May 26, 2024

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI ĐỌC NHIỀU SÁCH VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐỌC SÁCH .

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI ĐỌC NHIỀU SÁCH VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐỌC SÁCH .




Đọc nhiều tiểu thuyết, bạn sẽ nhìn thấy biết bao cuộc đời lên voi xuống chó, gặp bao mánh lới xâu xé bẩn thỉu, chứng kiến bao kiểu nhục dục đê hèn, cảm nhận được nỗi xót xa và không cam lòng, hiểu thế nào là bất lực, u ám. Bạn sẽ đọc được đủ loại chuyện trên thế gian này khiến bạn trầm luân trong chúng, và từ đây trở về sau dù bạn có đối diện chuyện gì đi chăng nữa, đều là những chuyện mà từ trong sâu thẳm trái tim bạn, bạn đã được trải nghiệm qua một lần.


Đọc nhiều sách lịch sử, bạn sẽ đọc được đủ loại quyền uy và biết bao cá thể nhỏ bé bị dòng nước lũ của số mệnh cuốn trôi. Bạn sẽ nhận ra con người nhỏ bé biết mấy còn cuộc đời thì luôn đầy những biến động. Đọc nhiều sách triết học, bạn được chứng kiến sự hình thành của đủ kiểu giá trị quan, vô vàn những lời giải đáp cho những thắc mắc nhỏ nhặt nhất. Bạn sẽ phát hiện những gì mình luôn vững tin vào sự tồn tại của nó lại hóa ra chỉ là một tràng hư ảo, những điều bạn luôn chế nhạo là xuẩn ngốc lại uẩn chứa nhiều nội hàm cao siêu. Bạn không còn cố chấp với những gì đã từng luôn chấp nhất, dùng ánh mắt tư biện* để nhìn nhận thế giới nửa thực nửa giả này. (tư biện: chỉ đơn thuần suy nghĩ, không dựa vào kinh nghiệm thực tiễn)


Đọc nhiều sách về xã hội học, bạn lần nữa bắt gặp những chuyện vốn quen quá hóa thường, hóa ra đều có nguồn gốc đáng tìm hiểu. Bạn sẽ nhận thấy xã hội loài người chẳng qua chỉ là một bản phác thảo trong tưởng tượng. Bạn cũng sẽ tìm hiểu ra đằng sau những câu chuyện ấp áp lại thường ẩn chứa bao tính toán lạnh lùng, bạn là một phần tử trong cả một hệ thống, là cánh bèo trôi dạt giữa dòng đời.


Đọc nhiều sách về nhân học, bạn hiểu được hóa ra con người cũng chỉ là một loài động vật cực kì đặc biệt, rằng con người chúng ta kỳ thực cũng đâu cao quý đến vậy đâu. Nếu không sở hữu nét đặc thù, thì chúng ta chẳng qua chỉ là một lớp thú khoác lên mình cái áo của văn minh hiện đại. Không đọc sách nhiều thì cũng chẳng phải là chuyện gì xấu xa cả, vì nhiều khi càng đọc nhiều, càng thấy lạnh nhạt với thế gian.


Dịch bởi: Cao Đức Hiếu
Ảnh: Tiểu Hồng Thư
Via: Study With Me #skybooks


May 16, 2024

Giếng hồi hướng công đức cho giáo sư Lâm Thị Phúc

 Kính thưa cô Đức và cácbạn,

 Giếng của nhóm 6370 chúng em làm để hồi hướng công đức cho cô Lâm Thị Phúc vừa hoàn thành, em xin gửi trình Cô và các bạn hình ảnh giếng. 




 Vì mình gửi qua nhóm nên Google họ chỉ cho chuyển một tấm hình, em sẽ chuyển tất cả hình ảnh giếng cho bạn Minh Hải. Cô Phúc là em họ của Mẹ bạn Minh Hải. Nhờ Minh Hải đại diện nhóm 6370 chuyển cho em Khanh, con gái cô Phúc những hình ảnh giếng. Xin cảm ơn Minh Hải.

 Một lần nữa nhóm học trò cũ của cô Phúc xin thành thật chia buồn cùng Minh Hải, em Khanh và toàn thể gia đình cô Lâm Thị Phúc.

 Chúng em cầu xin cho hương linh cô, Diệu Đức Lâm Thị Phúc được sớm siêu sinh tịnh độ.

 Các học trò của Cô, Trưng Vương 6370 đồng thành kính phân ưu.

May 8, 2024

BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC: MỘT GÓC NHÌN TỪ THI CA

 BÁC SĨ ĐỖ HỒNG NGỌC: MỘT GÓC NHÌN TỪ THI CA



Thời gian gần đây, tôi được đọc khá nhiều văn thơ do các bác sĩ, kỹ sư viết. Với lời văn, câu thơ giản dị cùng sự tưởng tượng, tư duy logic cho tôi nhiều điều bất ngờ. Và mối quan hệ, tính logic ấy đã làm nên chân dung, tính đặc trưng riêng biệt cho mỗi nhà văn. Nếu nói, toán học gói ghém cái cụ thể nhất, thì văn thơ Toàn Phong mở cái trừu tượng của không gian vũ trụ Nguyễn Xuân Vinh. Và Đỗ Hồng Ngọc cũng vậy, thi ca là chìa khóa mở ra con đường dẫn ông đến y khoa, đến với nơi cửa thiền. Do vậy, đi sâu vào đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy sự nghiệp, và thi ca Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cứu chữa thể xác con người, mà còn vá lại những linh hồn rách nát.


Thật vậy, tiến sĩ y khoa Đỗ Hồng Ngọc là người đa tài. Với trên sáu chục tác phẩm từ thơ ca, văn xuôi truyện ngắn, cho đến sách y khoa và Phật học, có thể nói Đỗ Hồng Ngọc đi sâu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Ở lãnh vực nào hình ảnh, chân dung ông cũng lừng lững cả. Tuy nhiên, trong (khuôn khổ) bài viết này, tôi chỉ đủ khả năng viết về khía cạnh thi ca Đỗ Hồng Ngọc mà thôi.


Đỗ Hồng Ngọc sinh năm 1940 tại Lagi, Bình Thuận. Ông đến với thi ca rất sớm. Khi còn là học sinh, hay sinh viên trường Đại học y khoa, ông đã có thơ đăng hầu hết trên các trang báo Văn học Saigon thời đó, với bút danh Đỗ Nghê. Đỗ Hồng Ngọc tốt nghiệp tiến sĩ y khoa năm 1969, rồi làm việc tại Bệnh viện nhi Saigon, và giảng dạy đại học cho đến ngày hưu trí. Hiện ông đang sống, và viết tại Saigon.


Sở trường Đỗ Hồng Ngọc là thơ tự do, ngắn và cô đọng. Tính triết lý làm giàu cho nhận thức, đưa đến những liên tưởng, với sự tưởng tượng phong phú là nghệ thuật đặc sắc của thi ca Đỗ Hồng Ngọc: “Đất động ta cũng động/ Sóng thần ta cũng sóng/ Giật mình chợt nhớ ra/ Vốn xưa ta là đất“ (Đất).


*Tình yêu- với sự chiêm nghiệm, kiến thức tâm lý và triết học.


Do những đặc điểm nghệ thuật trên, cho nên thơ Đỗ Hồng Ngọc dường như đã chín trước tuổi. Và Thư cho bé sơ sinh là một bài thơ điển hình như vậy của ông. Bài thơ viết năm 1965, khi ông còn đang là sinh viên thực tập ở Bệnh viện Từ Dũ. Đây là bài thơ có ý tưởng, hình ảnh rất mới, lạ của Đỗ Hồng Ngọc. Vì vậy, đọc Thư cho bé sơ sinh, ta không chỉ thấy được tình yêu, sự đồng cảm: “Khi anh cắt rốn cho em/ Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé/ Vì từ nay em đã phải cô đơn/ Em đã phải xa Địa Đàng Lòng Mẹ.“ mà còn thấy như một lời nhắn nhủ đến thế hệ sau, hay cảnh tỉnh cho chính mình về thân phận con người trước xã hội nhập nhèm trắng đen (của chiến tranh) điên loạn, được thông qua những từ ngữ, hình ảnh ẩn dụ:


“ Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu


Nói là để ngừa đau mắt


Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thật


Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen.


