Apr 10, 2018

ÂM VỊ TIẾNG VIỆT - Bài khảo cứu của Giáo sư Đoàn Văn Phi Long



Lời giới thiệu : Giáo Sư Đoàn văn Phi Long là giáo sư dạy Toán tại trường Trưng Vương trước 1975. Sau khi định cư tại Úc song song với việc dạy Toán cho nhiều thế hệ học sinh Việt tại gia, từ năm 1987 Thầy còn bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu về Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Đây là một chương trong khoảng 30 chương của " Nguồn gốc dân tộc Việt Nam". 

Đặc san TV6370 xin cám ơn Thầy Đoàn văn Phi Long đã gửi bài cho, và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn TV và độc giả khắp mọi nơi .



ÂM VỊ TIẾNG VIỆT

Gs.Đoàn Văn Phi Long


Một trong những phương cách hữu hiệu để tìm nguồn gốc tiếng Việt là xác định được ngữ hệ và các cấu tạo cơ bản của tiếng Việt. Các công trình nghiên cứu tiếng Việt từ xưa chỉ trông cậy vào các học giả Tây phương, nhưng hiện nay họ ít nghiên cứu tiếng Việt vì có thể họ cho rằng người Việt có đầy đủ khả năng và đã khảo sát kỹ càng tiếng Việt.
Thực tế thì trái lại rất ít người Việt chịu khó nghiên cứu nguồn gốc tiếng Việt, nhất là cách cấu tạo cơ bản, vì ngôn học là môn học rất khó hiểu, khô khan, không lôi cuốn được người đọc. Còn nếu có học giả khảo cứu thì thường đưa ra nhiều kết luận không rõ ràng, không phù hợp với các định nghĩa. Bài này có mục đích minh định lại các phần cơ bản nhất của ngôn ngữ, đó là âm vị mà số học giả Việt khảo cứu tiếng Việt còn ít hơn cả người Trung Hoa.

Sở dĩ có bài này là do cách nay một vài năm có đọc trên Internet nước ngoài đăng tải một phát biểu của tiến sĩ ngôn ngữ Hà Nội cho rằng tiếng Việt có 36 âm vị và từ đó đến nay không ai thắc mắc gì cả. Nhận định của nhà ngôn ngữ đã làm tác giả ngạc nhiên vì nếu căn cứ theo nhiều tài liệu Tây phương thì số âm vị này quá ít nếu đem so với tiếng Khmer và Thái. Tiếng Việt là tổng hợp của nhiều thứ tiếng, trong số đó có cả tiếng Mon-Khmer và Thái, nên không thể nào có số âm vị quá khiêm nhường như thế.
Cuốn Thai phrase book & dictionary chi thấy tiếng Thái có 74 âm vị gồm 21 phụ âm, 48 nguyên âm và 5 thanh. Cuốn sách hướng dẫn du lịch Cambuchia cho rằng tiếng Khmer có 57 âm vị gồm 33 phụ âm và 24 nguyên âm. (TK 1)

Ngay cả tiếng Anh tuy là ngôn ngữ đa âm tiết mà cũng có 43 âm vị gồm 13 nguyên âm và 30 phụ âm theo bảng Phoneme Codes, International Phonetic Alphabet (IPA). (TK 2)
Một tác giả khác cho tiếng Anh có 40 âm vị. Vì âm vị rất khó hiểu và khó phân tích nên ngay cả các nhà ngôn ngữ học Tây phương cũng không nhất trí về con số âm vị tiếng Anh, huống hồ là ta.
Vốn không biết một tí gí về ngôn ngữ học và cái ông Tiến sĩ này lại chỉ phát biểu suông, không đưa ra giải thích hay nêu ra bảng liệt kê các âm vị nên không rõ ông ông ta đếm theo kiểu nào để ta có thể phân tích và bàn luận
‘’Cô có biết đã lái hơn 100 cây số một giờ không?”, cảnh sát công lộ hỏi.
“Không thể được”, cô Ký Điệu chống chế.”Tôi chỉ mới rời nhà có hai mươi phút mà”
Như vậy là có ba loại người trong xã hội - người biết đếm và người không biết đếm.
Tuy không có một chút đầu mối nào nhưng muốn tìm hiểu thì không phải là không có cách. Cách dễ nhất là thăm dò những người có thẩm quyền về ngôn ngữ học coi họ có ý kiến như thế nào. 
Đi hỏi một Tiến sĩ ngôn ngữ học VN GS Bửu Khải là tiếng Việt có bao nhiêu âm vị thì được trả lời là có 36, y chang cái ông Hà Nội. Lại hỏi thêm ‘’oi’’trong oi ả có bao nhiêu âm vị thì trả lời là 2. Câu trả lời này cho thấy có một sự khác biệt với ý niệm thông thường của các nhà ngữ học Tây phương. Số âm vị quá ít là do sự đồng hoá âm vị với chữ cái, nghĩa là đập vỡ các âm vị phức tạp thành từng mảnh vụn theo kiểu bắn phá nguyên tử bằng trung hòa tử, một điều mà Tây không làm.
Phương cách khác, không phải bằng cách tra cứu sách vỡ vì sách vở về âm vị tiếng Việt rất hiếm hoi, mà tìm kiếm Vietnamese phoneme trên Internet bằng máy rà tìm Goegle. Có nhiều trạm mạng về Chinese phoneme nhưng chỉ có một bài của ngừơi Việt về âm vị VN. 

Vài bài của người Trung Hoa viết về âm vị tiếng Việt !!!
Bài của tác giả Taiffalo thì khá rõ ràng gồm có bốn bài, nghiên cứu và phân tích âm vị tiếng Việt thuộc, tác giả cũng cho rằng tiếng Việt phát âm miền Bắc gồm có 36 âm vị và phân chia như sau :
19 phụ âm
b , /c/ chết , /d/ (đi), /f/ phở, g , h , /k/ (C, K, Q như quít kia cà), l , m, n , nh , /ng/ (nghi ngờ),
p (pin), /s/ (cả x lẫn s như xứ sở), t, /th/ , /v/, /x / (khí), /z / (gi và r như ra gì)
11 nguyên âm
i /i/ lính biết, đi chịu
ê /e/ ếch hiểu hết
ư / / tư người
ơ /F/ chợ sớm
u /u/ chụp chum
ô /o/ tôi buồn quốc hôm
e /E/ meo
o / / ngon
a /a/ bài làm
ă /ce/ ăn
ay /A/ may phay
Tổng cộng có 36 âm vị = 6 thanh+19 phụ âm + 11 nguyên âm
Cuối cùng rồi cũng tìm ra được đâu là âm vị tiếng Việt. Như vậy là bất quá tam, cả ba học giả gạo cội đều nhất trí về cùng con số 36. Tuy thế nhưng xác suất đúng có thể không cao vì chưa được chọn lựa một cách ngẫu nhiên vì có thể cả ba học cùng một sách vở hay thuộc cùng một trường phái cổ điển, không coi các nhị trùng âm và tam trùng âm là âm vị.
Họ đồng nghĩa âm vị với chữ cái, cộng thêm các dấu ă,â,ô,ơ,ư,ê và 6 thanh thành 36 âm vị.
Phải chăng các nhà ngôn ngữ này có nhận định đúng hơn các nhà ngôn ngữ học Tây phương?
Bài duy nhất của người Việt trên Internet không đề xuất xứ cho rằng tiếng Việt miền Bắc có 44 âm vị gồm có 6 thanh, 22 phụ âm (không có r, tr,s, giống như nhận định của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hoà nói ở dưới), 13 nguyên âm, 3 nhị trùng âm (có nhị trùng âm nhưng quá ít). Vì phần liệt kê bị để trắng nhách không nhìn thấy gì cả nên cũng không có cách gì để phê phán.
Muốn biết các nhận định của người Trung Hoa về ngôn ngữ Việt có chính xác hay không, ta hãy xem người Trung Hoa khảo cứu âm vị tiếng Trung Hoa như thế nào để thẩm định khả năng của họ.

Âm vị tiếng Hán
Một bài khảo cứu rất công phu của Chinese Accademy of Sciences ở Beijing lốt xuống (download) từ Internet cho rằng
-tiếng Trung Hoa có 140 âm vị với thanh sắc (Chinese has 140 phonemes considering tone)
-Tiếng Trung Hoa có 405 âm tiết không thanh sắc (Chinese has 405 syllables without tone (C+V or C+V+Nasal).
-Tiếng Trung Hoa có số âm tiết với thanh sắc khoảng 1300 (Chinese has a limited number of syllables about 1,300 considering tone)
Viện ngôn ngữ BK có nhận định sai lầm là sát nhập thanh sắc vào âm vị chớ không coi thanh sắc là âm vị (Xem phần thanh sắc ở dưới). Vì số âm vị được nhân với 5 thanh nên tổng số âm vị trở thành 140 âm vị, đứng vị trí number one trên thế giới, qua mặt cả tiếng Việt Thái Khmer! Điều này khó có thể là một hiện thực.
Các nhà ngôn ngữ học Trung Hoa định nghĩa âm vị khác, mỗi người một ý. Một học giả khác cho rằng tiếng Trung Hoa có 45 âm vị như sau :
5 thanh không sắc hỏi huyền nặng
25 phụ âm:
b p m f d t n l g k h j q x zh ch sh r x c s @ (th) y w yu
15 nguyên âm:
a o/e ai ei/ie ao ou an en ang eng ong I u u” er
Tác giả coi nhị trùng âm là âm vị. Có sự nhầm lẫn là các âm an, en, ang, eng, ong không phải là âm vị mà là âm tiết. Ang là một âm tiết gồm có hai âm vị a và ng. Như vậy tiếng Trung Hoa chỉ có 10 nguyên âm.
Thay vì có 25 + 15 + 5 = 45 âm vị tiếng Trung Hoa có tổng số âm vị là 25 phụ âm + 1 (ng) + 10 nguyên âm + 5 thanh = 41 âm vị, ở vị trí trung bình.
Con số 41 cũng còn nhiều hơn số âm vị tiếng Việt, một điều khó có thể xãy ra vì tiếng Việt có số âm tiết gắp 20 lần tiếng Hán nên không thể nào có số âm vị ít hơn được.
Muốn biết sự thật như thế nào thì không còn cách nào khác hơn là phải xem xét lại thật cặn kẽ các định nghĩa về nguyên âm và âm vị.

