống yên thân. Mỗi lần đi thăm bà, mà phải đi ra nhà thờ có ông truyền đạo Vũ chủ tọa, thì tôi biết bà tôi đang gặp những chuyện cơ khổ!! Có nhà không được ở, có con cháu chẳng được chúng phụng dưỡng chu đáo!! Hoá ra những tấm lòng ích kỷ nó cao hơn tất cả các chướng ngại vật nào trên đường đờì để người ta không thể nào vượt qua khỏi hòng sống mà yêu thương nhau! và tôi đành phải kết luận hão một câu :
Nào con có thương mẹ đâu?
Mà cho chàng rể, nàng dâu thương cùng!!
Lúc tôi đón chú thím và gia đình đến định cư tại Mỹ theo diện HO. Tôi không thấy có bà, hỏi tại sao thì được thím tôi rót vào tai: ʺChú mày phải chọn một trong hai đường! ʺ
‐Thế là thế nào??
‐Nếu đem bà đi với chú, thì không có thím. Mà thím đi thì bà phải ở lại.
Nghịch tử ơi là nghịch cảnh! Bà bị té gãy xương hông nằm một chỗ lâu rồi!
ʺNàng nằm đớn đau, tháng năm dài buồn hiu ʺ Nguyễn đức Quang. Tôi không trách được chú, vì ông đã bị ở trong một hoàn cảnh khó xử. Một bên là mẹ và một bên là vợ con. Vợ chú đã không có đủ mềm mỏng, nhã nhặn cần thiết cuả một nàng dâu để thương quý mẹ chồng như mẹ ruột. Nhưng nếu chú thím hiểu xa hơn một chút thì biết rằng chính phủ Mỹ đã cho ra đi đoàn tụ hay định cư gì đó thì lý do chính vẫn là lý do nhân đạo. Và nếu bà được đi theo chú, thì sở an sinh xã hội họ sẽ giúp đỡ lo cho bà từ A
đến Z, để mà chú sẽ không bao giờ ân hận là đã bỏ bà ở lại một mình.
Tôi chẳng bao giờ gặp lại bà nữa, vì già yếu, bệnh hoạn và cô đơn, bấy nhiêu thứ gậm nhấm, cũng đủ bà sầu não mà chết tức tưởi. Không biết có đêm trăng nào rọi trên vách nhà, cho bà nhớ nhung gọi tên các cháu
‐ Hay vẫn mơ hồ tưởng đâu đó chú tôi, cô tôi vẫn túc trực chờ bà bảo sai. Một người cháu gọi bà bằng bác dâu, đã tình nguyện lấy cuả chú hai trăm dollars mỗi tháng (1995‐1998) để chăm nom săn sóc bà! Nhưng mà cô
này đâu có làm tròn nhiệm vụ cuả mình đâu?! Có ai chăm sóc người già yếu neo đơn mà lại để bà nằm trơ trọi, một chiếc giường ghế bố có khoét lỗ ở giữa để cho các chất bài tiết thoát ra lau rửa dễ dàng!! Cô đóng cửa nhốt bà ở trong đó một mình, còn cô đi ta bà thế giới. Có lần em tôi về lại Việt Nam thăm bà, phải chờ mấy tiếng mới kiếm được người mở cửa vào thăm. Tôi không dám nghĩ tiếp và vô cùng thất vọng, vì bà tôi đã lòa, nằm thoi thóp thương con nhớ cháu. Tôi có những cơn mơ nghe tiếng bà nức nở vọng về trong ʺnỗi nhớʺ
Màu tối mù lan vách đá
Nhớ mênh mông đôi mắt giã từ
Rồi đi biệt để hờn trên đỉnh gió
Ta ở đâu
Cánh mộng phù du
Tuệ Sĩ
Bà ơi, cháu nghĩ rằng bà hay tất cả những bà mẹ Việt Nam đã thể hiện làm thân cây Ngải Cứu! Cây Ngải Cứu rễ mọc lan xa bạt ngàn như lòng bà yêu thương con cháu. Rễ mọc khoẻ mạnh, cây lớn nhanh che chở những khi cần, như đã che chở cho một quân vương là đức Gia Long. Cây thơm một mùi Ngải quý, và chất chứa trong long những nỗi đắng cay đen đặc. Nhưng đó lại là vị thuốc giã tật, chữa được nhiều thứ bệnh ác tính trên đời. Cháu sẽ trở về thung lũng xưa làm thân du mục đi tìm thuốc hái cho bà, nhưng để gởi cho những ai quen biết một chút Ngải Cứu, dù ở chân trời góc biển nào
‐ khi chợt nhớ những mẹ quê nâu sòng ‐ suốt đời cam chịu những thiếu thốn và bất công, những ưu sầu ly biệt, thì những người con Việt Nam bằng cái đạo đức phương Đông và ảnh hưởng Nho giáo, sẽ ʺNgậm Ngải Tìm Trầm ʺ để mà giữ thơm quê mẹ. Cháu lang thang mang đôi cánh mộng phù du, đuổi theo hình bóng bà bay trên đỉnh gió.
Tôi không nhớ lầm thì hình như bà tôi chẳng bao giờ có được thú vui giải trí. Mẹ quê nâu sòng đó suốt ngày chỉ lo chợ búa cơm nước cho các con các cháu. Mỗi khi chiều xuống, bà bảo cô tôi:
‐ Thôi xuống sưả soạn bắc bếp thổi cơm.