---


Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh


Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa


Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang


Với những danh từ dao to búa lớn


Để bịp lừa để đổ máu đó em…”


Và ngay từ ngày đầu cầm bút Đỗ Hồng Ngọc có những câu thơ tình với hình ảnh rất đẹp và e lệ. Đọc ở đâu đó rất lâu rồi, dường như cả cái tựa cũng đã quên, song câu thơ ấy vẫn còn đọng trong tôi: “Em đi cúi mặt thẹn trong tóc/ Cát trắng hôn tròn bước bước em”. Và những bước chân mềm ấy vội quay đi, để hồn người hoang vắng, cằn khô: “Những bước chân mềm trên cát thơm/ Em đi sa mạc rợn trong hồn/ Buổi chiều lên đọng hai vành mắt/ Màu áo hôm nào làm sao quên”. Sự cô đơn, hoang vắng đó đưa Đỗ Hồng Ngọc trở về con đường cũ. Quen thuộc là thế, nhưng hồn người đã lạnh băng và khép kín, để nhà thơ đứng ở đâu, vị trái nào cũng cảm thấy thiếu vắng, và vô nghĩa. Với tâm trạng như vậy, đã cho Đỗ Hồng Ngọc cảm hứng viết nên: “Giữa hoàng hôn xưa”, một bài thơ có những hình ảnh so sánh về cái giá trị tình yêu thật sâu sắc, lạ và bất ngờ: “Ta về lối cũ/ Nghe lòng lạnh băng/ Thiếu em hoàng hậu/ Ngai vàng như không“.


Nếu ta đã đọc Du Tử Lê, hay Nguyễn Tất nhiên, người yêu, người tình trong thơ, với những tên tuổi thực, cụ thể (như Thụy, như Duyên), thì thơ tình Đỗ Hồng Ngọc dường như có tính trừu tượng, nặng về tâm trí hơn. Ở đó, Đỗ Hồng Ngọc đi sâu vào tâm lý tình yêu, tâm lý con người. Có một điều rất thú vị, bài Thơ Tình của Đỗ Hồng Ngọc chỉ là những câu nói, mang tính liệt kê, chưa có sự mặn nồng, hay hồn vía gì của thơ ca thi phú cả: ”Anh đọc bài thơ tình/ Em ngồi nghe lặng thinh/ Anh đọc thêm bài nữa/ Em vẫn ngồi lặng thinh”. Vậy mà, Đỗ Hồng Ngọc chỉ khái quát bằng câu kết với diễn biến tâm lý, đã đẩy tình cảm, tình yêu lên cung bậc mới. Và nó trở thành bài thơ thật tròn trịa, gây bất ngờ cho người đọc: “Anh thôi không đọc nữa/ Em chồm lên hôn anh/ Như đổ dầu vào lửa...”. Với đặc điểm (thi pháp mạch kỵ lộ) này, ta đã bắt gặp trong thơ Nguyên Sa, điển hình là bài: Năm Ngón Tay.


Cùng với Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười của Trần Trung Đạo, Bông Hồng Cho Mẹ của Đỗ Hồng Ngọc là bài thơ viết về mẹ cho tôi nhiều cảm xúc khi đọc. Vẫn thủ pháp mạch kỵ lộ mang mang hồn vía Đường thi, Bông Hồng Cho Mẹ đã đưa đến sự bất ngờ, cùng tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng cho người đọc, bởi câu thơ kết. Và có thể nói, Bông Hồng Cho Mẹ là một trong những bài thơ toàn bích nhất về mảng đề tài này của Đỗ Hồng Ngọc. Nó đã góp phần ghim tên tuổi ông trên Văn đàn Việt. Có được như vậy, bởi ngoài cái tứ thơ độc đáo, Đỗ Hồng Ngọc còn giúp ta thấu được cuộc sống, sinh tử của con người nằm trong cái quy luật của tự nhiên:


“Con cài bông hoa trắng


Dành cho mẹ đóa hồng


Mẹ nhớ gài lên ngực


Ngoại chờ bên kia sông…”


Nỗi buồn nhớ thương quê luôn thường trực trong con người Đỗ Hồng Ngọc. Một kỷ niệm nhỏ cũng làm cho ông ray rứt. Vì vậy, tuổi thơ đã đi qua nơi binh đao khói lửa vẫn ám ảnh, còn vương trên ngòi bút thi nhân: “Mảnh đất thân cha nắng sáng đan vườn/ Nghe da thịt đã bao lần thối rữa”. Khổ đau là thế, song với Đỗ Hồng Ngọc chỉ ở nơi quê nhà mới thực sự có mùa xuân. Và gió mùa chợt đến, để Đỗ Hồng Ngọc gói hồn quê vào đó, viết nên Gió Bấc. Bài thơ như một phép so sánh (không gian, và thời gian) để thi nhân bộc lộ tâm trạng của mình. Vâng! Có lẽ tâm trạng ấy, không phải riêng nhà thơ, mà của chung những kẻ xa quê, xa tổ quốc như chúng tôi: “Đi giữa Sài Gòn/ Phố nhà cao ngất/ Hoa nở rực vàng/ Mà không thấy Tết/ Một sáng về quê/ Chợt nghe gió Bấc/ Ơ hay Xuân về/ Vỡ òa ngực biếc!”.


Tôi không rõ, Đỗ Hồng Ngọc viết bài thơ Quê Nhà vào thời gian, và hoàn cảnh nào? Song có thể nói, đây là một bài thơ hay viết về tình yêu quê hương mà tôi đã được đọc trong thời gian gần đây. Ở đó, Đỗ Hồng Ngọc đã đan tình yêu con người vào tình yêu quê hương với những hình ảnh, lời thơ rất đẹp và gợi cảm: “Núi mờ trong mây trắng/ Em mờ trong dáng hoa.“. Do vậy, đọc Quê Nhà, ngoài nỗi nhớ, buồn thương, ta còn thấy tâm trạng dằn vặt của thi nhân chìm trong những câu hỏi (tu từ) hay tự vấn đầy tiếc nuối. Thành thật mà nói, tôi mới chỉ được đọc tập: Thơ Ngắn Đỗ Nghê do nhà thơ Luân Hoán từ Canada tặng, và một số bài thơ khác của Đỗ Hồng Ngọc ở đâu đó trên internet. Song, nếu được phép tuyển chọn (trong khuôn khổ những gì đã đọc), với tôi Quê Nhà là bài thơ hay, và tôi cho nhiều cảm xúc nhất:


“…Biển xanh lùa sóng bạc


Cát vàng hoàng hôn xưa…


Tiếc em về chốn cũ


Tình vương đến bao giờ?


Tiếc đời phơ tóc bạc


Thương mãi núi mây xa.


Nụ mai vàng trước ngõ


Góc phố bờ quạnh hiu


Con đường xưa đứng đợi


Ta làm chi đời ta?


Thương em còn thương mãi


nắng vàng thơm quê nhà!“


Có thể nói, tình yêu là mảng quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tạo của Đỗ Hồng Ngọc. Cũng chính nó, ngay từ những ngày đầu đã đã đưa Đỗ Nghê (Đỗ Hồng Ngọc) đến với làng văn, và làm nên tên tuổi ông. Và trên sáu mươi năm qua, tình yêu sự giản dị thấm đẫm trang thơ Đỗ Hồng Ngọc, vì vậy nó đọng lại rất sâu sắc trong lòng của mọi tầng lớp người đọc.


*Hồn thơ thế sự, xã hội.


Khi đọc và nghiên cứu, ta có thể thấy cái tư tưởng Đỗ Hồng Ngọc qua thi ca thật rõ ràng. Và cái tư tưởng ấy của Đỗ Hồng Ngọc khá giống với hồn vía tư tưởng văn thơ Lữ Quỳnh. Dù sống ở chế độ Cộng Hòa, hay Cộng Sản nhà thơ đều chĩa bút về phía chính quyền. Tuy nhẹ nhàng, song cũng không hề khoan nhượng. Có thể nói, đối lập với chính quyền là điều quan trọng bậc nhất đối với một người cầm bút. Kể cả xã hội tự do, phát triển như Âu-Mỹ cũng rất cần những thi sĩ, nhà văn như vậy. Bởi, nó không chỉ nhằm vạch ra những yếu khuyết của chính quyền, thúc đẩy xã hội phát triển hơn, mà còn là thước đo nhân cách của một thi sĩ, nhà văn.