Các định nghĩa cơ bản
Các định nghĩa dưới đây về phoneme, syllable, word được phối hợp và điều chỉnh lại từ nhiều tự điển tiếng Anh. Ngay cả các định nghĩa trích từ các tự điển to tổ bố này cũng không thật chặt chẽ, đâu ra đấy mà thường là để lững lơ như con cá vàng, ai hiểu sao thì hiểu và do đó dễ gây ra ngộ nhận. Sẽ đưa ra định nghĩa
Nguyên âm. Sau đây là vài định nghĩa của nguyên âm từ nhiều tự điển:
*Một đơn vị nhỏ nhất của lời nói có thể làm thành một tiết.
*Một đơn vị nhỏ nhất của lời nói có thể tự thành hình bằng một luồng hơi thở liên tục và cũng có thể, tự mình, làm thành một tiết.
*Tiếng nói tạo bởi sự rung động của dây phát âm nhưng không có sự cọ sát nghe được.
Tóm lại ‘’Nguyên âm là đơn vị nhỏ nhất của lời nói, phát âm liên tục, có thể tự làm thành một tiết’’
Từ oai có bao nhiêu nguyên âm? Các nhà ngôn ngữ học Việt và Trung Hoa cho là có ba nguyên âm là o, a và i nhưng theo định nghĩa trên thì chỉ có một nguyên âm duy nhất vì từ oai phát âm liên tục chớ không bị đứt đọan.
Phụ âm còn được gọi là tử âm (consonant, có nghĩa là hoà hợp tiếng), một tiếng khi thành lập một tiết phải kết hợp với nguyên âm nghĩa là tự một mình nó không thể tạo ra một âm được như các âm t, m, k.
Bán âm là âm nằm giữa nguyên âm và phụ âm nghĩa là phát âm như nguyên âm nhưng phải đi kèm theo nguyên âm. Tiếng Anh có hai bán âm /j/ ( phát âm giống y, như young hay D nhẹ miền Nam) và /w/ (phát âm gần với giống u, như with). 
Tiếng Pháp có ba bán âm là /j/, w và /hui/ như trong huit (tám).
Tiếng Việt có bán âm w như quà (wà, miền Nam) và Y ký hiệu là /j/ đọc như D nhẹ.
Một cán bộ nói joke (dốc) với dân miền Nam 
“Nông trường ở miền Bắc rất rộng, ruộng của công tử Bạc Liêu đem so thì chẳng thắm vào đâu. Công nhân thường thức dậy vào lúc 5 giờ sáng, lái xe cả ngày, tới chiều tối may ra mới đi hết nông trường”
Một nông dân miền Nam suy nghĩ hồi lâu rồi trả lời:”Chúng tôi đôi khi cũng có một chiec xe như thế”
Nguyên âm kép (Nhị trùng âm, diphthong): còn gọi là nguyên âm lướt tức là gliding vowel, một âm thay đổi phẩm chất trong một tiết đơn độc. Âm bắt đầu từ một nguyên âm và chuyển sang một nguyên âm khác. Thí dụ như ấy, oi, hao, biu, hia, toát, ai, tâu, tương. hay tiếng Anh eye (ai).
Nguyên âm ba (tam trùng âm, triphthong) như khuya, tươi, tuyên hay hour (aʊə)
Tiếp tố (Affixation) : prefix tiền tố, suffix hậu tố. Tiếng Việt không có tiếp tố nên ta khỏi mất công khảo cứu.

Âm vị (phoneme): Đây là một trong những từ khó định nghĩa cho thật chặt chẽ và rõ ràng.
Nhiều tự điển Anh ngữ có một định nghĩa khác nhau như dưới đây
*Đơn vị nhỏ nhất của một ngôn ngữ có thể truyền đạt một ý nghĩa cá biệt, như m của mat và b của bat.
*Đơn vị của tiếng nói cá biệt từ đó âm tiết được thành hình.
*Âm vị là tiếng nhỏ nhất (smallest sound) trong ngôn ngữ.
*Đơn vị âm thanh không thể phân tích thành đơn vị nhỏ hơn (mà không làm thay đổi nghĩa của từ.
*Đơn vị nhỏ nhất của tiếng nói trong một ngôn ngữ có thể làm phân biệt hai từ như pan và ban.
*Âm vị là đơn vị nhỏ nhất một đơn vị cơ bản và lý thuyết của tiếng nói của âm có thể làm thay đổi nghĩa của một từ. Tùy theo ngôn ngữ và tùy theo chữ cái, âm vị có thể được viết bằng một chữ cái, có nhiều trường hợp ngoại lệ (nhất là trong tiếng Anh).
*Đơn vị nhỏ nhất của âm trong một ngôn ngữ, và là thành phần cấu tạo tiết, như đơn vị ba thành phần (phụ âm, nguyên âm, phụ âm) mà sự thay đổi sẽ làm thay đổi nghĩa của từ (word), như làm phân biệt hai từ ban và van, chỉ khác nhau bởi hai nguyên âm b và v, và được gọi là âm vị,và ban và bin, chỉ khác nhau ở nguyên âm /a/ và /i/, cũng được gọi là âm vị, tiếng Anh bait là một đơn âm có ba âm vị b, ai (ghi âm là ei) và t.
Vài định nghĩa để lơ lững ai hiểu sao cũng được nên nhiều học giả, ngay cả các tiến sĩ ngôn ngữ học, cũng bị nhầm lẫn để rồi đem phân tích các trùng âm thành nhiều nguyên cơ bản và kết luận tiếng Việt có 36 âm vị và tiếng Tàu có 140 âm vị.
Âm vị được định nghĩa tổng hợp lại như sau:
‘’Âm vị là một đơn vị nhỏ nhất và liên tục của tiếng nói, làm phân biệt các từ, từ đó tiết được thành lập’’

Trùng âm có phải là âm vị hay không?
Cái mấu chốt của vấn đề là ở chỗ các nhị và tam trùng âm là một âm vị hay tập hợp nhiều âm vị.
Trường phái cổ điển không công nhận trùng âm là âm vị.
Trường phái Tây phương coi mỗi trùng âm là một âm vị.
Quan niệm cổ điển không đúng vì các lý do sau đây :
-Nếu chúng ta đã khẳng định các phụ âm kép đầu từ /th/, /ng/, /nh/, /kh/ là âm vị thì sẽ không nhất quán nếu chúng ta không công nhận các trùng âm là âm vị. Phụ âm và nguyên âm đều có tác động như nhau trong sự thành lập âm vị.
-Mỗi âm vị phải được phát âm một cách liên tục, nói khác đi âm vị không thể đập vỡ ra cho nhỏ hơn nữa mà không làm thay đổi nghĩa của từ. Thí dụ âm Ía không thể phân tích thành hai âm Í và a vì như thế sẽ có nghĩa khác như câu
“Cô Thúy uể oải tới Chú Ía hát hò” nếu tách rời các trùng âm thì sẽ có nghĩa hoàn toàn khác hẳn là
“Cô Thú-y ủ-ê o ai ? Tới Chú, í-a hát hò”
-Bây giờ ta hãy dùng lý luận để xem các trùng âm có vị trí như thế nào trong văn phạm. Lấy thí dụ âm ‘oai’ trong từ ngoái là từ, âm tiết hay âm vị?
Rõ ràng oai không phải là từ vì ngoái mới là từ.oai cũng không phải là âm tiết vì ngoái mới là âm tiết.
Còn nếu ta phân tách thành ngó-ai thì từ sẽ có hai âm tiết ngó và ai. Điều này mâu thuẩn với sự thật không chối cải được là ngoái chỉ có một âm tiết. Đó là chưa kể phân tích như thế sẽ làm thay đổi nghĩa của từ, điều này không được làm. 
Không phải là từ, không phải là âm tiết, cũng không thể phân tích ra nhỏ hơn nên oai phải là âm vị, không còn con đường nào khác để chọn lựa.
-Tách rời các trùng âm là trái với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Tây phương khi nghiên cứu ngôn ngữ Á Châu. Các nguyên âm ghép sau đây đều được coi là vowel hay phoneme : ai, ao, ưa, ia, iu, uay, nguyên âm dài như uu trong tiếng Thái hay ai,ao,ay,oa trong tiếng Khmer hoặc ai,au trong tiếng Indonesia.
Tách rời các trùng âm sẽ làm thay đổi ý nghĩa của một câu nói, tương tự như cách chấm câu.
Một Giáo thụ (Professor) ngôn ngữ học viết một số từ lên bảng
‘’Đàn bà không có đàn ông là con số không’’ rồi ra lệnh cho sinh viên chấm câu cho đúng.
Con trai viết :’’Đàn bà, không có đàn ông, là con số không’’
Con gái viết :’’Đàn bà không có, đàn ông là con số không’’
Đa hệ viết : ‘’Đàn bà không, có đàn ông, là con số không’’
-Cứ cho là các học giả Tây không rành ngôn ngữ Á Châu nên xếp sai các trùng âm vào âm vị đi nữa, nhưng tại sao bốn nhị trùng âm tiếng Anh, tương đương với bốn âm tiếng Việt, đều được đặt trong bảng âm vị ?
Thật vậy theo bảng Amercan English Phoneme Representation thì tiếng Anh có 40 âm vị phân chia ra như sau :
24 phụ âm
15 nguyên âm gồm có 11 nguyên âm đơn (monothongs), 4 nguyên kép (di  /aw/ trong bout, /ay/ trong bite, /yu/ trong butte hay tiu nguỷu, /oy/ trong boy) và 1 untressed âm /er/ như trong banana.
Nếu nhị trùng âm là âm vị thì đương nhiên các tam trùng âm trong tiếng Việt phải được coi là âm vị.
-Nhiều âm tuy ghi giống hệt nhau nhưng đọc khác nên số âm vị phải khác nhau. Thí dụ seatle, vì đọc là si- ê - thầu nên ea có hai âm vị e và a nhưng seat vì đọc là si:t nên ea chỉ có một âm vị.
Tùy theo ngôn ngữ và chữ cái, âm vị có thể được viết bằng một chữ cái nhưng cũng thường được viết bởi nhiều chữ cái như âm vị eau trong beauty tiếng Anh hay iêu trong biêu tiếng   Việt.
Không phải khi viết ba nguyên âm kề nhau như are là có ba âm vị. Âm are chỉ có một âm vị với ký hiệu aI. Bought chỉ có bốn âm vị là b, ao, t và dấu nhấn, gh không tính vào âm vị, theo một bộ tự điển tiếng Anh.