Cơm ngon của bà thường có canh cá dấm là tôi mê nhất. Rồi đến cá kho tộ. Không hiểu bà có điều gì vui thú hơn ngoài sự nhẫn nại chịu đựng, tháng ngày nhìn con cháu lớn lên. Chúng lăm le rời xa tổ ấm, còn bà ở lại
‐ Một bếp lửa nhen trong lòng chờ ngóng nhớ thương.
Những ngày thơ ấu cuả tôi, lặng lẽ trôi qua kẽ tay, buông xuống như những chuỗi thở dài hiu hắt cuả bà:
‐Ngày qua bữa chẳng qua...
Tôi rưng rưng thấy hình như bà cô đơn lắm, trong cái thanh bạch cuả sự nghèo nàn, bà không có những bữa tiệc linh đình, cỗ bàn thịnh soạn. Bà chẳng có hội hè, đình đám, cưới xin. Nhạt thếch đến độ tôi chỉ thấy có một điều là bà ưa nghe Radio. Nghe Tao Đàn, Hồ Điệp
‐ Quách Đàm ngâm thơ, nghe vọng cổ não nuột những trưa hè nắng chói. Chiếc áo cánh mỏng hơn cánh chuồn chuồn, những đồng tiền ít ỏi lẻ loi, bỏ trong
túi áo cuả bà,cũng mỏng manh bạc phận. Tôi không nguyền rủa cái nghèo, nhưng tôi chỉ hơi ác cảm với nó một chút vì tôi ước ao có tiền mua cho bà đôi dép mới, cái áo cánh nâu dài tay, hay mua kẹo gừng cho bà ngậm.
Có lần bà cũng ra Long Hải nghỉ hè với chúng tôi. Mẹ tôi hào phóng lắm, đãi bà nhiều bữa hải sản tươi, trái cây nhiệt đới chín ngọt to tròn, những na cùng xoài, măng cụt...Bà đi picnic thật xa...Trong tôi luôn luôn có bức tranh đẹp, mấy bà cháu đi bộ đường biển, bãi cát ngút ngàn
‐ những bờ đá rộng với nhiều phiến đá như những tấm vai đồ sộ, khi vượt qua những bờ đá, là những cảnh tượng hùng vỹ khác cuả thiên nhiên kỳ lạ hiện ra... Biển chỉ có mấy bà cháu. Mắt bà vui thỏa, cười tủm tỉm, da mặt căng hồng... Những ngày vui nào thoáng ẩn hiện trong cuộc sống lặng lẽ cô đơn cuả
bà! Tôi tiếc vì bà đã không được học hành đến nơi đến chốn, tôi chỉ mơ hồ biết rằng nếu phụ nữ được thành đạt thì dĩ nhiên đời sống vật chất đỡ khổ và thân phận cũng đỡ tủi hơn! Hay là họ vẫn phải lệ thuộc vào một người đàn ông mà họ không thể yêu được! sống với nhau chỉ là cái nghĩa! Tôi muốn ca tụng cái tình yêu mà hai kẻ yêu nhau đó phải tôn trọng lẫn nhau, hay là phải ʺnhư thuở ban đầu lưu luyến ấyʺ. Ông tôi có quý bà như một người bạn, một mảnh đời trói buộc liên hệ mật thiết với nhauʺ hai thân
nên một thịtʺ để đừng dày vò đánh đập bà! Có ai tự đánh mình đâu??
Tôi thương bà quá khi nghĩ về bà, lại ngẫm đến thân mình! Có nề hà gì một chút giúp người hơn một tí, làm những bổn phận nhạt nhẽo
‐ kỹ lưỡng hơn một tí, bớt ác khẩu đi một tí‐ Có lẽ những cái hơn và cái bớt đó sẽ bù qua sớt lại, để thành một thứ
ʺTâm Tình Hiến Dângʺ( thơ Tagore)
Rốt cuộc, tôi là đứa cháu cưng duy nhất mà được bà dự đám cưới. Tôi còn một tấm ảnh kỷ niệm, tôi trang trọng cất giữ và đóng khung!
Nhà trai đưa sính lễ và trầu cau, rót rượu đưa cho đại diện nhà gái. Bà đỡ ly rượu, phát biểu cảm tưởng:
‐Chúng tôi, gia đình nhà gái, cám ơn các ông bà đã thương cháu nó mồ côi...
Tôi cay mắt nhìn bà. Trời ơi, sao bà lại khiêm nhường thế? Họ lấy được cháu cưng của bà là cả một điều quý hóa hân hạnh đó bà ơi. Tôi biết sự nghẹn ngào cảm xúc của bà qua nỗi mất mát ,côi cút cuả chúng tôi đã ám ảnh bà da diết suốt đời. Cám ơn tấm lòng ưu ái cuả bà. Sự bất hạnh của chúng tôi cũng là nỗi ngậm ngùi chua chát theo bà mãi mãi, chẳng thể xoá bỏ được
‐ Lòng mẹ thương con đã vì nghịch cảnh phải xa lìa. Vậy ʺHãy hiếu kính cha mẹ ngươi! Hầu cho ngươi được sống lâu trên đấtʺ (Thánh Kinh).
Cám ơn những ngày sống với bà bình yên
‐ Có bà với lòng tin kính Chúa đơn sơ như tâm tình cuả một đứa trẻ, để cháu học được sự chân thành giản dị trong niềm tin vào Đấng Tạo Hoá. ʺ Kính Sợ Thượng Đế là khởi đầu sự khôn ngoan ʺ (Thánh Kinh)
Cám ơn cuộc đời cuả bà
‐ Một người mẹ Việt Nam thuần tuý, chỉ biết yêu‐ đau khổ‐ và tận tuỵ với tất cả mọi người.