Thật vậy, không chỉ có sự đồng cảm, hay cảm phục tinh thần một nữ sinh bị bắn chết, khi đang biểu tình: “Có cần gì một con đường mang tên em/ Một công trường hay một hoa viên/ Vì tên em đã lồng khung tuổi trẻ/ Vì tên em không còn là một tên riêng“, mà lời thơ Đỗ Hồng Ngọc còn thật chua xót cho thân phận tuổi trẻ, buộc phải lao vào cuộc chiến tàn khốc trước 1975, và chọc thẳng cái ung nhọt xã hội lúc đó: “ngủ đi con ngủ đi con/ ngày mai rồi khôn lớn/ cầm súng với cầm gươm/ ngủ đi con ngủ đi con/ ngày mai rồi khôn lớn/ giết bạn bè anh em/ ngủ cho ngon ngủ cho ngon/ ngày mai rồi khôn lớn/ bán nước mà làm quan“. Và đó là Lời Ru, dù mang tính thời sự, song lời thơ Đỗ Hồng Ngọc vẫn nhẹ nhàng, sâu sắc. Đọc nó thoạt tưởng là một lời ru chăng? Nhưng dường như không phải vậy. Đó là lời thức tỉnh cho mình, cho người của Đỗ Hồng Ngọc trước nỗi đau, bất hạnh của quê hương. Qủa thực đã lâu lắm rồi, tôi mới được đọc bài thơ thế sự hay đến vậy. Bài thơ ra đời trước đây khoảng sáu chục năm, nhưng đọc vẫn thấy mới, tính thời sự vẫn còn nguyên giá trị đối với tất cả những kẻ cùng chế độ độc tài, độc tôn:


“ngủ cho quên ngủ cho quên


còn tương lai dĩ vãng?


– này mười ngón tay đan:


ngủ cho ngoan ngủ cho ngoan


còn quê hương xứ sở?


– này nụ hôn rất tròn


ngủ đi cưng ngủ đi cưng


kề tai đây anh bảo


“coi như mình chẳng có quê hương”


Đọc bài thơ Rùng Mình của Đỗ Hồng Ngọc làm tôi liên tưởng đến: Trò Chuyện Với Thiên Thần của nhà văn Trương Văn Dân. Một cuốn tiểu thuyết đi sâu vào sự tàn phá thiên nhiên, môi trường cùng những lời dự báo và cảnh cáo, mà tôi mới được đọc trong thời gian gần đây.


Có lẽ, rùng mình trước những cơn sóng thần, động đất (JPN), hay những trận lũ quét kinh hoàng ở miền Trung Cao Nguyên và miền núi phía Bắc Việt Nam, buộc Đỗ Hồng Ngọc phải viết Rùng Mình (vào năm 2011). Ở đó, nhà thơ đã chỉ ra, sự phá vỡ mối quan hệ thiên nhiên và con người để nói lên nỗi đớn đau tuyệt vọng. Một loạt những câu hỏi, không lời giải đáp, nhưng người đọc vẫn thấy được hình ảnh, những Boxit Tây Nguyên, những sân golf, thủy điện, những công trường khai thác, tàn phá rừng vô tội vạ của những kẻ trọc phú có sự bảo kê hợp pháp. Đọc Rùng Mình của Đỗ Hồng Ngọc làm tôi nhớ đến câu nói thật xót xa của một gã người Đức trước đây thường xuyên sang Việt Nam: Người Việt đã phá tan Đalat, beton hóa Phú Quốc, Sapa, rồi đang ao hóa Hạ Long…


Vâng, đó thực sự là nỗi đau, và đáng tủi hổ. Và rất tiếc tôi không đủ khả năng dịch Rùng Mình thành một bài thơ tiếng Đức. Song nhất định tôi sẽ dịch nghĩa cho gã bạn người Đức này:


“những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?


vì sao những dòng sông nghẽn tắt?


vì sao những mũi đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?


Vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân


Vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt…


Ta nương tựa vào nhau.


Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!


Đất rùng mình phận đất…


Người rùng mình phận người…”


Dù thế sự, nhưng ngòi bút, lời thơ Đỗ Hồng Ngọc không hề lên gân, đao to búa lớn. Đọc nó đôi khi tưởng chừng là những lời thơ tự sự, trữ tình, nhưng rất nóng bỏng, rát và đau. Đó cũng là tài năng, chí khí của thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Và chính nó, buộc tôi phải cầm bút viết về ông.


*Thi ca - con đường đến với Phật Pháp.


Dường như, từ nỗi đau cơ thể đến nỗi đau tâm lý đã đưa Đỗ Hồng Ngọc đến với Thiền, khoa học Phật giáo. Và ở đó đã mở cho Đỗ Hồng Ngọc một lối thoát. Từ bế tắc đến nhận thức mới, quả thực là chông gai, với Đỗ Hồng Ngọc thi ca mới là con đường dẫn ông qua lối thoát đó: “Trước mộ con còn ướt/ Ba nói với bạn ba rằng/ Từ nay hãy yêu con mình cách khác/ Đừng như ba/ Giấu kín trong lòng/ Bởi tình yêu/ Có bao giờ cho đủ/ Có đâu sợ dư thừa/ Như ba đã sai lầm bao nhiêu”. (Tình Yêu). Và từ đó, Đỗ Hồng Ngọc không chỉ đi sâu nghiền ngẫm Tâm Kinh để chữa bệnh cho mình, cho người, mà như còn trộn triết lý nhân sinh vào với thi ca, hòng vá lại những linh hồn rách nát. Và Thở, một bài thơ lục bát điển hình như vậy của Đỗ Hồng Ngọc. Từ triết lý giản đơn, với những điều bình dị, Đỗ Hồng Ngọc cho người đọc cảm được một khung trời tự nhiên rộng mở rất lạ, song rất gần gũi:


"Lắng nghe hơi thở của mình


Mới hay hơi thở đã nghìn năm xưa


Một hôm hơi thở tình cờ


Dính vào hạt bụi thành ra của mình


Của mình chẳng phải của mình


Thì ra hơi thở của nghìn năm sau...!"


Có thể nói, Đỗ Hồng Ngọc có sự quan sát tỉ mỉ, và giàu trí tưởng tượng. Bởi vậy, một hiện tượng của thiên nhiên bất chợt bắt gặp ở đâu đó, cũng cho ông liên tưởng đến quy luật của tự nhiên, con người và cuộc sống rất độc đáo:“Còn cây trơ lại với cành/ Với linh hồn lá ngập ngừng trút qua“ (Đông Boston). Và trái tim nhạy cảm của thi nhân cho ta thấy, cái quy luật đối nghịch trong mối quan hệ hoặc tương quan đến tâm trạng của con người:


“Khi nhìn nhau xa lạ


Là rất đỗi thân quen


Khi nói năng vô nghĩa


Là thác reo trong hồn.” (Không Tên)


Và sự tĩnh lặng của Hội An đã cho Đỗ Hồng Ngọc cảm xúc để viết: Hội An Sớm, một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt mang mang hồn vía cổ thi. Ở đó, nhà thơ mượn động (tiếng chổi, gà gáy) để tả cái tĩnh, cái u tịch của Hội An. Thủ pháp nghệ thuật này ta bắt gặp khi tả tĩnh ở Thu Điếu của Nguyễn Khuyến: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Hoặc ta bắt gặp trong thơ về Lai Châu của Trần Mạnh Hảo, hay Hộ Chiếu Buồn của Thế Dũng…Có thể nói, Hội An Sớm là tuyệt bút của Đỗ Hồng Ngọc. Đọc nó, tưởng chừng như ta đang đứng trước bức tranh nổi, có tĩnh trong động vậy:


“Hội An còn ngái ngủ

Mái chùa ôm vầng trăng

Giật mình nghe tiếng chổi

Gà gáy vàng trong sương.”