Thanh sắc: Thanh sắc được đo lường bằng tần số (Hz). Cái gì làm cho má khác với má, ma, mã, mả, mạ ? Đó là thanh sắc. Vì âm vị là một đơn vị âm thanh làm phân biệt các từ với nhau nên thanh sắc là âm vị chớ không phải là một thành phần của âm vị như viện ngôn ngữ học Bắc Kinh đã phân loại như trên.
Số thanh thay đổi từ 4 đến 8 như tiếng BK có 5 thanh, tiếng QĐ tự xưng là có 8 thanh, điều này cũng nên xét lại vì nhiều thanh chính người QĐ cũng không phân biệt được. Tương tự chỉ có 50% dân miền Bắc là phát âm đúng hỏi ngã theo một kết quả của một học giả khi phân tích âm thanh của một số người, 50% còn lại phát âm dấu hỏi gần như là dấu nặng, dấu nặng thành lơ lững, dấu ngã gần dấu sắc.
Muốn cho từ ngữ không lẫn lộn thì 5 thanh như tiếng Thái là mức tối đa (làm sao qua mặt được thanh sắc tiếng Thái, được coi như phát xuất ra thanh sắc tiếng Việt và Tàu?), nhiều hơn thì chữ tác đánh chữ tộ, chính ngay dân địa phương còn không phân biệt được thì nói gì đến những người thuộc miền khác, họ nghe không quen thì tưởng là bỏ dấu sai. Khi có nhiều sắc tộc cùng xữ dụng một ngôn ngữ thì ngôn ngữ sẽ từ từ trở nên giản dị, dễ hiểu, dễ phát âm như tiếng BK đã tự động đào thải nhiều âm phức tạp hay tiếng Sanscrit đã giản dị hóa để trở thành tiếng Ấn hiện tại.
Tiếng Mã Lai, Tây Tạng, Mon có âm điệu nằm giữa dấu nhấn và thanh nghĩa là khá quan trọng, không phải là không có cũng không sao như tiếng Anh.
Mẫu tự Latin: Tập hợp 26 âm vị cơ bản nhất gồm có 5 phụ âm a, e, i, o, u và 21 phụ âm, đủ để ghi tòan bộ âm vị tiếng Latin nhưng không đủ để ghi hết tất cả các âm vị của mọi ngôn ngữ.

Số âm vị không căn cứ vào số nguyên âm hay phụ âm. Tổng số âm vị của một ngôn ngữ có thể nhiều hơn hay ít hơn tổng số 26 chữ cái Latin. Một âm vị có thể dùng một hay nhiều chữ cái để tượng trưng.
Từ 26 chữ cái ta có thể ghi hằng trăm âm vị. Từ số âm vị ta có thể ghi hằng chục ngàn âm tiết. Tiếng Hán có 41 âm vị và 1347 âm tiết. Vì chữ Hán ghi âm tiết nên tối thiểu cũng phải có hằng ấy chữ tượng hình. Nhưng số từ cần thiết dùng trong văn hóa kỹ thuật cần ít nhất hằng chục ngàn từ nên không thể tránh được mỗi từ có rất nhiều từ đồng âm. Để tránh từ nọ đọ với từ kia họ phải sáng chế nhiều chữ Hán khác nhau cho mỗi từ đồng âm, vì thế có chừng mười ngàn chữ Hán cho hơn một ngàn âm tiết. Muốn đọc được sách báo phải cần
hơn hai ngàn chữ và mất khoảng bảy năm.

Chữ Quốc ngữ dùng mẫu tự Latin để ghi âm vị và tổng số âm vị tiếng Việt là 81 nên học rất dễ trung bình chừng hai tháng. Làm một con tính ta thấy ngay nếu phải học 2000 chữ Hán thì thời gian là (2000: 81) x 2 = 49 tháng hay 4 năm. Còn nếu phải học 10000 chữ thì thời gian dài gắp năm lần tức 20 năm.
Bỏ ra 20 năm chỉ để học chữ Hán thì hơi phí của. Thời gian dài đăng đẳng này có thể dùng để lấy được mấy cái bằng Tiến sĩ. Thời cổ văn minh Trung Hoa rất xán lạn nhưng dần dần đứng khựng lại trong khi Tây phương phát triển mạnh mẽ, có thể một phần là lối chữ tượng hình, tuy có điểm lợi là thống nhất được nước Trung Hoa nhưng đồng thời một phần nào đó đã ngăn cản sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật.
Để ghi tiếng nói người Nhật dùng chữ chữ Hán và chữ Nhật. Cả hai ghi âm tiết nhưng vì tiếng Nhật chỉ có 140 âm tiết nên chữ Nhật chỉ cần bằng ấy chữ viết.

Tiếng Việt phức tạp hơn nhiều vì có số âm tiết khổng lồ khỏang 18000, tạm gọi là đủ để diễntả mọi sự việc thông thường mà không bị làm khó hiểu bởi từ đồng âm và do đó có thể dùng chữ cái Latin để viết rời từng từ một cách dễ dàng, rõ ràng và gọn ghẽ. Trái lại nếu ta dùng chữ Hán để ghi tiếng Việt thì sẽ gặp muôn vàn khó khăn, như chữ Nôm chẳng Hạn khó học khó nhớ hơn cả chữ Hán vì phải nhớ tới 18000 chữ khác nhau.
Ngôn ngữ có thể có từ 2 tới 25 nguyên âm, và 5 tới 100 phụ âm (độ chừng, có ai biết chính xác là bao nhiêu không?). Tổng số âm vị trong mỗi ngôn ngữ thay đổi từ ít nhất là 11 trong tiếng Rotokas (Papa New Guinea), 12 trong tiếng Hawaiian tới nhiều nhất lên đến 141 của bộ lạc !Xu ở Phi châu. Xin kể thêm vài trường thái quá như có:
2 nguyên âm trong vài phương ngữ của tiếng Abkhaz
3 nguyên âm trong nhiều tiếng dân da đỏ Mỹ châu, Á Rập hay Úc đen
25 nguyên trong tiếng Punjabi
6 phụ âm trong tiếng Rotokas
Hơn 100 phụ âm trong tiếng Xu
Ta thấy có sự tương tự giữa Vật lý và ngôn ngữ. Phân tử, nguyên tử và hạch nhân tương ứng với từ, âm tiết và âm vị. Từ gồm một hay nhiều âm tiết giống như phân tử cấu tạo bởi một hay nhiều nguyên tử. Nguyên tử có thành phần là hạt nhân tương ứng âm tiết có thành phần là âm vị.

Tưởng cũng nên lập lại vài định nghĩa để dễ bề so sánh :
Phân tử (molecule) : mãnh nhỏ nhất (thường là một nhóm nguyên tử) của vật chất được làm cho nhỏ hơn bằng cách phân chia mà không làm thay đổi đặc tính hoá học.
Nguyên tố (element) : Chất không thể phân giải được thành chất đơn giản hơn bằng phương tiện hoá học.
Nguyên tử (atome) : phần tử nhỏ nhất của nguyên tố hoá học hay là phần nhỏ nhất của vật chất không thể chia nhỏ hơn nữa bằng phương tiện hoá học.
Hạch nhân (nucleus) : Hạt nằm ở trung tâm nguyên tử gồm có proton và neutron. 
Âm vị là cái mầm, cái lỏi, cái cốt lỏi, cái cùi, cái ngòi, cái hạt nhân hay hạch nhân của tiếng Việt. Và cũng giống như sinh vật, mọi sinh vật ngoài một số gen riêng biệt còn có một số gen chung với các giống khác. Ngôn ngữ cũng thế, kể cả tiếng Việt, ngoài một số từ riêng tư cho từng ngôn ngữ còn có một số từ chung cho toàn thể tiếng nói của nhân loại. Tiếng Việt chứa nhiều tiếng Anh từ thời tiền sử cũng là chuyện thường tình, không có mới là quái lạ.
Nếu DNA có thể được dùng để tìm nguồn gốc người Việt thì ngôn ngữ cũng rất hữu dụng trong công cuộc truy cứu gốc tích người Việt nói riêng và Bách Việt nói chung. 
Allophone (âm vị giống) là biến thể của âm vị. Allophone của miền này có thể là phoneme của miền khác. Ch và Tr là allophone của miền Bắc nhưng là phoneme của miền Trung và Nam. Tương tự n và ng cuối âm tiết là âm vị miền Bắc nhưng là allophone của miền Nam.
Câu ‘’Chị Lan than thở trên thang’’ nếu ở miền Bắc thì trở thành ‘’Chzị Lan zầu zĩ than thở chzên thang’’ còn miền Nam sẽ là ‘’Chị Lang rầu rỉ (dấu hỏi) thang thở trên thang’’
Morpheme (hình vị) là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa (a word or meaningful part of a word for instance 'the', 'speak' or the 'en' of 'spoken') như là một cơ bản (base), tiền tố hoặc hậu tố.
Một từ có thể chứa hơn một hình vị. ‘Unable’ có thể chia thành hai hình vị- tiền tố ‘un’ và  ‘able’, trong khi đó ‘mahogamy’ không thể chia nhỏ được nữa.
Tiếng Việt không có tiếp tố nên không có hình vị và mỗi từ đa số chỉ có một âm, ngoại trừ một số ít từ đa âm tiết như sa-vông, lông bông, cà nhổng, ba ba.
Vì ngôn ngữ học rất rắc rối và khó hiểu nên ít người chú ý tới và do đó số học giả ngôn ngữ học rất hiếm, đếm được trên đầu các ngón tay của một bàn tay. Nếu người nào để ý nghiên cứu thì lại hiểu vấn đề một cách lộn xộn, kể cả những nhà ngôn ngữ học. May ra thì mấy nhà toán học mới hiểu thấu mọi gút mắc của vấn đề nhưng mấy ông này còn lâu mới rớ tới vì đâu phải là nghề của chàng. Mà có muốn cũng không được.
Sau khi đã trang bị đầy đủ các định nghĩa thì bây giờ là lúc ta thẩm định lại số âm vị tiếngViệt. 