Mừng ngày lễ Độc lập của Hoa Kỳ - Happy 4th of July

Mừng ngày lễ Độc lập của Hoa Kỳ - Happy 4th of July



Hàng năm, cứ đến Ngày 4 Tháng 7, Hoa Kỳ lại cử hành Lễ Ðộc Lập của Quốc gia tức là Independence Day để nhớ lại cuộc Chiến Cách mạng Mỹ Châu năm 1775 kéo dài khoảng 10 năm kể từ 1775. Mười ba tiểu bang đầu tiên ở Bắc Mỹ Châu đã kết hợp với nhau tiến hành một cuộc chiến chống Mẫu Quốc Anh để thành lập một quốc gia mới, trẻ trung, và lấy tên là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (The United States Of America).

Sự thành công của Cuộc Chiến Cách Mạng đó cùng với Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập đã có một ý nghĩa hết sức quan trọng không riêng chỉ đối với Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà còn đối với cả thế giới năm châu.

Sự thành công đó tạo một niềm hứng khởi say mê cho những con người vốn khao khát Tự Do của thời đại Bừng Sáng (Enlightenment) và là nguồn hy vọng tuyệt vời của những con người bị áp chế muốn vùng dậy đòi lại quyền làm người.

Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập (Declaration of Independence) được ký kết vào năm 1776. Văn kiện lịch sử này đánh dấu kỷ nguyên mới của nhân loại trong thế kỷ 18 nói lên tiếng nói đoạn tuyệt với chế độ quân chủ để xây dựng một chính thể mới gọi là chính thể cộng hòa (the republic) với nội dung quyền hành của đất nước là của toàn dân.

Thomas Jefferson được coi như là "soạn thảo viên" chính trong 4 người vì ông là một luật gia có văn tài. Sau đó ông trở thành Tổng Thống hai nhiệm kỳ (1801 – 1809). (Quốc Hội Lục Ðịa thành lập một nhóm gồm năm nhân vật: Thomas Jefferson, Benjamin Flanklin, John Adam, Roger Sherman, và Robert Livingston với nhiệm vụ soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập)

Trang nhà TV6370 cầu chúc bạn cùng toàn thể gia đình có một ngày nghỉ lễ Độc lập của Hoa Kỳ , thật hạnh phúc và tràn đầy an vui bên những người thân yêu .

Happy 4th of July, 2009
Trích nguyên bản từ Hoang Vu



100 điều tuyệt vời về nước Mỹ

Hôm nay, nước Mỹ kỷ niệm ngày Quốc khánh thứ 234. Cùng nhìn lại nhưng điều tuyệt vời và vĩ đại về nước Mỹ.

Đã đến lúc người Mỹ nghỉ ngơi. Hãy nướng bánh, dùng đồ uống và mở ô ra. Hãy quên đi dự luật cải tổ ngành y tế, sự cố tràn dầu, Afghanistan, Trung Quốc và kế hoạch cải tổ ngành tài chính đến ngày thứ ba (ngày 06/07).

Triết gia nổi tiếng Albert Camus chỉ ra: “Tự do chính là cơ hội để trở nên tốt hơn.” Suốt 234 năm qua, người Mỹ đã cố gắng, đấu tranh, phát minh, cố gắng để khiến nước Mỹ ngày càng tốt hơn.”

Chẳng có sự phân biệt đẳng cấp hay vị thế nào ở đây vì thế hãy dẹp sang 1 bên những điều khó chịu. Hãy nhìn lại 100 điều vĩ đại về nước Mỹ.

1.Internet

2.Hiến pháp và Tuyên ngôn nhân quyền

3.Bóng chày

4.Mount Rushmore

5.Đồ ăn tại New Orleans

6.Nhạc Rock and roll: Hãy thử tìm nghe bài hát của Beatles và Rolling Stones không có ảnh hưởng của âm nhạc Mỹ xem?

7.Hawaii: Nhất định bạn nên đến nơi này

8.iPod, iPad và mọi thứ liên quan đến Apple

9. Đồ nướng: Đồ nướng tại Carolina, Mississippi, Memphis…

10. Xe Ford Mustang: Ai cần đến một chiếc ô tô Đức? Chúng tôi sẽ dùng loại truyền thống.

11.Wikipedia

12. Trâu

13.Bánh sữa

14. Sân khấuBroadway: hệ thống bao gồm 39 nhà hát chuyên nghiệp (500 ghế trở lên) nằm trong khu vực Theatre District, Manhattan, New York. Broadway là địa điểm du lịch hấp dẫn của thành phố New York. Theo hiệp hội biểu diễn Broadway (The Broadway League) năm 2007-2008, sân khấu Broadway đã bán được khoảng 973 triệu USD tiền vé.