Lòng nhân bản, là một trong những đặc điểm làm nên thi ca Đỗ Hồng Ngọc. Là một bác sĩ, Đỗ Hồng Ngọc không chỉ cứu người, mà luôn có cái nhìn cảm thông. Trong Một Nhà Dưỡng Lão, một bài thơ buồn về mỗi mảnh đời gắn với từng câu chuyện, song cùng chung số phận ở nơi đây, được Đỗ Hồng Ngọc viết vào năm 1993. Đọc nó, tưởng như nhà thơ chỉ có tả (ghi nhận) chứ không hề có tình (cảm nhận) ở đó. Nhưng dừng lại vài giây, ta chợt nhận ra: Nếu chỉ thấy tả: Trong Một Nhà Dưỡng Lão, thì quả thực ta mới chỉ thấy được cái vỏ. Cái (tình) sự cảm thông, với tấm lòng nhân bản mới là cái lõi của hồn thơ Đỗ Hồng Ngọc gửi đến người đọc. Và cái lõi ấy dường như được toát ra từ nhịp điệu, tính nhạc trong từng câu thơ, mà ta chỉ có thể cảm, chứ không thể viết ra được:


“Họ ngồi đó/ Bên nhau/ Đàn ông/ Đàn bà/…Có người/ Trên chiếc xe lăn/ Chạy vòng vòng/Có người/ Trên chiếc xe lăn/ Bất động/…Họ ngồi đó/ Không nói năng/ Không nghe ngóng/ Gục đầu/ Ngửa cổ/ Móm sọm/ Nhăn nheo/ Ngoài kia/ Tuyết bay/ Trắng xóa/ Ngoài kia/ Dòng sông/ Mênh mông Mênh mông…”


Có thể nói, cuộc sống và sự nghiệp sáng tạo của Đỗ Hồng Ngọc rất sinh động, và phong phú. Do vậy, viết về ông, quả thực sự khó khăn, cần phải có tài liệu (tác phẩm) và thời gian đọc và nghiên cứu. Tôi thuộc thế hệ em út, con cháu có khoảng cách rất xa, và chưa một lần được gặp gỡ Đỗ Hồng Ngọc. Và bài viết gồm ba phần về chân dung, đặc điểm thi ca này, như một sự giãi bày, hay cảm xúc tự nhiên, bất chợt của tôi về Đỗ Hồng Ngọc mà thôi. Cho nên, có thể chưa hẳn đã đúng. Tuy nhiên, với tôi nó như một tiếng nói nhỏ, góp phần làm sáng tỏ thêm chân dung nhà thơ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc vậy.

Leipzig ngày 14-3-2023




Đỗ Trường


H.Phúc st

Phu nhân một vị tướng-Đinh Yên Thảo

 Đinh Yên Thảo 

1. Sơ ngộ

Bà cho số nhà lộn một số nên chúng tôi đảo xe một vòng vẫn chưa tìm ra. Vị khách của bà bấm điện thoại gọi lại, nhà ngay mặt đường, chỉ chạy thêm một đoạn là đến. Dừng xe thì bà đã đứng đợi trước ngôi nhà xinh xắn nho nhỏ, vẫy tay chào nhưng không đợi mà bước vào nhà.




Còn đôi năm nữa là bước vào tuổi 90, trông bà vẫn khá khoẻ mạnh và hoạt bát, có phần thời trang với cái nón và chiếc khăn quàng cổ bắt mắt. Gặp bà lần đầu tiên theo lời rủ của một anh bạn nhà báo, chúng tôi cùng đến thăm bà. Không biết gì nhiều về bà ngoài cái tên và chút gia thế đã đọc được đó đây khi bà ra hồi ký đôi năm trước. Tôi cảm nhận ngay nét quý phái, thanh lịch của những phụ nữ trí thức Hà thành di cư lẫn sự gần gũi, ân cần của người miền Nam qua cách bà tiếp đón và xưng hô cùng chúng tôi. Về nhà đọc sách của bà, thấy ấn tượng lần sơ ngộ của mình không sai mấy. Nhưng hãy trở lại điều này sau.

Tôi đảo mắt nhìn quanh phòng khách, rồi theo các anh em đến "thắp nhang cho chú", theo lời bà. Trên bàn thờ là tấm ảnh người chồng. Phía dưới là ảnh thân phụ mẫu cùng di ảnh bà nội của bà. Vách tường kế bàn thờ treo thêm tấm ảnh một vị tướng ba sao mang quân phục, vẫn thường được đăng trên báo chí mỗi khi ai đó viết hay nhắc về ông. Ngay phía dưới là tấm ảnh chân dung của bà lúc còn thiếu nữ. Rất đẹp. Tựa như một minh tinh màn bạc nào đó.

Vâng, bà là Nguyễn Tường Nhung, trưởng nữ của nhà văn Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn và là phu nhân của cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 rồi Quân Đoàn 1, một tư lệnh chiến trường được đánh giá là ưu tú nhất của quân lực VNCH. Như vậy cũng có thể nhắc thêm, bà là cháu ruột của hai cột trụ khác trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, các anh trai của Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, những nhà văn tiên phong trong trường phái văn chương cách tân về văn hóa và xã hội và có ảnh hưởng nhất nhì trong lịch sử văn chương Việt Nam.

Tôi nói với bà rằng, tôi vẫn còn nhớ những truyện ngắn Gió Đầu Mùa, Nhà Mẹ Lê... của Thạch Lam, thân phụ bà. Thật ra chẳng làm sao tôi nhớ hết những gì đã đọc sau bao năm, ngoài những tựa chuyện. Nhưng điều tôi nói là thật lòng, chẳng phải xã giao. Những gì còn sót lại trong tôi về Thạch Lam là một giọng văn đẹp, đầy lòng bác ái, cảm thông. Ngòi bút và tư tưởng của Thạch Lam có phần khác biệt với những nhà văn có xu hướng cách mạng lẫn lãng mạn trong nhóm như Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ... Văn phong và những truyện ngắn của ông nhẹ nhàng và tinh tế, thông cảm với phận người cơ cực, lầm than, đọc xong thường để lại những ngậm ngùi, suy nghĩ. Truyện ngắn của ông ở lại cùng tôi là vậy.

Bà giới thiệu vài bức ảnh, dăm tấm tranh và thư treo trên tường. Tôi đọc qua đôi lá thư của Đại Tướng Norman Schwarzkopf, cựu Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Trung Ương Hoa Kỳ, từng là tư lệnh chiến dịch Bão Sa Mạc trong chiến tranh vùng Vịnh, gởi cho tướng Trưởng với lời lẽ đầy ngưỡng mộ và kính trọng. Tướng Schwarzkopf từng phục vụ trong chiến tranh Việt Nam, là Thiếu Tá cố vấn lực lượng đặc nhiệm Sư Đoàn Dù, dưới quyền của Đại Tá Ngô Quang Trưởng là Phó Tư Lệnh Sư Đoàn Dù trong khoảng thời gian 1965-1966.

Chúng tôi ngồi trò chuyện cùng bà trước khi được bà mời đi ăn trưa tại một tiệm ăn nho nhỏ của con gái bà cũng gần nhà. Trước khi rời nhà, bà mang vài cuốn hồi ký ra ký tặng chúng tôi. 

Ra tiệm, trò chuyện liên quan đến cuốn sách, bà bảo có dăm nơi mời bà ra mắt sách nhưng bà từ chối. Ra vậy. Tôi nhắc tên một chị bạn khá thân ở ngay thành phố tôi cư ngụ, mà bà bảo là người bà con bên tướng Trưởng, đã có lần rủ tôi cùng tổ chức ra mắt sách cho bà. Về sau không nghe chị nhắc lại, lý do là vậy. Có tổ chức mà bà chẳng bay xa tham dự được cũng mất đi ý nghĩa. Có lẽ bà để cho các nhà sách bán. Tiền bán được, bà gởi tặng cho các thương phế binh, người nghèo bên Việt Nam.

Rồi bà bảo chúng tôi đừng động lòng khi nói rằng, bà rất ít khi tặng sách cho người khác, ai thích đọc thì mua. Sách được tặng, người nhận không chắc sẽ trân trọng. Đúng thôi, tôi nghĩ ngay cả mua, có người cũng không hẳn sẽ đọc. 

Tôi không biết tại sao bà lại tặng chúng tôi? Có lẽ chúng tôi đến cùng anh nhà báo mà bà thân thiết và quý mến, và anh đã có sách của bà khi phát hành. Hay có thể bà cảm động khi tôi nhắc đến thân phụ bà và nghĩ có thể tôi là người sẽ đọc. Mà cũng có thể vì niềm vui riêng của bà khi có người đến thăm và trò chuyện vì bà nhờ một người bạn, cũng là phu nhân một vị cựu đại tá không quân, mang bó nhang đến cho chúng tôi thắp tỏ lòng thành kính lên tướng Trưởng. Như vậy đã lâu không mấy ai đến thắp nhang. Tôi không chắc.