Âm vị tiếng Việt
Nếu ta theo đúng định nghĩa Tây phương về âm vị và phân tích theo các nhà ngôn ngữ Tây phương về nguyên âm thì tiếng Việt có rất nhiều âm vị. Xin liệt kê âm vị tiếng Việt phát âm miền Bắc như sau:
6 thanh điệu: không, sắc, huyền, hỏi, nặng, ngã
20 phụ âm :(ký hiệu phát âm được ghi trong hai gạch / /, nhưng để giản dị, không ghi ký hiệu nếu phát âm trùng với chữ cái).
B, /K/ (C vàK), /Chz/ (CH và Tr miền Bắc), /d/ (Đ), /G/ (G và Gh), H, Kh, L, M, N, Ng (Ngh),
Nh, P (Phụ âm đầu từ P là âm cổ nay dần dần phục hồi trở lại như pông sô, pia nô, pin),
/Kw/ (Qu như quít), /F/ (Ph), T, Th, V, X, /Z/ (D, R, Gi miền Bắc).
Miền Nam có thêm 7 phụ âm Ch, Tr, R, S, J (như Jarai, jăm bông, ăn jơ), Y (Y, ghi âm quốc tế là /j/, là phụ âm đầu từ D nhẹ miền Nam và dùng cho các từ ngoại quốc như đồng Yen, ya ua, yo yo, yoga), W (Qu, oa, Hoa), nhưng không có âm Chz, Z, Kw, V.
Tổng số phụ âm của phát âm miền Nam là 20 - 4 + 7 = 23.
Tổng số phụ âm cho mọi phương ngữ là 20 + 7 = 27
Nguyên âm
▪11 nguyên âm đơn (monothong): a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư
▪28 nguyên âm kép (diphthong, nhị trùng âm) : ai, ay, ây, ao, au, âu, eo, êu, ia, iu, iê, oa, oă,
oe, oi , ôi, ơi, ua, uâ, uê, ui, uô, uy, ưa, ưi, ươ, ưu, ia.
▪9 nguyên âm ba (triphthong, tam trùng âm): iêu, oai, oay, uây, uôi, ươi, ươu, uya, uyê

Tuy tên gọi là tam trùng âm nhưng nhiều khi chỉ là nhị trùng âm dài. Thí dụ như uôi là uui, ươi là ư ư i,ươu là ưưu.
Tổng số nguyên âm là 11 + 28 + 9 = 48
Miền Bắc có 6 thanh +20 phụ âm + 48 nguyên âm = 74 âm vị, bằng với số âm vị tiếng Thái.
Miền Nam có 5 thanh +23 phụ âm + 48 nguyên âm = 77 âm vị,
Tiếng Việt chung cho mọi phương ngữ có = 74 + 7 = 81 âm vị.
Đến đây ta mới thấy sự khó khăn và tài tình của các nhà tiền phong khi sáng tạo chữ Quốc ngữ. Họ phải suy nghĩ nhiều cách để cả ba miền cùng xữ dụng một thứ chữ nhưng có thể đọc theo phát âm của mình, tương tự như Hán tự dùng cho mọi sắc dân Trung Quốc.
Các ca sĩ trẻ nước ngoài phát âm Ch thành Chs tương tự như âm Ch tiếng Anh, nghe rất kỳ lạ và ngộ nghĩnh y như Mỹ nói tiếng Việt, lơ lớ giọng mũi.
Liệt kê các âm vị rất khó khăn nên mỗi người một ý kiến. Như Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hòa trong ‘Tiếng Việt không son phấn’ cho tiếng Việt gồm mọi phương ngữ có 22 tử âm, thể theo một bài lấy từ Internet ‘’Đáng lưu ý là bảng liệt kê 22 âm vị tử âm (consonant phonemes) dùng trong mọi phương ngữ Việt Nam -- bằng ký hiệu như /b-/, /f-/,/z-/, vân vân -- có thể đứng đầu các âm tiết, cùng với những chữ cái trong mẫu tự Việt được dùng để biểu hiện những âm vị này. Thí dụ, âm vị /k-/ thường được biểu hiện bằng những
chữ cái c-, k-, q- (con cá, cái kim, quả cam) (trang 20). Biểu đồ của 6 thanh điệu (trang 20) cho người đọc thấy rõ độ cao thấp cùng với đường uốn lượn của từng thanh điệu’’
22 phụ âm là gồm cả R, Tr, S.
Không ghi ra nguyên âm nên không biết GS cho biết có bao nhiêu nguyên âm.Ch và Tr ở miền Bắc hơi nặng phát âm thành chz, không có âm J nhưng có âm nặng hơn Gi. Vì thế các âm J đều bị thay thế bởi âm Gi như Jarai, Java, jăm bông, nạc jăm biến thành Gia Lai, Gia va, giăm bông, nạc giăm.
Gi không phải là một âm gồm hai âm vị G và I mà là một vị duy nhất /z/. Âm Gi có nguồn gốc xa xưa từ âm /ji/ tiếng Hán, ngày nay chỉ một số nhỏ đọc đúng Gi, còn đa số đọc là /z/ nên ta có thể cho nhập chung vào âm vị /z/.
Tương tự Qu không phải tạo thành bởi hai âm vị mà là một âm vị duy nhất /kw/ , khác biệt với âm vị /k/ (phụ âm c). Quả cam không phải là /k/ủa cam -vì như thế sẽ đọc là của cam mà là /kw/ả cam. Tương tự quốc là /kw/ốc chớ không phải là /k/uốc vì như thế sẽ đọc là cuốc (xuổng). Sở dĩ các nhà tiền phong không dùng Kw mà dùng Qu để ba miền đều đọc được theo đúng phát âm của mình. Qu đọc là /kw/ như trong từ quit tiếng Anh. 
Tiếp theo là nói về nguyên âm.
Để tiện so sánh xin ghi lại (pâ là phụ âm, nâ là nguyên âm) các nhận định của Tiến sĩ: 6 thanh +19 pâ+11 nâ đơn= 36
Bài Internet: 6 thanh +22 pâ+ 13 nâ đơn+ 3 nâ kép = 44
Tiếng Thái: 5 thanh +21 pâ +48 nâ =74 âm vị
Tiếng Khmer: 33 pâ + 24 nâ =57 âm vị
Tiếng Anh: 24 pâ+11 nâ đơn+4 nâ kép+1 untressed âm= 40 âm vị
Tiếng Việt: 6 thanh+23 pâ+11nâ đơn+28 nâ kép+9 nâ ba= 81 âm vị
Số âm vị phù hợp với dự đoán là tiếng Việt phải có số âm vị bằng hay nhiều hơn số âm vị tiếng Khmer (57) hay tiếng Thái (74) và nhiều hơn hai lần tổng số 36 âm vị do các nhà ngôn ngữ học Việt và Trung Hoa gán cho tiếng Việt. Tiếng Việt có ít phụ âm nhưng có rất nhiều nguyên âm. 
Miền Nam tuy có âm vị nhiều hơn miền Bắc nhưng có ít âm tiết hơn vì không phân biệt được các phụ âm cuối từ như lan với lang, tiếc với tiết, hoa với qua và oa.
Nếu kể thêm nhiều phụ âm kép đầu từ Bl, Dr, Pl, Fl, Fr, Ge đã được áp dụng vào khoa học kỹ thuật hoặc trong các từ Việt hoá như blốc nhà, dra trải giường, Pleiku, platin, miếng plắc mạ vàng, fluor, Freon, bẹt gê, gen nhiểm sắc thể, mà thời tiền sử đã từng hiện diện trong tiếng Việt thì tổng số âm vị tiếng Việt còn cao hơn nữa, gần con số 90. 

Nhưng thôi, như thế là quá đủ để chứng minh số âm vị tiếng Việt trội hẳn số âm vị mà các nhà ngôn ngữ học Ta và Tàu đã gán cho tiếng Việt.
Nếu đếm theo kiểu Trung Hoa tức là nhập thanh sắc vào âm vị thì tổng số âm vị tiếng Việt là (81- 6)x 6 = 450. Số này quá cao, và không ai đếm lọa kỳ như thế. Xem ra thì ngôn ngữ học rất khó hiểu nên ngay cả viện ngôn ngữ học cũng sai lầm như thường.
Một số câu hỏi mà thầy giáo không muốn gặp :
-Tại sao âm học không đánh vần theo cách phát âm như Y được ghi âm là /j/ ?
-Tại sao monosyllabic chỉ từ đơn âm sao lại có 5 âm tiết ?
-Tại sao Đề li 24 giờ, 365 ngày một năm mà lại có ổ khoá ?
-Tại sao vô giá trái ngược với vô giá trị hay không giá?
- Nếu xe chạy nhanh bằng tốc độ ánh sáng, cái gì xãy ra nếu ta vặn đèn sáng lên ?

Âm R trong tiếng Việt cổ 
Có người cho miền Bắc thời cổ không có âm R. Nếu không xem xét kỹ ta thấy nhận xét này không phải là không có lý vì các ngừơi bạn láng giềng như Lào, Miến Điện và mọi loại người Tàu đều không có R.
Thực sự thời tiền sử người Văn Lang đã phát âm R, có thể giống âm R của phát âm miền Trung hay âm R của Khmer, hơi khác với miền Nam. Ở miền Trung âm khi phát ra âm R thì lưỡi chạm vào bên trên phía trong, phát âm lăn tròn (rolling) gần âm R tiếng Anh còn miền Nam thì lưỡi ở phía ngoài gần âm R tiếng Pháp. Âm R Khmer thì lưỡi run động nhiều hơn.
Âm R Miền Bắc bị biến mất là do ảnh hưởng phát âm Bắc Kinh. Thật vậy có nhiều từ cổ miền Bắc vay mượn tiếng Mã Lai có âm R như co ro tiếng Mã Lai dùng để chỉ con rùa, rông chơi là do ronda tiếng ML, rổng là do rongga tiếng ML và râng tiếng Khmer.
Cứ cho là người Việt thời tiền sử không có âm R và sau đó đã vay mượn tiếng ML từ thời Văn Lang đi, nhưng ta không thể giải thích được tại sao lại có những từ trùng hợp với tiếng Khmer mà ta chỉ mới tiếp xúc với họ từ thế kỷ 17, như ruồi là do ruôi và rượt là do rươt tiếng Khmer? Còn nữa, tại sao có nhiều từ trùng với tiếng Mon như rồi là rà, mưa rào là pròa mà ta không bao giờ tiếp xúc với họ. Chỉ có thể giải thích là tiếng Việt có âm R từ thời tiền sử và tiếng Việt có liên hệ với tiếng Mon Khmer và Mã Lai. Âm R bị biến mất dưới thời Bắc thuộc
vì vùng Hà Nội bị ảnh hưởng nặng nề của phát âm Bắc Kinh. Và không phải mọi người Bắc đều không nói được R. Có nhiều vùng miền Bắc xa trung ương dân chúng nói ra R khá rõ, có khi còn rõ ràng hơn cả miền Trung và Nam.
Điều đáng chú ý là âm R hầu như hiện diện trong mọi ngôn ngữ chỉ trừ ngữ tộc SinoTiberto, Lào và miền Bắc. Tiếng Thái trên nguyên tắc có âm R nhưng người Thái thường nói thành L. Lý do là một số người Thái từ Vân Nam tràn tới Thái Lan chiếm đất của người  Mon Khmer vào thế kỷ thứ 13 không có R như người Lào. Phát xuất từ bên Tàu thì đương nhiên không có R. Còn người Thái cũ hay có học Phạn ngữ, cùng với người Mon và người Khmer gần ranh giới Campuchia thì có R. Các tiếng nói thuộc ngữ tộc Sino-Tiberto như tiếng Tàu (mọi loại), tiếng Tây Tạng và Miến Điện đều không có R nhưng lại có âm Z, tương tự như phát âm miền Bắc.