15.Chim sơn ca

16.Google

17.Mark Twain

18.Quốc ca Mỹ

19. Đồ uống có đá: Liệu cả thế giới có thể uống đồ không đá?

20.Những bãi biển: Bãi biển Cape Cod, Kiawah và Zuma – bãi biển của nước Mỹ đẹp hơn.

21.Trung tâm thể thao liên hợp Madison Square Garden

22.Pizza giao tận nơi

23.Ban nhạc Rock The Grateful Dead

24.YouTube

25.Giải Siêu cúp bóng bầu dục Quốc gia

26.Câu cá. Ở Mỹ số lượng người câu cá giải trí nhiều hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới.

27. Độc quyền – trò chơi mà chúng ta cũng chơi trong đời thực

28. Rạp xiếc Big Apple Circus


29.Sôcôla M&M

30.Facebook

31. Ngày Lễ Tạ ơn (Thanksgiving)

32.Xe tải nhẹ

33.Chương trình truyền hình hài kịch Gia đình Simpsons

34.Oprah Winfrey

35.Đĩa bay Frisbees

36.Chương trình truyền hình Mad Men

37.Máy MRI

38.Tinh thần cạnh tranh trong thể thao tại New York/Boston

39. Hãng thiết kế quần áo Patagonia

40.Truyện hài Archie Comics

41.Cầu Cổng vàng

42.Nhạc Jazz

43.Bóng đá

44.Kẹo

45.Chuỗi cửa hàng rau xanh Trader Joe's

46.Ngày Quốc khánh Mỹ 04/07

47.Xe Harley Davidson, công ty xe máy đã vượt qua thời kỳ Đại Suy thoái

48.Giải bóng bầu dục March Madness

49.Trò chơi Scrabble

50.Bình đựng Kegs

51. Đồ chơi Slip 'N Slide

52.Kem

53.Công viên quốc gia Yellowstone National Park

54.Nhà báo nổi tiếng Edward R. Murrow

56.Tuần lễ nhà hàng

57.Tượng đài Washington DC buổi đêm

58.Nhân vật hoạt hình Bugs Bunny

59.Thương hiệu đồ chơi Etch A Sketch

60.Coca-Cola


61.Dép đi trong nhà

62.Tổ chức đám cưới tại Las Vegas

63.Rượu Napa

64.Nhạc sỹ Willie Nelson

65.eBay: nơi duy nhất bạn có thể mua chỉ 1 túi bỏng ngô

66.Quả việt quất (Blueberries)

67.Các vũ công Rockettes

68.Cầu thủ bóng rổ nổi tiếng Charles Barkley

69.Quần Jeans Levi Strauss

70.Hội chợ tại các bang và địa hạt

71.Giải Oscars: Nơi hội tụ của những gì tuyệt vời cũng như tồi tệ nhất của kinh đô điện ảnh Hollywood.


72.Các cựu chiến binh

73.Tiệm đồ nướng

74.Trang sức Tiffany

75. Khu vực hồ nước ngọt lớn tại Bắc Mỹ


77. Kẹo Salt water taffy – luôn ngọt, không có đường hay nước

78. Roller coasters

79.Kênh truyền hình HBO

80.Công viên quốc gia Everglades

81.Phim hình sự nổi tiếng Bonnie and Clyde

82.Kẹo cao su

83.Bóng đèn tuýp

84.Tư do tôn giáo

85.Bagels

86.Phim Judd Apatow

87.Bảng xếp hạng BillBoard 100 với những bản nhạc nổi tiếng nhất từ năm 1958

88. Chuỗi cửa hàngChipotle

89. Dalmatians on fire trucks

90.Phim hoạt hình Disney

91.Ngày lễ đầu năm mới. Nước nào cũng có, nhưng họ đều chú ý tới Quảng trường Thời Đại

92.Elvis Presley

93.Những chàng cao bồi

94.Món gà tây và vịt Turducken

95.Netflix: hãng cho thuê phim duy nhất còn tồn tại

96.Kỳ nghỉ vào tháng 3 hàng năm

97.Thang máy. Có ai biết thang máy lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1899 tại New York?

98.Hài kịch trực tiếp (Stand-up comedy)

99.Cây gỗ hồng sắc (Cây già nhất đã sống tới 1.200 năm tuổi)

100.Ống hút

101.Nhân vật hoạt hình Charlie Brown

Ngọc Diệp

Jul 3, 2011

Thành kính phân ưu



Nhận được tin trễ:
Nhạc mẫu của bạn Cúc Phương đã từ trần vào tháng tư tại Việt Nam.
Toàn thể cựu nữ sinh TV 63-70 xin chân thành chia buồn cùng Cúc Phương, anh Hoàng và tang quyến. Nguyện cầu hương linh cụ bà sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc.

.

Jul 1, 2011

Bài thơ “Còn gặp nhau” của Tôn Nữ Hỷ Khương

Thúy Hải sưu tầm



Bài thơ “Còn gặp nhau” của Tôn Nữ Hỷ Khương, một triết lý sống gần gũi, an lạc và thắm đượm đạo vị…
Viết bởi Mang Viên Long

Bài thơ “Còn Gặp Nhau” (trong tập thơ “Hãy Cho Nhau” Nhà XB Trẻ-XB lần đầu/ năm 2004) được nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương viết vào năm 1993 - khi nữ sĩ bước vào tuổi 56. Hơn 17 năm qua, bài thơ đã được rất nhiều người biết đến như một bài thơ hay nhất của chị - vì đã chuyển tải đến cho người đọc một triết lý sống rất gần gũi, an lạc và thắm đượm Đạo vị!