Không phải vì sự ưu ái vậy mà về nhà, tôi đọc ngay cuốn hồi ký, mà bà gọi là hồi ức "Tháng Ngày Qua" của bà. Đọc rất nhanh và trọn vẹn. Rồi lại giở tìm dăm trang, đọc chậm lại những điều tạo cho tôi sự xúc động.

Tôi không ngờ cuộc đời phu nhân một vị tướng lại lắm nỗi thăng trầm đến vậy. Những tháng ngày cơ hàn, thiếu thốn khi mồ côi cha từ rất sớm. Hạnh phúc xen lẫn khổ đau, hụt hẫng. Từ một thế giới quyền uy trở thành người vợ bôn ba công việc đời thường, với không ít nghẹn ngào trong những năm tháng đầu tiên trên xứ người. Những chăm sóc, yêu thương dành cho những năm tháng cuối đời của chồng bà. Rồi những tháng ngày và cảm nghiệm bình yên ở chặng cuối cuộc đời.

Tôi còn thêm bất ngờ khi đọc được những trang sách phảng phất giọng văn Thạch Lam, từ một tác giả dường như chưa hề cầm bút trước kia. Rất chân thật và đầy cảm xúc. Có những đoạn nồng nàn, lãng mạn. Có những trang xót xa, ngậm ngùi. Có những câu văn tả chân vô cùng đẹp. Có những ý tưởng bác ái, nhân văn và thứ tha đến cảm động. 

Và hơn hết, tôi hiểu thêm đôi điều về con người một vị tướng, về tâm trạng những người mẹ, người vợ lính trong thời chiến chinh, ly lạc. Và tất nhiên là cuộc đời một người phụ nữ xuất thân từ một gia đình văn chương lừng danh rồi trở thành vợ một danh tướng tài ba, có thể khác xa những gì mà thế hệ đồng thời với bà hay đi sau như chúng tôi đã hình dung.

Hãy thư thả bắt đầu lần giở từng trang sách, đọc mỗi câu chuyện trong hồi ức phu nhân một vị tướng. 
(Còn tiếp)

Dallas 04/2024
Đinh Yên Thảo 

H.Phúc sưu tầm

Apr 11, 2024

Chia buồn cùng Minh Hải và gia đình GS Lâm thị Phúc

 

Nhận được tin buồn:


  Giáo sư LÂM THỊ PHÚC
Pháp danh Diệu Đức



Cựu giáo sư 
 

Trường nữ trung học TRƯNG VƯƠNG Sài Gòn
vừa từ trần ngày
 6 tháng 4  2024 tại 
Paris, PHÁP
hưởng thọ 98 tuổi





Toàn thể cựu nữ sinh TV 63-70 xin chân thành chia buồn cùng Minh Hải và tang quyến. Nguyện xin hương linh GS Phúc được tiêu diêu nơi miền tịnh độ.


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Apr 6, 2024

Danh Sách Thầy Cô 63-70 TrưngVương (Phần 4)

 3/19/24  

giờ học theo Lan Anh Oanh Ngô : 7:30 

3/20 

Đúng là Cô Thục Khang dạy nhạc tụi mình lớp đệ thất A 2.
  
Cô dạy tụi mình hát bài...Trang hỡi Trang em là vì sao sáng... Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh...
  Cô hát xong ...Thanh ông lên khen hay hay...thế là bị trừ ngay 2 điểm hạnh kiếm !!! Làm sao quên được!!! 

  Năm đệ nhất B tụi mình thi làm bánh dịp lễ Hai Bà ...
  Thuấn Nhật làm bánh kem làm sao mà chưa kịp chấm điểm đã bị chảy kem ...không ra hình dạng gì cả !!! Tụi mình còn hùa nhau nói với Thầy Cô chấm điểm là lúc trước bánh có hình rồng phượng rất đẹp...nhưng vì trời nóng quá nên...chảy không nhìn ra ...

3/22

Đúng rồi, cô Mỹ làm giám thị buổi sáng ! Cô Mỹ cất hết sơ đồ hình ảnh của các học sinh cất vào tủ khóa lại...
   Nên Thanh không lấy được sơ đồ lớp nhất B.Chỉ lấy được sơ đồ lớp đệ tam B và đệ nhị B thôi...tiếc quá... 

  Năm đó Mỹ Bùi được giải nhất làm bánh kem hình váy đầm búp bê rất đẹp mắt !!!  Còn lớp B chả được giải gì..nhưng cũng ăn gần hết những món ăn mình làm....hihi...

3/21 

Các bạn vịt  mến:

BM sẽ đúc kết lai tất cả các tên mà từ mấy hôm nay các mợ giúp trí nhớ của em qua các email về danh sách Thầy Cô của niên khóa 63-70 & sẽ viết lại cho các mợ đọc . Và BM sẽ nhờ KĐ hay PH đăng vào trang web 

BM xin phép lần chót nha , có còn thiếu những ai trong ban quản trị của niên khóa 63-70 ? 

1/ Cô Tăng Xuân An có còn làm Hiệu Trưởng của niên khóa mình ? Năm nào? 
2/  Cô Nguyễn thị Phú hiệu trưởng 1964 - 1970  ? 
3/ Cô Trần Thị Tuyết  làm Hiệu trưởng từ 1970 -1975 
2/Cô Vũ thị Nguyệt Minh làm Tổng Giám Thị  63-70 
3/ Cô Lê Thị Hoà làm Giám Học buổi sáng  ? Vậy ai làm giám học buổi chiều? 

Theo thiển ý của em vịt BM , 
2 nhân viên quan trọng không kém trong thời gian mình đi học là : Chị Nụ với tiệm bán quà vặt, và Hoàng tử Chột . Các mợ nào biết danh tánh thật sự??
BM xin lỗi 2 vị lao công cho trường vì không biết tên & cũng không được chia buồn an sinh cầu nguyện 🙏
BM xin phép các mợ :  mình có nên làm 1 cái giếng hồi hướng công đức của 2 Bác nhân viên  phụ trách việc làm vệ sinh & giữ an ninh cho trường ? 

Thương quý tất cả 

3/26 

TƯ LIỆU  XƯA.  :    THÀNH TÍCH  BIỂU

Các mợ ơi. tớ mới tìm được cái Thành tích Biểu. của lớp. 3A2 niên khóa 1967-68 (tức là lớp Đệ Tam. A2) .  Trong phần Lời phê về   Học lực và Hạnh kiểm có bốn cột. như sau :
     
           Môn Học                  Họ và Tên Giáo sư.                 Đệ  Nhất Bán niên.                                                                                                        Đệ  Nhị Bán Niên

          Việt văn.                   B. Hồ thị Phương Chi
       Công dân Giáo dục.    B.  Hồ thị Phương Chi
Sinh ngữ 1.   Anh văn.       B.  Nguyễn thị Hoàng Oanh
Sinh ngữ. 2.  Pháp văn.     Ô  Nguyễn Quốc Phúc
       Sử Địa.                        B.  Trần Mỹ Yến
         Toán.                          B. Nguyễn Vân Nhung
      Lý Hoá.                         Ô Đào đức. Vĩnh
      Vạn Vật.                       Cô Hoàng thị. Chi Hương
       Thể. Dục                     B.  Đặng. thị Phương

Giáo sư. hướng dẫn lớp :  Cô  Hoàng thị Chi Hương
Năm này chỉ ghi Đệ nhất bán niên thôi , còn đệ nhị bán niên thì chỉ ghi là  Biến Đông Mậu Thân   
                  
Thành tích biểu của lớp  2A2 tức là   lớp  Đệ nhị  A2 niên khoá l968 - l969 trong đó ghi rõ :    Lời phê  về Học  lực và Hạnh kiểm  

      Môn  Học                    Họ và  Tên   Giáo sư             Đệ nhất bán niên.             Đệ nhị bán niên
    