Ngữ hệ tiếng Việt
Như vậy có phải là tiếng Việt thuộc ngữ tộc Sino-Tiberto như vài học giả đã và đang đưa ra giả thuyết này?
Nếu cho là không thì tại sao một số âm miền Bắc lại gần với phát âm Hán Tạng? Câu trả lời là sỡ dĩ phát âm giống tiếng BK là do bị ảnh hưởng tiếng BK cả về từ ngữ lẫn phát âm.
Các âm R, Tr và cả các âm W, phụ âm đầu từ Y, Dr, Pl, Pr, Fl, Fr và nhiều phụ âm phức tạp đầu từ khác đã hiện hữu trong phát âm người Văn Lang, nhưng dưới thời đô hộ các âm trên đã bị âm Hán lấn áp. Cửu Chân và Nhật Nam ít bị ảnh hưởng nên vẫn còn giữ được âm R, Tr như ta đã thấy.
Có rất nhiều giả thuyết về ngữ hệ tiếng hệ, không có giả thuyết nào đúng mà cũng không có giả thuyết nào hòan tòan sai hẳn.
Tiếng Việt không thuộc ngữ hệ Hán Tạng nghĩa là không có nguồn gốc Trung Hoa vì nhiều lý so như sau :
-Tiếng Việt có số âm vị gần với tiếng Thái và Khmer hơn là tiếng Hán.
-Mặc dầu tiếng Việt có chứa hơn phân nửa tiếng Hán Việt nhưng các tiếng Nôm lại trùng với ngữ tộc Mon-Khmer và Thái hơn.
-Phát âm miền Bắc tuy gần giống phát âm BK, nhất là âm Z, nhưng không vì thế mà ta có thể kết luận tiếng Việt thuộc ngữ tộc Hán Tạng vì có nhiều âm vị mà tiếng Hán không có.
Một điểm đặc biệt của ngữ hệ Hán Tạng là chứa rất nhiều từ có âm vị Z như tiếng BK có âm Z, Zh, Tz, tiếng Tây Tạng có và âm giống Z như tso là hồ, zing-kyong, tiếng Miến Điện có Z, không R và Tr. Mã Lai có một số âm Z. Các tiếng thuộc ngữ tộc Mon-Khmer và Thái, Lào đều không có Z. Phát âm miền Bắc có rất nhiều âm Z và không R. Phải chăng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Hán Tạng?
Không phải, tiếng Việt nhất định không phải thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Sau 1000 năm bị ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Hoa, tiếng Việt khó có thể phát triển nhanh chóng từ 41 âm vị sang 81 âm vị và từ 1347 âm tiết thành 18000 âm tiết, trừ phi là tiếng Việt lại chịu ảnh hưởng nề của tiếng một nước khác. Lịch sử trong thời kỳ độc lập không thấy nói người Việt bị người Mon Khmer, Thái hay bất kỳ một nước nào khác đô hộ. Tiếng Việt chịu ảnh hưởng tiếng Thái không phải trong thời độc lập, và càng không phải trong thời Bắc thuộc, mà phải trước hay chậm nhất trong thời Văn Lang Âu Lạc.

Phát âm Hà Nội
Phát âm Hà Nội ngày nay nghiên về phát âm Thanh Nghệ Tĩnh do dân chúng các nơi khác tràn vào thành phố nâng mực độ từ 100000 lên hơn một triệu, phát âm Hà Nội ngày xưa trở thành thiểu số, chỉ còn chừng 50000, có cơ bị tuyệt giống. Như vậy phát âm Hà Nội xưa không phổ quát, chỉ tập trung ở khu vực Hà Nội và vùng lân cận, có thể không phải là phát âm nguyên thuỷ của người Việt. Nếu là thế thì nó có nguồn gốc từ đâu? Có thể từ phát âm BK chăng ?
Tiếng Việt bị ảnh hưởng nặng nề tiếng Hán về mặt từ ngữ thì quá đã quá rõ ràng. Nếu ta cho rằng tiếng Việt chỉ bị ảnh hưởng về mặt từ ngữ mà không bị ảnh hưởng bởi phát âm BK thì là một chuyện hi hữu, trái với đà phát triển tự nhiên. Một số âm Hà Nội rất gần với phát âm Bắc Kinh như các âm rịu (rượu) là do jỉu, không có âm R, Tr nhưng có nhiều Z (tiếng BK có âm ghi là R nhưng lại có phát âm tương tự S với lưỡi đụng vào vòm khẩu cái). Chỉ có dân chúng chung quanh Hà Nội bị ảnh hưởng sâu đậm phát âm BK vì ngày xưa chỉ có Hà Nội và Nam Định là có trường dạy và thi tiếng Hán, do các giáo sư nguyên gốc giảng dạy nên dân chúng ở đây giỏi tiếng Hán về cả từ ngữ và phát âm. Các vùng khác chỉ học lóm hay do mấy Ông đồ lô can giảng dạy nên phát âm sai giọng hay ít bị ảnh hưởng tiếng Hán.
Chính vì thế có thể dân ở khu vực xa trung ương còn giữ được phần nào phát âm nguyên thủy của người Việt.
Miền Nam thì dốt đặc cán mai, một chữ Hán cũng không có.
Cứ so sánh tên họ hai miền thì thấy rõ ngay. Tên họ miền Bắc và Trung nghe rất văn chương tao nhã, đôi khi quá Hán làm cho không ai hiểu nghĩa là gì. Thí dụ như Cung Tằng Tôn Nữ Trịnh Nhữ Như Thi made in Hòang gia, Đoàn Châu Các Các made in phim Hongkong, Tăng Thiên Diệp made in China, Đặng Trần Quế made by Ông đồ ta. 
Hầu như không tìm được ai có tên họ hoàn toàn tiếng Nôm ở Hà Nội, trừ bần cố nông như Thị Mẹt.
Trái lại Miền Nam rất ư là nôm na, tuy dễ hiểu nhưng nhiều khi bình dân quá độ như Trần Trụi Bông Giấy, Nguyễn thị Út Nữa (rán nín đẻ nhưng cuối cùng lại lọt thêm một trự), Trịnh thị Rót (miễn bàn), Địch thanh Tủng, Bùi thị Rớt (bị đẻ rớt), Đặng Thành Được (đánh cá ngựa là trúng cá cặp ngay), Huỳnh văn Đực Rựa (làm gì có Huỳnh thị Đực Rựa?), Thái Thành Mắm (con cháu bà giáo Thảo hay gốc gác Châu Đốc), Thạch Sanh Mười Lăm (đẻ dữ tợn).

Phát âm Sàigòn
Phát âm Sàigòn và phát âm miền Nam rồi đây cũng sẽ thay đổi vì chịu ảnh hưởng của phát âm Hà Nội và Hà Nội cũng sẽ phải thay đổi phần nào đó theo phát âm Sàigòn vì nhiều lý do.
Một trong các lý do là dân Hà Nội, dân miền Trung vào miền Nam khá đông. Mặt khác thông tin, giao lưu văn hoá hai miền sẽ có ảnh hưởng qua lại.
Phát âm miền Nam đã được tôi luyện, xào nấu, thêm thắt lại từ phát âm miền Trung và miền Bắc, do di dân nghèo hay của tội phạm nhẹ bị phát vãng trong công cuộc Nam tiến, lại thêm mắm thêm muối từ các tiếng Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Khmer, Chàm, Chà Châu Giang (Giang là sông, Chà là do chữ Java, Châu Đốc là do Châu Toch, tên con sông ở gần  Châu Đốc, phía bên Kampuchia. Tên núi Sam ở Châu Đốc là từ nói trại đi của từ Chàm, Kompong Chàm ở Campuchia là Vũng Chàm. Java đã biến thành sông Bà Hoà ở Cửu Chân. 
Một số người Chà Châu Giang hay một số dân miền Trung có thể lai giống Á Rậpnên khá cao, nhất là các em sinh tại nước ngòai rất cao mặc dầu cha mẹ ở mức trung bình).
Như vậy phát âm miền Nam đã được chọn lọc tự nhiên để từ từ trở thành đại chúng, do đóphải giản dị, dễ hiểu, dễ phát âm để mọi sắc tộc đều nói được. Chính vì thế mà âm V, Z đã biến mất nhường chỗ cho âm D nhẹ, W, J, R, Tr. Tuy nhẹ nhàng uyển chuyển và dễ uốn lưỡi theo tiếng nước khác nhưng cũng rất khó thay đổi thêm vì nó đã thay đổi rồi, không còn đường nào để binh
‘’Hai mươi năm mới gặp lại mà sao anh trông vẫn còn trẻ?’’
‘’Vâng. Trẻ mãi không già vì tôi đã già ngay từ khi còn rất trẻ’’
Phát âm Hà Nội rồi ra cũng phải thay đổi cho hiện đại, hợp thời trang, với khuynh hướng tòan cầu hóa ngôn ngữ và kinh tế, với Anh ngữ, với trào lưu thông tin, Internet, và dân nước ngoài, nhất là dân Hà Nội xưa trong lẫn ngòai nước
“Khi cán ngố vào Sàigòn thì mức độ thông minh IQ cả hai miền trở nên ngang ngửa”
Phát âm người Việt nước ngoài khác người trong nước vì nhiều phương diện như khôngdùng từ made in China, lai giọng Tây, nói chậm hơn do ít xữ dụng, ít người để đối thoại,nhiều khi cả ngày chỉ nói chuyện bà xã hay với đầu gối, không bị thúc đẩy bởi cuộc sống lúc
nào cũng ‘khẩn trương’.