Ngay tựa đề bài thơ - “Còn Gặp Nhau”, đã gợi lên một hiện thực đời sống rất đơn giản, mà cũng rất đau xót: Chúng ta còn sống được đến hôm nay-bây giờ, đã là một diễm phúc, vô cùng quý báu, so với bao người đã vắng mặt- đã ra đi… Nhà thơ Kahlil Gribran (Liban) cũng có niềm đồng cảm như vậy khi tha thiết thốt lên “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương”.

“Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời…”

Mở đầu bài thơ nữ sĩ đã khẳng quyết một điều tưởng bình thường- nhưng thật vô cùng quan yếu cho nhận thức về cuộc sống: “Chuyện đời như nước chảy hoa trôi” và “Chỉ có tình thương để lại đời” - đây là một nhận thức dựa trên kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống chứ không phải là một điều gì mơ hồ. Chính tính xác thực của sự cảm nhận căn bản này, đã khởi đầu cho “Còn Gặp Nhau” như một dòng chảy tự nhiên, hồn nhiên - miên man trong lòng người đọc. Chân lý mà đức Phật đã khuyến dạy từ hơn 2500 năm trong “Tứ pháp ấn” (Khổ/ Không/ Vô Thường/ Vô Ngã)-đã là nguồn cảm xúc thẳm sâu như máu thịt trong tâm hồn người thơ và chợt thốt lên lời nhắn gởi rất êm nhẹ, rất đơn giản: “Còn gặp nhau thì hãy cứ vui…”. Bởi vì “Lợi danh như bóng mây chìm nổi” - có gì mà phải khổ tâm nhọc sức mà cố bám víu vào cái “bóng mây chìm nổi” có/ không ấy?

Để cho cuộc sống được an vui/ hạnh phúc đích thực thì chúng ta nên làm gì ?

“Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẻo đường…”

Cuộc sống vốn dĩ chất chứa nhiều phiền não, khổ đau-phần lớn chính vì sự thù ghét, sân giận luôn có mặt trong đời. Cuộc đời ngắn ngủi, tạm bợ là thế - “thân như điện ảnh hữu hoàn vô” (Thiền sư Vạn Hạnh) là thế - “Còn gặp nhau thì hãy cứ thương” - là một liều thuốc nhiệm mầu, là một triết lý sống thực tiễn đem lại niềm an lạc cho chính mình (và cho người) - bởi vì “Tình người muôn thuở vẫn còn vương” - Tình người không bao giờ mất, còn mãi bên đời (trong lúc mọi thứ - vạn hữu luôn quay theo cái vòng vô thường: Sinh/ Trưởng/ Hoại/ Diệt). Đây là một cảm nhận “rất người”, rất chân thật - như một lời tâm sự tha thiết:

“Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương, vạn nẻo đường”

Không cần nhiều - chỉ “một chút” thôi/ mà phải chắt chiu, phải gom góp, phải cẩn trọng, phải chân thành - thì cũng có thể “Gửi khắp muôn phuơng, vạn nẻo đường” - để sẻ chia - xoa dịu, an ủi cho cuộc đời lắm hệ lụy đau buồn này. Một chút thôi - một giọt nước nhiểu lâu ngày cũng đầy bình - “Một chút tình thương ấy” là cả một tấm lòng thành của người đến với người. “Một chút” ấy thôi - mà đã có mấy ai còn nhớ?

“Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời”

Cuộc sum vầy trong niềm vui, tiếng cười - trong tình thương yêu gần gũi chân thành - đúng là một cuộc hội ngộ hạnh phúc của đời người. “Hãy cứ chơi” - là một thái độ thong dong, tự tại - biết tận hưởng cái phút giây hiện tại mầu nhiệm của đời sống. Vội vàng, bon chen - giành giựt thì chỉ đắm chìm trong âu lo, đau khổ mà thôi! Bởi vì “Bao nhiêu thú vị ở trên đời/ Vui chơi trong ý tình cao nhã” đang mở ra, chờ đón những tâm hồn biết sống/ biết đặt tình thương yêu lên trên mọi thứ ở đời. Ai đã làm được điều ấy - thì hiển nhiên “Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời” - hay là cõi an lạc vĩnh hằng (nhà Phật gọi là Niết Bàn/ Cực Lạc) đang có mặt ở cõi trần gian này vậy.

“Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người”

Nụ cười là một biểu lộ tình cảm giữa người với người - là sợi dây thân ái nối kết những tấm lòng - nhưng trong thực tế đời sống, lắm khi rất hiếm bắt gặp nụ cười! Vì đâu? Vì tâm đang mải đảo điên rong ruỗi theo dục vọng, tham sân - vì lòng chưa mở và tình chưa chớm! Vì vậy - ở đây - Nhà thơ đã thúc giục, đã thống thiết kêu gọi: “Còn gặp nhau thì hãy cứ cười”. Hãy cười lên đi! Cười thoải mái. Vì chúng ta có diễm phúc đang còn sống, còn có mặt bên nhau, bên cuộc đời này - “còn gặp nhau”! Bởi vì nụ cười sẽ làm “Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi/ Cho hương thêm ngát, đời thêm vị/ Cho đẹp lòng tất cả mọi người”! Nụ cười cần thiết cho ta/ cho người và cho đời là vậy - thì sao ta dại gì không “cười”? - lại ưu sầu, đắn đo?

“Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao
Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau…”

Người xưa đã có nói “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ” - nhưng mâm cỗ thì tốn tiền, còn tiếng chào đâu có mất mát gì? Vậy mà, lắm khi - chúng ta gặp nhau - lại tỏ ra rất “hà tiện” tiếng chào? Vì e ngại điều gì? Hay vì phân biệt, sân giận, tỵ hiềm? Nhà thơ đã gạt bỏ ra tất cả những hệ lụy oan khiên của đời sống - với tâm rộng mở, trải lòng với đời - nhà thơ đã cổ vũ mọi người: “Còn gặp nhau thì hãy cứ chào”. Hãy cứ chào nhau thân tình, chào nhau thương yêu - thì tất cả mọi sự sẽ êm đẹp thôi! Giữa đất trời lồng lộng kia cũng sẽ đồng cảm, chia sẻ với người “Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước/ Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau”. Cùng chào nhau/ cùng tặng nhau “chân tình” (tình người chân thật) son sắc, thủy chung - thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao!

“Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc-say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.”

Lập lại đến 6 lần “say” trong một khổ thơ - nữ sĩ mong muốn mọi người - trong giây phút hiện tại đây/ còn gặp nhau - đã là một niềm vui lớn - thì “hãy cứ say”/ cứ vui - cứ thương - cứ chơi - cứ cười và cứ say/ đừng bận tâm đến sự ràng buột của toan tính, so đo, thù hận (…) nữa!

“Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc-say bè bạn.”

Trong đời người, đã có lúc nào chúng ta được một lần thôi “say tình, say nghĩa” chưa? Thật là diễm phúc (và đáng trân trọng thay) cho những ai đã có được cái “say” cao quý ấy! Đây là một cái “say” nồng nàn nhất, ấm cúng nhất - và cũng khó quên nhất của đời người. “Say thơ, say nhạc” thì có lẽ cũng thường có, nhưng “say bè bạn” thì thật cũng rất hiếm! Bè bạn mà làm ta phải say ư? Có đó. Say nghĩa là “quên” mọi thứ quanh đời để trải lòng với tri âm sau bao năm tháng cách xa-nay “còn gặp nhau” - bên đời nhau như ngày nào, thì hỏi không “say” sao được? Ôi! Những cái “say” đầy ắp tình người trong sáng thiêng liêng như vậy thì sao ta lại bỏ quên? Không gian và tháng ngày đâu còn ý nghĩa gì cho cuộc sống ta trong giây phút tuyệt vời hạnh phúc ấy? “Quên cả không gian lẫn tháng ngày” buồn bã, khổ đau để cùng nhau tận hường cái thời khắc “còn gặp nhau” của sát na hiện tại nhiệm mầu này!

“Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý, lẽ huyền vi
An nhiên tự tại lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kì!”

“Còn Gặp Nhau” - là vẫn còn hiện diện trên cõi tạm này - thời gian tồn tại của đời người không dài (Đức Phật nói là chỉ dài trong một hơi thở/ thở ra mà không thở vào - là coi như trở lại “không”) - nên nhà thơ đã bày tỏ thêm niềm ước mong cuối cùng của mình với người là “Còn gặp nhau thì hãy cứ đi!”/ hãy cứ tinh tấn, dũng mãnh bước lên phía trước để “Đi tìm chân lý lẽ huyền vi”. Chân lý lẽ huyền vi ở đây - chính là triết lý sống cao cả, mầu nhiệm để giải thoát khỏi cuộc trầm luân, khổ đau, phiền não của kiếp nhân sinh - hướng đến chân trời mới an lạc vĩnh hằng. Chân lý ấy sẽ đem lại cho tất cả được “An nhiên tự tại lòng thanh thản” - điều mà trong thâm tâm của chúng ta đều hoài vọng, ước mơ! Và khi đã đạt được niềm an vui tự tại, cảm nhận được niềm hỷ lạc nhiệm mầu của “chân lý lẽ huyền vi” - có thể “thõng tay vào chợ” thì ngay lúc ấy - chúng ta mới hiểu được rằng “Đời sống tâm linh thật diệu kì” - thật vi diệu, bất khả tư nghì - mà từ bấy lâu chúng ta đã lãng quên, bỏ bê, xem thường “đời sống tâm linh” - để điên đảo chạy theo những cám dỗ vật chất tạm thời luôn luôn dính chặt với nỗi khổ đau và phiền não… Đây cũng là lời “cảnh báo” thống thiết trước một thực tại thực dụng của đời sống văn minh vật chất đã dần làm khô cằn, xói mòn - tiêu mất cái phần đời rất quan yếu ấy trong tâm mỗi con người… Đây cũng là một thảm họa chung của nhân loại đang đứng trước bờ vực thẳm vì sư vắng mặt của một “đời sống tâm linh diệu kì”!