    Việt văn.                      B. Trần Mỹ  Yến
Công dân. giáo. dục.       B. Trương  Mộng Ngọc
Sinh ngữ 1.  ANH.           Ô. Đào. đức Hoàng
 Sinh ngữ 2.  PHÁP.         B. Phạm thị Vinh
Lịch sử và  Địa. lý            B.  Trần Lệ Khanh
Toán.                                Ô. Đinh  văn Khôi
Lý Hoá.                             Ô Đào đức Vĩnh
Vạn vật.                            Bà Phạm thu Oanh

      Giáo. sư. hướng dẫn lớp.  :   B. Phạm thu Oanh
      Hiệu Trưởng                       :   B. NGUYỄN THỊ PHÚ

Ngày  ấy  tớ là con bé hay ngồi ngó qua cửa sổ lớp mà  mơ màng đâu đâu nên học  hành làng nhàng.  Chỉ thích mỗi. môn  khâu vá của cô Trinh và  môn Văn cô Mỹ Yến . Tiếc là môn khâu vá thì lên đệ nhị cấp ( từ. lớp 10 tức đệ tam. thì bỏ không có. môn này. trong chương trình ) Cái tờ Thành Tích Biểu này  có màu. hồng. và. ngoài ra. còn. có cả. tờ Thông. Tín. Bạ màu   xanh lá cây  ghi  điểm hàng tháng và điểm hạnh kiểm để mỗi tháng đem về. cho. bố mẹ xem và   ký tên  rồi   nộp. lại. cho trường trong vòng. 3 ngày .

    Xem lại hai. tờ. giấy này mà nhớ lại thuở đi học sao mà vô  tư thế .  Ngắm chữ viết và chữ ký của thầy cô mà nhớ lại  từng người trên  bục giảng . Giờ đây  người còn , người mất .  Thời gian trôi đi  thật nhanh ,  thầy cô lúc  ấy còn trẻ   hơn mình bây giờ các mợ nhỉ .

   Nhờ những "Tư liệu" đáng tin. cậy này mà tớ biết được đầy đủ họ tên một số thầy cô  mà sau hơn nửa. thế kỷ chỉ còn "mang máng". rồi dần  vào "hư không" .  Vì học "giỏi" quá nên. tớ chỉ chép lại môn học và tên  thầy cô cho các bạn "chiêm ngưỡng" thôi.   Ai muốn "sờ tận tay, day tận mặt" thì gặp tớ nhá . Tớ sẽ hé hé cho xem cái thành tích "giỏi giang quá cỡ thợ mộc" của tớ .  "Tốt khoe, xấu che" ấy mà .

    Ghi Chú : Không biết sao cái máy của tớ nó. cứ nhảy. dấu.  chấm lung tung , mấy mợ đừng để ý nhá .

3/26
Lan có học cô Ngà day toán, cô Trâm day Sử , cô Thái dạy lý Hóa .

Lệ Nga nhớ cô Thái dạy Hóa đệ tứ A2

3/28

mợ vịt nào vẫn còn đi làm ,trong sở edd UI Communication  ???   ham vui , lòng không ngăn được , phải viết góp vào danh sách kỷ niệm thầy cô  ?? 😁

BM viết lại xem có đúng không nha vịt edd : 

1963 , khi bọn mình vào nhập học đệ thất , Cô Tăng Xuân An đã là dân biểu quốc hội VNCH .
Cô Phú làm hiệu trưởng từ tháng 9, 1963 - 1970 .
Cô Tuyết bắt đầu làm Hiệu Trưởng, nhiệm kỳ từ tháng 9 ,1970 - đến 30 tháng 4 , 1975 . 
Cô Ninh làm Giám Học ca chiều .
Cô Diệu Linh làm Giám Học ca sáng 
Thầy Làm (???? ) 
và Thầy Phi Long dạy Toán & Lý Hoá cho Đệ  nhi  & Đệ nhất bên Pháp văn , 

Ban B , môn Toán & Lý Hoá không có học thầy Phi Long . Thầy Minh, Thầy Khôi & Cô Dung Kennedy đảm nhiệm . 

Thầy Đoàn dạy  Vạn Vật cho Đệ Nhị & Đệ Nhất bên Pháp văn — chuẩn bị cho các mợ đi thi , trong lớp thầy còn vài em vịt học toán B nhưng đi thi văn vật A cũng có tham gia !!! 

Cô Vượng dạy Việt Văn , có giờ trần thuyết  năm đệ lục;  không bao giờ BM quên được. 
Các bạn bên Mỹ , khởi xướng chương trình gởi quà Tết giúp cho Cô là người đầu tiên ai ai cũng nghĩ đến & rất thương quý Cô. 
Cô Uyên dạy Toán 
Cô Kim Dung dạy Lý Hoá . Cô rất xinh đẹp & dễ thương, có nét giống phu nhân tổng thống Mỹ: Jackie Kennedy . 

Cô Hoà làm Giám Thì buổi chiều 
Cô Mỹ, làm giám thị buổi sáng người miền Nam hay búi tóc . 
Cô bị em Trần thị Ngà, Oanh Chu, Hà & vài em vịt nữa ..  giờ chơi .. đột nhập vào văn phòng của cô , ở góc có nhìn ra sân trước cổng trường .. 
vờ vịt tán tỉnh Cô … Các em chôm chỉa 1 chiếc dép và gói xôi của Cô , mang về lớp , dấu trên cánh quạt máy . 
Cô biết  vịt quậy lớp B , nhưng không tìm ra được , cứ thế mang 1 chiếc dép đi cà nhắc . 
Đến giờ Thầy Minh, vì thầy hay vặn quạt máy khi vừa vô lớp,  các thứ bay ngay xuống đất.  
Thầy nhặt lên để trên bàn,  không hỏi 1 lời & chỉ giảng bài  !! Các em ngồi học chăm chỉ & xanh gân 😅 
Em vịt quậy Oanh Chu sẽ kể tiếp nhiều hơn !!! 

Kim Thanh Vẫn sai.Cô Túy Nga dạy toán đệ lục A 2...Thanh còn nhớ bài các trường hợp bằng nhau của tam giác 

Đệ ngũ A2. là cô Uyên dạy toán .Nhớ thi Học kỳ 1 điểm thấp, cô cộng thêm mỗi em 3 điểm... Cô bảo sang học kỳ 2 sẽ trừ lại...nhưng cô đâu có trừ đâu....


Các Thầy Cô dạy TV63-70 (Phần 3)

 Xin ghi tiếp lại e-mail của các bạn đã cho thêm các chi tiết qua đề tài 'Các Thầy Cô dạy TV63-70'

3/16

Thanh nhớ có Cô Ngọ và Dần là hai chị em và hình như hai Cô được đặt tên theo năm sinh . Cô Ngọ là Chị của Cô Dần . Thanh nhớ mang máng Cô Ngọ dậy Sử Địa , và Cô Ngọ sau nầy ở Pháp và đưa mất rồi . Ngoài ra còn có Cô Phi Phượng cũng dậy Sử Địa nhưng không nhớ ở lớp nào . Cô Phi Phượng người gầy da ngăm đen nhưng rất duyên dáng , hiện ở Houston nhưng không có liên lạc với bên ngoài vì Cô lớn tuổi có con cái chăm lo cho Cô!. Thanh góp thêm ý , các bạn có nhớ không ?
Thân Ái .
Kristy Thanh .

3/16  
NHƯ MAI

Bạch Mai, Kim Thanh, Minh Tâm, Phương Hà, Kim Đoan, Nguyệt Minh và các bạn quý mến,

Mặc dù trí nhớ đã khá hao mòn nhưng Như Mai cũng xin thêm thắt một vải chi tiết mà Mai còn nhớ được như sau:

-  Năm đệ Thất 1963 -1964 vì vụ đảo chánh nên việc học của tụi minh có bị gián đoạn một thời gian, cũng như năm đệ Tam 1967-1968, vì biến cố Tết Mậu Thân tụi mình cũng ở nhà ít lâu mới được đi học lại.

- Tụi mình tuy học cùng một cấp lớp nhưng đôi khi lại học với những thầy cô khác nhau.  Như năm đệ thất, lớp A3 tui Mai học Việt văn với Cô Bích Thanh, phu nhân của GS Đinh Từ Thức, chứ không học với cô Kim Thi hay cô Tuyết Nga như lớp A1 của Mình Tâm. 