Tiếng Việt cho mỗi miền là 75, chung cho cả nước khoảng 81 âm vị. Con số có thể thay đổi đôi chút nhưng không thể nào là 36 hay 44 được. Quí vị độc giả nghĩ sao?’
Gs Đoàn Văn Phi Long

Từ đây trở lên trên là bài đã đăng ở mạng Hương Quê (Thứ Hai 3/2/2003), soạn khi đi holiday ở Sydney, bài viết không dựa vào sách vở mà chỉ dùng ba cuốn tự điển tiếng Anh, hai Phase book bỏ túi, tốn khoảng gần hai ngày.
Sau chừng một vài năm, trong luận án cử nhân “Hệ thống cung cấp thông tin qua mạng điện thoại và ứng dụng” dày hơn 40 trang của hai sinh viên, bài Âm Vị Tiếng Việt đã được xữ dụng để kiểm chứng lại mức độ chính xác của hệ thống, xin tóm lược phần có liên quan như sau:
“Mô hình ngữ âm hiện tại (cổ điển). (TK 3)
Nhận xét
Mô hình hiện tại gồm tổng cộng 44 phones (27 phụ âm + 12 nguyên âm + 5 thanh).
Số phones này khá nhỏ, nhỏ hơn hầu hết các tập phones được sử dụng trong việc nhận dạng các ngôn ngữ khác trên thế giới. Điều này giúp làm giảm áp lực về yêu cầu độ lớn của bộ dữ liệu huấn luyện mô hình ngữ âm.
Thử nghiệm mô hình ngữ âm mới
Phụ âm gồm 23 phụ âm:
b c ch d đ g h kh l m n ng nh p ph qu r s t th tr v x
Nguyên âm gồm có 47 nguyên âm
a â ă ai ao au âu ay ây e ê eo êu i ia iê iêu iu o ơ oa oă oai oay oe oi ôi ơi oo u ư ua uâ ưa uê ui ưi uô uơ ươ uôi ươi ươu ưu uy uya uyê
Nhận xét
▪Gồm 75 phones [23 phụ âm, 47 nguyên âm và 5 thanh]. Số phones lớn hơn hẳn so với mô hình ngữ âm trước đây, điều này đưa ra yêu cầu là phải có bộ dữ liệu cũng phải lớn tương ứng để huấn luyện cho mô hình ngữ âm.
▪Áp dụng được đặc điểm đơn âm của tiếng Việt để biểu diễn những từ có độ dài phát âm gần giống bằng số trạng thái gần giống nhau. Ví dụ chữ “xuyên” và chữ “xin”, chúng có độ dài phát âm gần như bằng nhau và đều được biểu diễn bởi 3 hmm với 9 trạng thái.
▪Những âm được phát âm giống nhau sẽ được phiên âm thành một âm duy nhất. Việc xác định là âm nào sẽ được thực hiện bởi mô hình ngôn ngữ kèm với từ điển phiên âm.
Tài liệu tham khảo của bài trên
Tiếng Việt
1. Đoàn Văn Phi Long, Âm vị tiếng Việt,http://www.vn.net/article.php/200607140815151597, 2004.
2. Nguyễn Hoàng Dũng, Nguyễn Cao Trường Hải, Một số cải tiến nâng cao chất lượng cho hệ thống
nhận dạng tiếng Việt, Luận văn tốt nghiệp khoá 02 khoa Công nghệ thông tin, TPHCM, 2006.
3. Nguyễn Quang Vinh, Tự động tìm kiếm đơn vị ngữ âm cho bài toán nhận dạng tiếng nói tiếng Việt
liên tục, Luận văn tốt nghiệp khóa 03 khoa Công nghệ thông tin, TPHCM, 2007.
4. Trần Ngọc Dụng, Tìm hiểu ngữ âm tiếng Việt
Tiếng Anh
1. A Stolcke, SRILM - An Extensible Language Modeling Toolkit, Proc. Intl. Conf. Spoken Language
Processing, Denver, Colorado, September, 2002
2. C H Lee, F. K. Soong, and K. K. Paliwal, Automatic Speech and Speaker Recognition, Advanced
Topics, pages 1-30. Kluwer Academic Publishers, 1996 etc… ”

Như vậy mức độ chính xác của bài “Âm vị tiếng Việt” đã được kiểm chứng bằng khóa luận
tốt nghiệp Công nghệ thông tin chuyên ngành kỹ thuật phần mềm (software).
Vẫn như cũ 15 năm sau, lên mạng tìm lại âm vị tiếng Việt coi ra sao thì tình trạng không có gì thay đổi. Có hằng trăm mạng nói về âm vị tiếng Việt nhưng diễn tả vòng vo, rườm rà và không cho biết tổng số âm vị tiếng Việt là bao nhiêu và đếm ra sao.
Riêng Trung Hoa có tiến bộ hơn một chút:
Âm vị tiếng Trung Hoa
Để trả lời câu hỏi trên mạng: Có bao nhiêu nguyên âm, nhị trùng âm và phụ âm trong tiếng Trung Hoa Mandarin?, một người Trung Hoa dùng mobile phone và bằng loại chữ Hanyu
Pinyin, ngày 28 Dec 2017, liệt kê các âm vị như sau:
9 vowels
a e i u ü -i(in zhi, chi, shi) -i(in zi, ci, si) ê er
(Vài người cho "-i"s are not vowels, so 7.)
9 diphthongs
ai ei ao ou ia ie ua uo üe
22 consonants
b p m f d t n(-n) l g k h j q x zh ch sh r z c s -ng
Tổng cộng có 40 âm vị (TK 4)
Xin liệt kê các nước khác để so sánh

Âm vị Âu châu
Albanian 37, Basque 30, Belarusian 48,
Bulgarian 44, Catalan 36, Czech37,
Danish 52, English36, Dutch 39,
Finnish 34, French 39, German 45,
Greek 23, Hungarian 41, Italian 30,
Lithuanian 59, Portuguese 37, Russian 40,
Spanish (Castilian) 25, Swedish 35,
Ukrainian 40, Welsh 45
Vài ngôn ngữ không Âu Châu để so sánh
Arabic 34, Chinese (Mandarin) 35, Hindustani 48,
Persian 32, Japanese 32, Turkish 31
15 nước đứng đầu về tổng số âm vị:
1. Lithuanian : 77
2. Estonian : 75
3. Welsh : 62
4. Belarusian : 58
5. Russian : 55
6. Danish, Finnish : 52
7. Norwegian : 50
8. English, Icelandic, Irish Gaelic, Latvian, Romanian : 49
9. Dutch, German, Ukrainian : 48 (TK 5)

Tham Khảo
1. Thai phrase book & dictionary và Cambuchia phrase book & dictionary của nhà xuất bản Lonely Planet.
2. Phoneme Codes, International Phonetic Alphabet
en.wikipedia.org/wiki/International_Phonetic_Alphabet
3. Trường Đại học Khoa học tự nhiên, khoa Công nghệ thông tin HCM, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành kỹ
thuật phần mềm, luận án cử nhân áp dụng vào Âm vị tiếng Việt.
4. Âm vị Trung Hoa
 quora.com/How-many-vowels-diphthongs-and-consonants-does-Mandarin-Chinese-have
5.Europe phoneme eupedia.com/linguistics/number_of_phonemes_in_european_languages.shtml

Apr 1, 2018

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 4

CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 4


DSTV thân mến gửi đến các bạn sinh nhật trong tháng 4 lời chúc mừng một  ngày sinh nhật thật vui tươi hạnh phúc.



Thân mến chúc 
HẢI CHÂU
DIỆU HIỀN
TÂN LÊ 
NGỌC ANH 
Và các bạn có sinh nhật tháng 4
Một ngày sinh nhật thật hạnh phúc, ấm áp bên gia đình 



Hoa Đậu là hoa tượng trưng cho tháng 4, xin gửi đến các bạn những bông Hoa Đậu ngọt ngào, duyên dáng như những lời chúc mừng các bạn thêm một tuổi mới  nhiều sức khỏe, hạnh phúc, niềm vui bất tận.


Tên tiếng Việt: Đậu hoa, Đậu thơm.

Tên thông dụng : Hoàng hậu của loài cây hàng năm (Queen of Annuals).

Tên tiếng Anh : Sweet Pea.

 Hoa Đậu là Hoa của tháng Tư , biểu tượng cho Niềm vui bất tận, sự khởi đầu, sự duyên dáng, thanh nhã.


Bông hoa thơm nồng nàn và tinh tế này có dáng vẻ tao nhã, khá tự nhiên. Trên một cành, các bông hoa có thể có nhiều đốm màu khác nhau như xanh, tía nhạt, hồng và trắng. Nó tượng trưng cho “niềm vui thích vĩnh viễn” vì hương thơm và khả năng tự hồi phục liên tục của bông hoa.

Đậu hoa nói lên rằng những người sinh tháng 4  là người luôn cởi mở vui vẻ, dễ làm quen và gần gũi với những người chung quanh. Bạn cũng có tính rất tò mò, nhưng sự tò mò đó là để biết những chuyện gì đang xảy ra chung quanh mình, và cố tìm hiểu cho bằng được. Còn nếu ai đó kiếm người để tin cậy trao gởi câu chuyện, thì bạn là người được tín nhiệm trong số.

Bạn luôn giữ những nguyên tắc riêng của mình, trong tình huống nào và mọi mặt của cuộc sống. Bạn cũng thường hay quan tâm giúp đỡ người khác, và điểm chính là lúc nào cũng giữ được sự bình tĩnh, rất đáng nể.

Các bạn sinh trong tháng 4 còn được tượng trưng bằng một loại đá quí mà từ xưa cho đến bây giờ vẫn còn được coi là " A girl's best friend".

Diamond - Kim cương có  nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "Adamas" có nghĩa là "kim loại cứng nhất.
Từ quan niệm: Mọi vật trong trời đất dường như luôn có sự tương tác lẫn nhau, mỗi năm có một con giáp làm đại diện, mỗi con người gắn liền với một cung, mạng trong hệ ngũ hành Kim - Thủy - Mộc - Hỏa - Thổ, mỗi loài hoa mang một ý nghĩa riêng, mỗi sắc màu là mỗi cung bậc của cảm xúc...và mỗi một tháng trong năm lại gắn liền với tên của một loại đá quý, ví như đại diện cho tháng tư chính là kim cương – loại đá quý hiếm nhất.
Nếu sinh nhật của bạn vào tháng tư thì bạn là người có rất nhiều may mắn – Mang các đặc tính bền vững của Kim cương, bạn là người có ý chí và luôn có niềm tin tuyệt đối vào những quyết tâm và nỗ lực của mình. Kim cương vốn là biểu tượng cho sức sống, niềm tin và sự khát vọng mãnh liệt. 

Hôm nay cũng là ngày Lễ Phục Sinh, DSTV thân ái gửi lời chúc đến các bạn và gia quyến luôn luôn được an vui, hạnh phúc.