Tôi đã đọc bài thơ “Còn Gặp Nhau” của Tôn Nữ Hỷ Khương nhiều lần ngay từ khi chị mới công bố (khoảng giữa năm 1993) đến thuộc lòng (khi ấy bài thơ chỉ có 6 khổ đầu). Được nghe nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ thành ca khúc. Sau này, tôi cũng vô cùng ngạc nhiên khi có dịp dự nhiều cuộc gặp gỡ vui chơi của bạn bè - nhiều thế hệ, nhiều thành phần xã hội - lại được nghe nhiều người đọc thuộc nó. Tôi nghĩ, chính vì tình cảm quá chân thành, quá gần gũi thực tế của bài thơ nên nó đã được mọi giới yêu thích - từ cô bé học sinh, cậu sinh viên, đến người có học vị, quan chức - hay người đi xe thồ, sửa xe gắn máy, cô thợ may - cũng đều cảm thấy là tiếng lòng và niềm ao ước của chính mình? Tính phổ quát của bài thơ vì thế là rất lớn. Sức chuyển tải của bài thơ cũng thật mạnh. Theo tôi, một bài thơ đạt được hai yêu cầu ấy là một bài thơ “để đời”. “Còn Gặp Nhau” là một bài thơ rất hay của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vậy!

Điệp khúc “Còn gặp nhau/ còn gặp nhau…” - được lập lại đến 7 lần trong bài thơ như âm vang bất tận - lời thì thầm khôn nguôi, lời nhắn gửi ân cần, và là ước mơ của những tâm hồn rộng mở dào dạt yêu thương…■

Nguồn Tập San Pháp Luân 76

Ngày Quốc Khánh của Gia Nã Đại 01-07




Ngày Quốc Khánh của Gia Nã Đại 01-07
Chính trị
Canada giành độc lập ngày 1/7/1867 từ đế quốc Anh và ngày 1 tháng 7 hàng năm là ngày Quốc khánh. Canada theo chế độ quân chủ lập hiến:
Người đứng đầu Nhà nước là Nữ hoàng Anh được đại diện bởi một vị Toàn quyền người Canada (do Thủ tướng Canada đề nghị và được Nữ hoàng chấp thuận); Thủ tướng và nội các do đảng nắm đa số hoặc liên minh đa số ghế tại Hạ viện cử ra. Quốc hội gồm Thượng viện và Hạ viện. Thượng nghị sĩ do Toàn quyền cử theo khuyến nghị của Thủ tướng, làm việc đến 75 tuổi. Hạ nghị sĩ được dân bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm.
Dân số và thành phần dân tộc
Dân số Canada năm 2005 được ước lượng vào khoảng 32 triệu người. Dù là một nước có diện tích lớn thứ hai thế giới – khoảng 10 triệu km² – nhưng mật độ dân số của Canada lại cực thấp – khoảng 4 người/km. Canada lớn hơn Hoa Kỳ nhưng dân số chỉ bằng 1/9 của Hoa Kỳ.
Những cư dân đầu tiên của Canada là các dân tộc bản xứ mà người ta tin rằng đã đến từ Á Châu cách đây hàng chục ngàn năm trước bằng một con đường nối liền Siberia và Alaska. Vào khoảng đầu thế kỷ 10, người Viking có lập một chỗ cư trú tại bờ biển phía đông của Canada, di tích này vẫn còn tại Newfoundland. Đến khoảng giữa thế kỷ 16, những nhà thám hiểm người Pháp và người Anh bắt đầu khám phá các vùng đất Bắc Mỹ, và các di dân Pháp và Anh bắt đầu khai khẩn, cư trú ở Canada vào đầu thế kỷ 17.
Mãi cho đến Đệ Nhị Thế Chiến, hầu hết dân nhập cư đều đến từ Anh, Scotland, Ireland và Đông Âu. Từ năm 1945, diện mạo văn hoá sắc tộc của Canada phát triển phong phú hơn do số lượng di dân từ Nam Âu, Nam Mỹ, những hòn đảo Caribbean, Á Châu và nhất là từ các nước trong vùng Châu Á-Thái Bình Dương càng ngày càng tăng. Ngày nay dân Canada hầu như đến từ khắp nơi trên thế giới do việc khuyến khích sự nhập cư.
Theo kết quả điều tra dân số gần đây nhất, hơn 50% dân số có nguồn gốc không phải là Anh hay Pháp. Trong số đó, số người không phải là dân da trắng chiếm 13%; các thổ dân, chiếm 3%; gốc Scotland chiếm 14%; gốc Ireland chiếm 13%; gốc Đức chiếm 9,25% và gốc Ý 4,3%. Con số này sẽ còn tăng thêm nữa theo quá trình "hoàn cầu hóa" hiện nay.