Đệ Tứ A3 Mai nhớ học Việt văn với cô Liên Dung.  Cuối năm, ngồi ký học bạ, cô bảo “ Các cô bây giờ lớn rồi, trông không giống như hình lúc thi vào lớp đệ Thất, về chụp hình mới mà dán vào học bạ đi.”  Rồi cô cũng bảo riêng Mai, “ lấy riềng giã với rau răm rồi ngâm rượu bôi cho hết long ben đi, con gái lớn rồi sao lại để mặt mũi như thế”.  

Đệ Tam C và đệ Nhị C cô Vũ Tố Lan vừa là giáo sư hướng dẫn vừa dạy tụi Mai Việt văn. Bạn Kim Cúc tuy học lớp Nhị B nhưng quyền luyến cô lắm, hay rủ Mai tới thăm gia đình cô ở căn nhà dưới chân cầu Công Lý.  Cho tới mấy năm gần đây Mai vẫn thường liên lạc với cô Tố Lan.  Có lần tình cờ cô trò gặp lại nhau tại khoá tu của thầy Hằng Trường bên Maryland, cả hai đều khóc sướt mướt ngay tại hội trường đông đúc những người là người.  Lúc đó chồng cô vừa mất chưa tới 49 ngày còn ông Hùng nhà Mai cũng qua đời trước đó không lâu.  Đáng buồn là mùa Xuân 2022 Mai sang Virginia, ghé thăm cô thì thấy cô đã bắt đầu nhớ nhớ, quên quên chứ không còn tinh anh như ngày xưa nữa.  Thời gian, tuổi tác chẳng từ một ai, phải không các bạn?

Môn Anh văn năm đệ Thất, lớp A3 tụi Mai học với cô Hoàng Ngọc Thành ( sau này nghe Mỹ Điệp bên Úc kể chuyện sau 75 dạy chung trường với cô, nên mới biết tên thời con gái của cô Thành là Thân thị Nhân Đức), đệ Lục học AV với cô Cao Hương, đệ Ngũ với cô Phúc, đệ Tứ học cô nào Mai không nhớ, đệ Tam học cô Thanh, đệ Nhị học cô Dần.  Cô Dần là em cô Ngọ, cô Ngọ dậy lớp Lục A 3 tụi Mai môn Sử Địa. Cô Lệ Tuyết thì dậy Sử Điạ lớp Tứ A 3. 

Mai nhớ mãi một kỷ niệm vui vui với cô Lệ Tuyết, sau này, nhân dịp cô sang Montreal chơi, Mai đã nhắc lại chuyện xưa cho cô nghe. Kỳ thi lục cá nguyệt năm đệ Tứ, Trần thị Xuân Thu vốn thông minh, đọc bài, hiểu, tóm tắt ý chính nên trả lời bài thi vỏn vẹn trong một tờ giấy careau 4 trang.  Còn Mai học như con vẹt, viết đúng từng câu từng chữ trong sách vở nên bài thi của Mai dài kín 2 tờ giấy careau tức là 8 trang.  Thế mà khi cô phát bài ra, Xuân Thu với Mai đều được 19 điểm như nhau.  Mai ấm ức quá, lên khiếu nại với cô, “ Thưa Cô, bài em viết dài 8 trang, bài bạn Thu có 4 trang thôi, sao lại đồng hạng ạ?”  Các bạn thấy con nít có ngây ngô không ?

Năm đệ Nhị C tụi Mai học Vạn vật với cô Oanh, Toán với thầy Lân, Công dân với cô Hồng và Pháp văn với cô Ánh.  Giáo sư hoàn toàn không giống với giáo sư lớp Nhị B của Bạch Mai hay Nhị A1 của Mình Tâm. 
Đến năm đệ Nhất thì bộ Giáo dục bắt đầu thay đổi cách gọi, lớp đệ Thất thành lớp 6, đệ Lục thành lớp 7…thành ra tụi mình thành học sinh lớp 12 chứ không phải là lớp đệ Nhất nữa.

- Năm đệ Thất, cuối năm học, 15 em đứng đầu lớp Thất A3 trong đó có Bạch Mai, Ngô Hồng Châu được lên lớp đệ Lục A2, còn 15 em đứng cuối lớp A3 thì lên lớp đệ Lục A4.  Tương tự, 15 em đứng đầu lớp Thất A 4 như Huỳnh thị Ngọc Bích, Xuân Thu, Kim Cúc , Minh Khiết…từ Thất A4 lên Lục A3.  Nhưng bắt đầu năm tụi mình học đệ Lục thì việc này chấm dứt, ai học lớp nào thì học luôn lớp đó cho tới năm đệ Tứ.

- Mai nghĩ từ đệ Thất đến đệ Tứ bên Anh văn tụi mình có đủ từ lớp A1 tới A4, còn bên Pháp văn Mai không rõ P3 sau này có ghép chung với P1, P2 không.
- Ban C tụi Mai học chuyên về Văn chương và Ngoại ngữ ( cả hai thứ tiếng Anh và Pháp), sang đệ Nhất thì thêm môn Triết (gồm Tâm Lý, Đạo Đức và Luận lý).
- Năm đệ Tam, các bạn Pháp văn vì không có đủ sĩ số để mở Tam C hay Tam B Pháp văn nên theo ban B như Minh Quang thì bị chuyển sang Gia Long, còn theo ban C thi qua Lê Văn Duyệt học, trong số đó có Nguyễn Minh Thu, Nguyễn Thục Thúy Nga. Còn em Minh  Quang thì đổi sang học ban A để ở lại TV.

- Lớp Tam C Anh văn của Nguyệt Minh, Di Linh, Như Mai, Trà Linh, Đặng Thị Liễu, Vũ thị An…thì thu nhận thêm học sinh các trường khác chuyển về như Trần thị Hương, Lý thị Phượng, Kim Dung, Mai Phương từ Mạc Đĩnh Chi.  Sau Tết Mậu Thân có thêm Hồ Minh Hoa, Ngọc Anh, …từ Huế vào học.  
Năm đệ Nhị thì có một số bạn trường Pháp xin chuyển qua trường Việt, chung lớp C với tụi Mai có Chữ Ngọc Mai Anh, Vũ thị Gấm. Kỳ thi Tú Tài I lớp C tụi em cũng đậu gần hết lớp nhưng vẫn không đủ học sinh để mở lớp Nhất C Anh văn.  Vì vậy, tụi Mai bị chia làm hai, ai ở SG ( như NMinh, DLinh, Trà Linh, Như Mai ) thi qua Gia Long học, còn ai ở Gia Đinh thì qua Lê Văn Duyệt.
Lúc đó tụi Mai khóc hết nước mắt, vào văn phòng bà hiệu trưởng liên tục năn ni, van xin cho được ở lại TV mà học nhưng không được.  Ngày tựu trường đành ôm cặp sang Gia  Long, ngấm ngầm phản đối bằng cách không đeo cái huy hiệu Gia Long trên mép áo.

Đã thế giáo sư hướng dẫn lớp 12 C1 Gia Long, ngay ngày đầu tiên, không biết trước đó có thù hằn gì với dân TV hay không mà buông lời phê bình độc địa, nào là “ cứ như dân đứng đường, ăn mặc hở hang, v..v..” nên 15 đứa TV tụi em tức quá, hết giờ học, kéo nhau lên văn phòng bà hiệu trưởng GL vừa khóc vừa xin gởi trả chúng em về TV.  Cuối cùng chính bà Hiệu trưởng GL đứng ra dàn xếp tụi em mới chịu trở vào lớp 12C1 mà học.  Cũng vì chuyện đó mà 15 đứa TV ban C lạc loài bên GL thân thiết với nhau hơn, học hành chăm chỉ hơn cho khỏi hổ danh con cháu hai Bà.
Ít hàng chia sẻ cùng các bạn, nếu nhớ thêm điều gì Như Mai sẽ kể tiếp nha.
Mến,
Như Mai


3/17 

Xin yêu cầu giúp ý sửa chữa dùm BM nha . 

Khai học vào Trưng Vuơng   Niên khóa 1963 -1964 tháng 9  . 
Đệ Thất có 7 lớp: A1, A2, A3, A4 & P1,P2, P3 .