HAPPY EASTER CÁC BẠN 

Mar 28, 2018

Nhớ về thầy Đỗ Danh Tẩm - Bích Quy

NHỚ  VỀ  THẦY  ĐỖ DANH TẨM

                                                 Bich Quy


THẦY ĐÕ DANH TẨM
Giáo Sư Vạn Vật trường Trưng Vương 


        Tôi bàng hoàng khi biết tin thầy đã mất.  Tôi vẫn còn nhớ cái dáng gầy gầy của thầy với cặp kính trắng.  Ngày ấy cũng cách nay nửa thế kỷ rồi .  Vậy mà tôi vẫn không quên được vài giai thoại về thầy.
      Nhà tôi ở trong một cư xá chỉ có một lối vào ra duy nhất. Hai bên đường trồng hai hàng cậy điệp trổ bông vàng rất đẹp.  Hai hàng cây ấy tán rất rộng chúng giao nhau trên cao, toả bóng mát xuống đường cho trẻ con vui đùa.  Gọi là cư xá vì có rất nhiều bloc nhà .  Càng đi vào bên trong, diện tích càng nở ra thêm tạo thành hình chữ  nhật  nên có một khoảnh sân cho   người ta  tụ tập, vui chơi.  Vậy mà sau này đất chật người đông , người ta lại dựng lên một toà nhà  nhiều  tầng  gọi là chung cư, Toà nhà ở chính giữa cái sân nên trẻ con cũng mất chỗ chơi.
    Căn nhà tôi ở trên lầu một , ngay trên  lối đi vào  duy nhất ấy .  Một hôm đang ngồi học bài bên cửa sổ, nhìn xuống sân tôi thấy một chiếc Madaz màu đỏ đâu ngay bên gốc cây điệp trước cửa sổ nhà tôi.  Lúc đầu tôi cũng không chú ý lắm nhưng rồi thấy người đàn ông từ xe ấy đi ra có dáng giống như thầy T nên những lần  sau tôi để ý thì thấy khi nào chíếc xe đỏ đậu bên cây điệp là tôi hay chồm ra  ...theo dõi.  Xe đậu rồi thì thầy lấy sợi xích dài luồn qua tay lái rồi móc vào đâu đó trong xe, khóa  lại. Sau đó thì thầy chui ra khỏi xe , đứng đó xốc lại cái quần và từ từ đi vào phía trong.  Lúc đầu tôi cũng không rõ là thầy quen ai trong đó. Mãi sau này có lần tôi  bắt gặp thầy nắm tay cô đi ra xe thì tôi mới biết. Thì ra thầy tôi quen với  một cô trong xóm tôi. Cô trắng trẻo hơi đậm người hơn thầy nhưng trông rất hiền và dễ thương. Khỏi phải nói phát hiện của tôi được "thầm thì" ngay với những đứa ngồi bên cạnh trong lớp. Ngày nào đi học tụ nó cũng hỏi thăm xem "Đến đâu rồi? " .  Tôi tha hồ tán hươu tán vượn như một chuyện dài nhiều tập hấp dẫn mà có lúc không kìm được , có đứa đã vọt miệng hỏi :"Bao giờ thầy lấy vợ thầy ?" Làm thầy cũng phải giật mình. Có lần đang mải mê theo dõi, bất chợt thầy ngẩng đầu lên và tôi cũng thụp ngay xuống, đầu va vào cạnh bàn đau điếng.  Cơ mà  "đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma" ,  rình mò mãi cho đến hôm tôi đang đứng ngay tại gốc cây này thì xe thầy đỗ xịch đến. Không tránh được, tôi đành lí nhí chào thầy. Thầy hỏi :"Nhà em ở đây à? "
"Vâng"  và thế là thầy hiểu ngay những gì tụi nó xầm xì là do ...tôi phun ra. Sau lần ấy thì tôi không phải thầm thì nữa mà còn hãnh diện kể cho chúng nghe những điều mình thấy hoặc biết về cô,  Thật ra thì tôi có biết về cô nhiều đâu, chỉ thỉnh thoảng thấy cô đi ngang nhà mình mỗi sáng để  đi làm, cô mặc áo dài thật đẹp. Nghe nói cô làm ở ngân hàng thì phải. 
   Ngày cưới cô , tôi thấy  cô thật đẹp  đi bên thầy  cũng diện thật chỉnh tề ,  khách khứa đi thảnh đoàn dài  ...Xe cô dâu cũng lại đâu bên cây điệp phía dưới nhà tôi .  Vẫn là cái xe đỏ được trang trí thật đẹp nhưng lần này tài xế không phải là thầy.
Thế rồi sau đó  thầy thường đưa cô về thăm nhà. Xe vẫn đậu bên cây điệp chỗ nhà tôi và họ sánh đôi bên nhau đi bộ về nhà.
   Tôi nhớ mình được học Vạn vật với thầy. Thầy vẽ trên bảng những hình minh họa cho bài học thật đẹp. Hầu như hình vẽ cứ như trôi từ tay thầy ra mà chẳng phải xóa đi vẽ lại bao giờ. Tôi cũng nhớ cả cô Dung dậy Lý hoá vẽ hình cũng rất đẹp mà cô cũng đẹp nữa . Có đứa đặt biệt hiệu cho cô là  "Cô Dung Kennedy" để phân biệt với cô khác cùng tên .  Thầy còn viết sách giáo khoa. Tôi nhớ năm thi tú tài đã học thuộc cuốn sách của thầy đến quăn queo, nhàu nhĩ. 
Các thầy cô hồi đó người nào cũng chỉn chu, mẫu mực   Thế hệ chúng tôi may mắn được học những thầy cô "ngay ngắn" như vậy nên đến tận bây giờ vẫn nhớ ơn thầy. 
    Thế rồi thầy có em bé. Tôi nhớ thầy thông báo với nét mặt thật rạng rỡ của người vừa được làm cha.  Một điều thật tuyệt vời.  Tôi cũng không ngạc nhiên lắm vì đã thấy mấy tháng trước đó thầy dìu cô về thăm nhà với cái bụng bầu khá to.   Sau này em tôi lại tiếp tục được học thầy. Có hôm nó về kể chuyện. Thầy T bảo con thầy ba tuổi rồi mà chưa biết đi. Nó cứ co chân lên không chịu đứng xuống. Hoá ra là thầy sợ cho bé đứng xuống đất dơ chân , lỡ có con giun, con sán  nào nó bò  vào thì khổ. thế cho nên nội , ngoại thi nhau bế suốt nên mới ra nông nỗi. Rồi thì bé cũng tự đi được thôi
   Biến cố lớn với đất nước khiến bẵng đi thời gian dài tôi chẳng biết tin tức gì về thầy. Mãi sau này có bạn  ở nước ngoài kể về thầy  mới hay thầy đã ra nước ngoài sinh sống. Tôi thầm mừng cho cuộc sống của thầy đã yên ổn. Để rồi hôm nay lại nhận được tin thầy đã tạ thế. 
   Thưa thầy, viết bài này để nhớ về thầy thật nhiều đã cho chúng con những kiến thức và cách sống ngay thẳng  như chính thầy đã là tấm gương cho học trò noi theo. Xin được thắp nén nhang tạ ơn thầy.
    




Mar 27, 2018

Chia buồn cùng gia đình GS Đỗ Danh Tẩm



 Nhận được tin buồn:

  Giáo sư ĐỖ DANH TẨM


Cựu giáo sư 
 

Trường nữ trung học TRƯNG VƯƠNG Sài Gòn
vừa từ trần ngày
 20 tháng 3  2018






Toàn thể cựu nữ sinh TV 63-70 xin chân thành chia buồn cùng  tang quyến. Nguyện xin anh linh GS Tẩm  được tiêu diêu nơi miền tịnh độ.




THÀNH KÍNH PHÂN ƯU 


Hình các TV đến viếng thầy ở Sydney







Link những hình ảnh TV Sydney đến viếng Thầy Đỗ Danh Tẩm.


Giếng hồi hướng công đức cho Thầy Đỗ Danh Tẩm


Mar 24, 2018

Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »

TẠP CHÍ KHOA HỌC

Loài kiến : « Những chiến lược gia đáng gờm »

 Dân gian có câu : « Kiến tha lâu cũng đầy tổ », hàm ý chỉ sự chăm chỉ, cần cù rồi cũng được đền bù xứng đáng. Thế nhưng, với nhà nghiên cứu Erik Frank, loài kiến còn có nhiều đặc tính thú vị khác. Khi quan sát cuộc chiến giữa loài kiến và mối tại Bờ Biển Ngà, Erik Frank phát hiện ra rằng kiến còn là những binh gia tuyệt vời và có một dịch vụ « quân y » rất hiệu quả.

Không phải giống kiến nào cũng có những « thói quen nhà binh » kiểu ấy. Đặc tính « quân nhân » này đặc biệt chỉ có ở giống kiến có tên khoa học là Megaponera analis, giống kiến Hạ Sahara, những giống kiến càng to khỏe, có chiều dài đôi khi lên đến 2cm. Đây là một trong những giống kiến được cho là rất « hiếu chiến ».
Sau 29 tháng bám lấy tổ kiến từ sáng đến tối, Erik Frank đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sinh học, chuyên ngành nghiên cứu về Kiến tại trường đại học Wurzburg (Đức) vào tháng Giêng năm 2018, và cho đăng liên tiếp 5 bài nghiên cứu trên một tạp chí khoa học rất có uy tín của Anh, Proceeding B.
Nghiên cứu của anh về giống kiến Megaponera analis khiến báo Le Monde (14/03/2018) phải thốt lên đây quả là « những binh gia đáng gờm ». Quá trình đi săn mồi, tấn công mồi, các công tác hậu chiến của Megaponera chẳng khác gì một chiến dịch quân sự bao gồm các bước : Thăm dò đối thủ, bố trí quân lực, dàn trận, khai chiến, thu gom chiến lợi phẩm, thu nhặt "thương phế binh" và chăm sóc bệnh binh.
Trả lời phỏng vấn Le Monde, anh Erick Frank cho biết điều gì đã thôi thúc anh nghiên cứu về loài kiến này :
« Trong khoảng một tháng, tôi đã nhận thấy rằng những con khỏe mạnh tha về tổ những con bị thương. Nhưng tôi không biết là phát hiện này có thật sự là mới hay không và vì lúc ấy tôi cũng không có mạng Wifi để kiểm chứng, cũng như điện thoại để hỏi giáo sư. Thế là tôi cứ tiếp tục quan sát.
Những con kiến bị thương đó rồi sẽ thế nào ? Ai chuyển chúng đi và bằng cách nào ? Trong một hành trình dài ra sao ? Loài kiến này sẽ tổ chức tấn công như thế nào, bao nhiêu chiến binh, tỷ lệ thương vong trong giao chiến là bao nhiêu ? Để rồi ba tháng sau đó, khi giáo sư của tôi trở về, ông ấy tỏ ra có hứng thú. Ông ấy hỏi ngay là tôi có muốn làm tiến sĩ hay không ».
Xác định mồi và bố trí lực lượng
Với giống kiến Megaponera, miếng mồi ngon nhất chính là mối. Thế nhưng, tổ chức tấn công ổ mối lại không dễ chút nào. Những ụ mối, theo như cách ví von của giới khoa học, giống như là những vương cung thu nhỏ, thành trì vững chắc, có hệ thống điều hòa không khí tự nhiên, và lại rất hòa nhập với môi trường.
Nhưng giống kiến vùng hạ Sahara này lại hiểu rất rõ là, để có thức ăn, loài mối phải bò ra khỏi cứ địa của mình, đi gom nhặt các vật liệu chết (lá cây, cành, vỏ cây) để cung cấp dinh dưỡng cho những luống nấm của mình. Mối buộc phải tìm chọn cho mình một địa điểm, phủ lên đấy một lớp mai bằng đất để tránh nắng và đương nhiên là cả những kẻ săn mồi, đồng thời nối điểm kiếm ăn với ổ mối bằng một con đường hầm.
Do đó, việc truy tìm địa bàn kiếm ăn của mối chính là nhiệm vụ đầu tiên của kiến "trinh sát". Khi phát hiện được mục tiêu, những con kiến này tiếp cận cẩn trọng, một cách từ từ, để thẩm định số lượng mối được triển khai. « Kiến dọ thám phải tỏ ra thật kín đáo, bởi vì nếu như những con mối canh gác phát hiện ra, chúng sẽ phát tín hiệu báo động và tất cả các con mối sẽ quay về nơi trú ẩn».
Một khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, kiến trinh sát trở về ổ để gầy dựng một đạo quân mà nó cần. Khoảng từ 100 đến 600 con sẽ được huy động, xếp hàng hành quân. Đi đầu đàn là kiến trinh sát, nối theo sau là hai hàng sĩ quan phụ trách đánh dấu đường đi bằng cách tiết ra chất pheromone. Kế đến là những con kiến « to », còn có nhiệm vụ bảo vệ tiền tuyến của lực lượng chủ đạo. Phần quân còn lại đi ở phía sau theo từng hàng 4 con, được bọc hậu bởi những con « to » khác.
Dàn trận và giao chiến
Khi đã áp sát mục tiêu, kiến bắt đầu dàn trận. Những con kiến to có chiều dài thân thể 2cm được xếp vào vị trí tiên phong. Ai tung tín hiệu tấn công ? Điều này anh Erik Frank vẫn chưa rõ. Nhưng bất thình lình cả đội kiến « lớn » cùng lao lên đánh. Mục tiêu là gì ? Phá tan lớp đất phủ do mối dựng nên. Một nhiệm vụ được hoàn thành một cách chóng vánh. Tiếp đến là đợt tấn công của những con kiến nhỏ hơn, nhưng đôi càng có đến 5mm cơ bắp.