Thu Canada


Ngôn ngữ
Hai ngôn ngữ chính thức của Liên bang Canada là tiếng Anh và tiếng Pháp. Gần 60% dân Canada có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, 22% là tiếng Pháp. Đại đa số người nói tiếng Pháp sống tại tỉnh bang Québec, sau đó là các tỉnh bang Ontario, News Brunswick và Manitoba. Một số ngôn ngữ của các thổ dân cũng được xem là ngôn ngữ chính thức tại các lãnh thổ tự trị, đặc biệt là tiếng Inuktitut. Rất nhiều thứ tiếng của các thổ dân đã bị mai một hay đang đi đến tình trạng đó. Những tiếng khác được nhiều người nói là: tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Trung Quốc, tiếng Tây Ban Nha.
Québec là tỉnh bang độc nhất ban hành một đạo luật bảo vệ tiếng Pháp, mục đích để bảo vệ sắc thái văn hóa đặc biệt nhất Bắc Mỹ của họ. Tuy nhiên quyền lợi về ngôn ngữ và giáo dục của các cộng đồng nói tiếng Anh và các tiếng thổ dân cũng được bảo vệ. Ngoài ra, dân chúng có quyền dùng hoặc tiếng Anh hoặc tiếng Pháp trong khi giao tiếp với chính phủ.
Kinh tế

Canada là một quốc gia phát triển (thuộc Nhóm G8) và có nguồn năng lượng tự cung tự cấp. Nền kinh tế chính của Canada dựa trên các tài nguyên thiên nhiên.
Canada giàu tài nguyên, khoáng sản: quặng sắt, niken, kẽm, đồng, vàng, chì, potat, bạc, dầu mỏ, than, thuỷ lực, thuỷ sản... Canada là một trong những nền kinh tế lớn trên thế giới. Các ngành công nghiệp chính gồm: khai mỏ, chế biến gỗ, giấy, thực phẩm, thiết bị vận tải, hoá chất, dầu khí, điện năng, công nghệ viễn thông, sinh học và dược phẩm... Sản phẩm nông nghiệp gồm: lúa mỳ, hạt có dầu, hoa quả, thịt gia súc, đồ uống, rượu... Bạn hàng chính của nước này là Mỹ, Nhật, Anh, Liên minh Châu Âu.
Quan hệ với Việt Nam:
Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 21/8/1973
Các điều ước kinh tế - thương mại:
Hiệp định hợp tác kinh tế và kĩ thuật giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Quebec (16/1/1992)
Hiệp định chung về hợp tác phát triển giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Canada (21/6/1994)
Hiệp định về hợp tác kinh tế giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Canada (21/6/1994)
Bản ghi nhớ giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Canada về một số sản phẩm dệt (16/11/1994)
Tuyên bố thoả thuận về hợp tác phát triển giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Canada (16/11/1994)
Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Canada về thương mại và mậu dịch (13/11/1995)
Hiệp định giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Canada về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập (14/11/1997)
Bản ghi nhớ Việt Nam-Canada về dự án dịch vụ và phát triển hạ tầng (7/3/2000)
Bản ghi nhớ Việt Nam-Canada về dự án hỗ trợ chính sách giai đoạn II (25/7/2001).
Kim ngạch buôn bán với Việt Nam: 192 triệu USD (năm 2001), 230 triệu USD (năm 2002) và 315 triệu USD (năm 2003).
Việt Nam xuất sang Canada chủ yếu là hàng dệt may, đồ da, giầy dép, xe đạp, nông-hải sản và thủ công mỹ nghệ.
Việt Nam nhập từ Canada hàng tân dược, thiết bị bưu điện- viễn thông, chất dẻo, bột giấy, phân bón, máy móc...
ODA của Canada dành cho Việt Nam: 18 triệu USD (năm 2003).
FDI của Canada đầu tư vào Việt Nam: Tính đến tháng 3/2004 có 37 dự án với tổng số vốn là 217 triệu USD.
(Theo Wikipedia, Mofa)

Jun 28, 2011

Mùa Phượng vĩ




PHƯỢNG XƯA


Mùa hoa phượng vĩ ngày xưa
Sân trường em đứng dịu dàng chờ anh
Anh nhẹ nhàng đến sau lưng
Tặng cành phượng đỏ cài lên tóc thề

Những con ve nhỏ thầm thì

Cười chàng thi sĩ học trò làm thơ


Bây giờ xa cách đôi bờ
Cành hoa phượng vĩ ép khô ngày nào
Bài thơ tình thưở xôn xao
Ch
ép trong trang vở vẫn còn dư âm

Hôm nay phượng nở ngợp trời
Nhưng chừ hai đứa chẳng còn bên nhau
Nơi em phượng tím dâng sầu
Nhìn màu phượng tím nhớ mùa phượng xưa
Nơi anh phượng vĩ rơi mưa
Nâng cành phượng đỏ thuở xưa nhớ người.

P.H

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa, đường lang thơ mộng trong nắng chiều, các cô gái dịu dàng, e ấp, thả sức tạo dáng trước ống kính máy ảnh. Mùa phượng đang nở đỏ khắp các vùng nội, ngoại thành Hà Nội.



Các thiếu nữ trong tà áo dài trên con đường làng thuộc huyện Mỹ Đức, vùng nông thôn có nhiều hoa phượng nhất thủ đô.




Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng, câu đầu tiên của bài hát về loài hoa tuổi học trò đã in sâu trong lòng nhiều bạn trẻ.

hoa phuong



Thả cánh phượng rụng như mưa.



Tay trong tay, ngắt một vài cành phượng.


Cài hoa lên mái tóc.



Mơ màng trong khung cảnh đậm chất thơ.



Phượng là loài hoa gắn nhiều kỷ niệm nhất của thời áo trắng.




Xa xăm...


Khi đã héo tàn, phượng vẫn đầy mộng mơ.


Trải dài trên đường Thanh Niên, soi bóng xuống hồ Trúc Bạch.

Lác đác bên hồ Gươm.



Rung rinh rủ mặt nước.





.