Từ 1964 -1965  Đệ Lục , 1965 - 1966  Đệ Ngũ, 1966 - 1967  Đệ Tứ ,   tụi mình được xếp lại 5 lớp thôi :  A1, A2, A3 & P1  , P2 
Bộ quốc gia giáo dục bãi bỏ kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

1967 - 1968 Đệ Tam , Học chập chờn vì chiến tranh Tết Mậu Thân. 
Năm này đặc biệt nữa là các mợ vịt chính thức phải  chọn vào Ban A ( sinh học)  hay là ban B ( Toán & khoa học) , hay là Ban C ( Văn chương & triết học) .
Lớp học lại đổi A1, A2 (2 lớp) , AP1, AP2  (2 lớp) & B (1 lớp ) . 
Các em vịt ban  C bị chuyễn sang trường Gia Long , khiếu nại và khóc lụt lội văn phòng Cô Tổng Nguyệt Minh ( trong đó có em Nguyệt Minh , MinhHãi.. Minh Quang (?) . 
Về sau này có một số mợ vịt về trở lại TV & theo học ban A … các mợ nào còn nhớ ngày xưa lặn lội ngược Gia Long  , viết bài chia sẻ chuyện nha. 

1968-1969 Đệ Nhị , vẫn 5 lớp & phải thi Tú Tài 1 . Ban B chỉ có 30 + em , thi đậu hết,  Thầy Cô mừng lắm & vịt được tiếp tục ở lại trường TV 

1969-1970 Ðệ Nhất thi Tú Tài 2 & rời ra  nhà trường TV .. cho dù đậu hay rớt !!
 
Các môn học : 
Việt Văn, Triết, Tâm Lý Học 
Anh Văn , Pháp Văn
Toán, Lý Hoá 
Vạn Vật ( Sinh học) 
Sử Địa 
Công dân 
Nữ Công 
Nhạc 
Vẽ
Thể Dục ( hình như ở sân vận động.. buổi chiều?)

Giờ đi học : thứ hai đến thứ bẩy từ 7AM - 12 PM (?? ) BM xin lỗi vì không nhớ rõ 

3/18
P.HÀ


Các mợ Vịt ơi,

Các mợ Vịt Minh Tâm, Bạch Mai, Mỹ Điệp và các mợ thật là có trí nhớ phi thường, em xin bái phục bái phục.


Em thi đậu vào đệ thất P3, sang đến đệ lục thì được  lên P2 cho đến đệ nhất Ap2.

Hình như lên đến đệ ngũ hay đệ từ thì ban Pháp văn dồn lại chỉ còn 2 lớp là AP1 và AP2 thôi.


Ban Pháp văn và Anh văn các môn học cũng khác các giáo sư giảng dạy, tuy là cùng 1 giáo sư mà có thể dạy nhiều môn khác nhau.


PHà nhớ là bên Pháp Văn tụi em 

Cô Tuyết dạy Pháp Văn năm đệ thất.

Đệ lục thì cô Tường Vân dạy Việt Văn.

Cô Bình Minh dạy Công dân. 

Má Thục dạy nữ công


Cô Hiền dạy thể dục bắt leo dây , nhảy xa. Có lần em leo dây xong lúc tuột xuống cả 2 bàn tay bị xước hết da, đau rát vì cọ sát vào sợi dây thừng.

Kim Đoan luôn được điểm cao trong môn nhảy xa và chạy vì ẻm cao hihi...Nhớ hồi thi Tú Tài ai thi thêm môn thể dục thì được thêm điểm cộng vào điểm thi thì phải ?


Lên đệ ngũ đệ tứ thì có Cô Xuân Đào, cô Phương Tần dạy Lý Hóa. Cô Liên Dung, Cô Kim Thi, Cô Tố Lan cũng dạy tụi em môn Công dân.

Em sợ nhất giờ học với cô Diệu Linh, Hihi...


PHà còn nhớ cô Túy Nga có dạy tụi em môn Việt văn, sau mỗi giờ dạy cô cho đọc truyện Chim hót trong lồng của nhà văn Nhật Tiến cho cả lớp cùng nghe 

( không biết có phài là cô Túy Nga dạy các bạn bên Anh Văn không )


Lên đệ nhị thì có cô Lệ Khanh dạy Việt Văn, Cô Đoan dạy Pháp Văn, Cô Chi Hương dạy Vạn Vật. Thầy Khôi dạy Toán.


Đến đệ nhất thì cô Bảo dạy Việt Văn, cô Hoàng Mỹ Hiền , cô Gia Lai dạy Triết, Thầy Đoàn, Thầy Thơ , Thấy Phi Long dạy Vạn Vật, Lý Hóa và Toàn


Em thấy đệ nhất là năm vui và nhớ nhất vì lúc đó tụi mình cũng đã lớn đủ để biết điệu điệu, biết làm bộ kiêu kiêu chút chút khi được mấy "ảnh" trồng cây si,  hihi. PHà nhớ là cứ hay lấy tam đoạn luận học được trong môn Luận lý học ra lòe mấy " ảnh'" như vầy cho vui.


Nữ sinh Trưng Vương đẹp, dễ thương

Tui là nữ sinh Trưng Vương

Nên là tui dễ thương   haha... 


Ui ! Nhắc lại thì sao cứ như thấy hình ảnh tụi mình xinh xắn, dễ thương như những cô nữ sinh TV  tuổi 18 duyên dáng ngày nào.!

Ước gì cho mình được turn back time , sống lại 1 năm của thời 1970 ngày đó !🩷🩷🩷

Phà còn giữ được cái này , gửi cho các mợ xem cho vui.

Thân mến.

Phà.


Bạch Mai

Các mợ vịt rất rất quý mến của Bạch Mai ơi à 

Mấy hôm nay được thưởng thức những mẫu chuyện trong lớp của Minhtam, KimÐoan, KimThanh, PhươngHà, MỹĐiệp, MỹNga, NămDiệp (5DaoGăm),   KristyThanh ( Thanh mắt nhung) … vừa cười khúc khích vừa phục các mợ bé một tẹo mà phá nghịch như…😅 !! 

Em vịt BM nhớ là:  Mỗi ngày tụi mình học 5 môn . Tuy nhiên tới Đệ Nhị & Đệ nhất hình như vì chuẩn bị để thi Tú Tài nên những môn chánh như Vạn Vật Ban (A & AP) ,  Toán Lý Hoá ( ban B ) có nhiều giờ giảng hơn .

Lớp buổi sáng: 
Vô học lúc 7AM ,
 bọn mình có giờ ra chơi mua ăn quà vặt như đu đủ khô bò, bò bía , ô mai … ở trước cổng trường hay gần chỗ đậu xe gắn máy , trong quán của Chị Nụ và Hoàng Tử Chột 🙏
12 giờ tan học …
Sau đó những năm phải  Thi , mình còn ghi danh đi học thêm Toán hay sinh ngữ ở trường ngoài như Hưng Đạo, Nguyễn Văn Đột , Mission Centre culturelle , Hội Việt-Mỹ ..

Lớp Buổi Chiều :

Từ 1 PM - 5 PM hình như chỉ có năm đệ ngũ  & đệ Tam   (??!!) , cũng có giờ ra chơi . 

BM nhớ năm đệ Thất , mình còn có mục  viết thư cho các chi đệ ngũ, nhét vào kẹt bàn , kết tình Chị - Em . 
BM bị bạn vịt tên Thanh ngồi kế bên chơi ác, viết thư chưởi chị làm bị mắng oan . Thanh học đến năm đệ ngũ thì ra làm sở Mỹ . Hình như từ đệ ngũ đến đệ Tam, nhiều em vịt (tuổi 15,16 ) phải đi làm, lấy chồng nên bỏ cuộc chơi . 

Năm 1963 , 
tụi mình vừa nhập học tháng chín, lớp tuổi 12,13 như vào giấc mộng dài trắng tinh, hưởng thái bình trong trường TV .
Ngoài xã hội, tháng 11 , thay đổi bạo lực ,  Tổng Thống Việt - Ngô Đình Diệm & của Mỹ -John Kennedy ( phu nhân Jackie Kennedy ) bị ám sát. Bọn BM nhớ là mình được xem phim về TT Mỹ John Kennedy như anh hùng, nhưng chẳng biết tí gì về TT Việt Nam& báo chí chê bài bác Ông Diệm như một tội phạm!! 

Thân mến 
Còn tiếp