Kiến "nhỏ" Megaponera có cơ bắp của càng dày 5mm.Wikimedia Commons
Về phía loài mối, chúng cũng phải tổ chức phản công, chia thành hai giới. Những chú lính mối có đôi hàm to khỏe xung trận chặn kẻ thù một cách kiên cường, trong khi mà những con mối thợ tìm cách trở về hầm để đào thoát.
« Hành động kháng cự của chú lính mối thật là anh hùng. Chúng cắn ở bất kỳ đâu có thể, cắt đứt càng và râu, ôm chặt lấy bụng kiến, và không buông ra nữa. Nhưng có những con kiến khác đến tăng viện, chúng cào cấu để cho mối phải nhả ra, đến lượt chúng cắn lại, cho đến khi nào con mối đầu gần lìa thân… Và kiến bao giờ cũng là kẻ thắng trận và tiếp tục lao vào những con mối thợ còn lại. Nhưng đương nhiên, kiến cũng phải trả một cái giá khá cao ».
Theo ghi nhận của Erik Frank, sau mỗi trận như thế, ít nhất có đến 1/3 quân kiến bị thương trong một cuộc giao chiến chỉ kéo dài từ 10-15 phút.
Vận chuyển phế binh
Chính vào lúc này, điều đáng ngạc nhiên nhất diễn ra. Đứng ngoài trong suốt cuộc chiến, những con kiến to khỏe giờ lại bắt tay vào việc. Số thì tha về tổ chiến lợi phẩm, mỗi con có thể tha đến 6 con mối. Số khác thì chuyển thành lính cứu thương, vận chuyển những con kiến bị thương.
« Sau trận đánh, mỗi trận kéo dài từ 10-15 phút, các chú kiến không những bắt đầu thu gom chiến lợi phẩm là những con mối, mà còn thu nhặt cả những con kiến lính bị thương, những con bị mất một hay hai càng. Những con này sau trận đánh đã tiết ra loại chất pheromone để cầu cứu kiến cứu thương đến hỗ trợ. Nhờ vào loại hóa chất này kiến cứu thương có thể đến xem những con bị thương, ngậm chúng vào miệng và tha chúng về tổ ».
Những con nào bị thương quá nặng, mất hơn 3 càng thì đành chấp nhận số phận hẩm hiu bị bỏ rơi. Một sự sàng lọc đòi hỏi sự tham gia của chính những con kiến đó. Chúng sẽ không phát đi tín hiệu hóa học nào, cũng như không chấp nhận vị thế ưu tiên.
Anh Erik Frank lưu ý : « Đó không phải là một sự hy sinh tình nguyện, một hành động tự phát. Những con kiến này không thể đứng dậy và phát tín hiệu tuyệt vọng được. Nhưng cách hành xử này, mang tính tập thể, dựa trên một cơ chế rất đơn giản, lại có vẻ rất hiệu quả ».

Kiến "to" Megaponera (Major) có chiều dài cơ thể lên đến 2cm.Wikimedia Commons
Dịch vụ quân y hiệu quả
Một khi về đến tổ, trách nhiệm được giao lại cho các con kiến « bác sĩ quân y  ». Chúng sẽ chăm sóc những con kiến « phế binh » đó như thế nào ? Đến đây, các nhà khoa học Đức đành phải dùng đến một thiết bị camera cực kỳ nhỏ để quan sát 6 ổ kiến được gầy dựng trong phòng thí nghiệm.
Những con kiến đóng vai trò « bác sĩ » này phải hành động nhanh và tỉ mỉ, bởi vì chúng chỉ có một giờ để chữa trị, do các vết thương lành sẹo rất nhanh và tình trạng nhiễm trùng sẽ lan toàn thân. Chúng rửa sạch các vết bẩn hay gỡ bỏ những phần còn thừa của mối còn dính trên vết thương bằng cách liếm thật nhiều lên đấy, theo như giải thích của nhà khoa học với đài phát thanh Radio Canada.
« Ngay ở trong các tổ kiến, có những điều mà chúng tôi đã quan sát thấy và chúng tôi cho rằng đây là điều mới mẻ : đó là những con kiến cũng biết chăm sóc vết thương cho con khác, như là dùng móng để lau chùi vết thương hoặc phòng ngừa vết thương bị viêm nhiễm.
Tôi không chắc liệu có thể nói đó là một sự chữa trị thuốc thang hay không bởi vì có thể đó là những chất phòng ngừa giúp rửa vết thương, lau chùi đất, có rất nhiều khả năng để phòng ngừa sự viêm nhiễm. Tuy nhiên, người ta không rõ là vết thương đó đã bị viêm nhiễm rồi hay chưa và các con kiến khác có chăm sóc chống viêm nhiễm bằng chất kháng sinh hay không »
Một thế hệ thuốc kháng sinh tương lai ?
Một câu hỏi khác cũng được Erik Frank và ông K. Eduard Linsenmair, giáo sư hướng dẫn đặc biệt quan tâm : Hiệu quả chữa trị như thế nào ? Để tìm hiểu vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã chọn ra 120 con kiến « phế binh » chỉ mất có hai càng và chia làm ba nhóm : Một số không được điều trị, số khác được đặt vào môi trường vô khuẩn và số còn lại được hưởng chế độ điều trị. Kết quả là : « 80% trong nhóm đầu đều chết trong vòng 24 giờ, 20% tử vong trong nhóm thứ hai và duy chỉ có 10% tử vong trong nhóm thứ ba ».
Kết quả nghiên cứu này của Erik Frank được giới khoa học chuyên nghiên cứu về kiến trên thế giới hoan nghênh. Đây là lần đầu tiên, người ta có thể tập hợp các tài liệu chứng minh một cách khoa học về việc kiến chăm sóc trực tiếp các vết thương cho các con khác đồng loại.
« Chính xác là như vậy. Đây là lần đầu tiên người ta đã nhìn thấy một hệ thống, các bác sĩ, có thể gọi như vậy, cùng với các xe cứu thương của các con kiến. Bởi vì bình thường ra, các con vật chỉ tự chăm sóc các vết thương của bản thân, ví dụ con tinh tinh tự chăm sóc vết thương của nó. Thế nhưng, chăm sóc vết thương cho các con khác thì đây là lần đầu tiên, người ta quan sát thấy được một hệ thống chăm sóc có tổ chức hẳn hoi. »
Erik Frank cho biết thêm trong quá trình làm nghiên cứu sau đại học tại trường đại học Lausanne Thụy Sĩ, anh hy vọng có thể tìm ra lời giải cho những câu hỏi : Những nạn nhân đó chết vì cái gì, hay nói một cách khác bản chất của tình trạng nhiễm trùng là gì ? Thành phần nước dãi mầu nhiệm của kiến có gì ? Bản chất của việc điều trị là phòng bệnh hay chữa bệnh ? Những lời giải này có thể giúp các nhà sinh học khai mở hướng đi tìm ra những thế hệ thuốc kháng sinh mới.

Kiến Megaponera "bác sĩ" chăm sóc đồng loại bị thương sau trận đánh.Wikimedia Commons

T.Lan sưu tầm 

Họp mặt với Nguyệt Minh ở Saigon

Hơn nửa thế kỷ mới họp mặt được với Nguyệt Minh ở Saigon...



  
 Tụi Thanh gồm các bạn An Trinh, Đoàn Liên, Dung, Anh Thư, Liên,Thuận, Tâm mini,Loan ,Liên Hoa(mới tham gia),Thanh và vợ chồng Nguyệt Minh cùng gặp nhau ở nhà hàng Hoàng Ty,gần nhà Dung,Liên ...
   
 Đúng là gặp nhau tay bắt mặt mừng... nói chuyện hỏi nhau í ới mãi mà... quên cả gọi món ăn.... nhân viên trong quán ra nhắc năm lần bảy lượt mới đủng đỉnh gọi món...mà thực ra bây giờ gặp nhau nói chuyện mới là lẽ sống vui thú của tuổi chúng mình cơ mà...phải thế không ??? hihi...


   

 Vợ chồng Nguyệt Minh rất phong độ cứ như là đang đi hưởng tuần trăng mật vậy! Ai cũng mừng nhìn thấy Đoàn Liên và Dung có phần tươi tắn hơn trước... chỉ cần gặp nhau chuyện trò vui vẻ là thấy vui mừng rồi há...
  
 Mong gặp lại nhiều nhiều bạn về Saigon vui đoàn tụ lắm thay...
                          
 Kimthanh 

Mar 23, 2018

Giao Chỉ, Yuồn, Keo - Bài khảo cứu của GS.Đoàn Văn Phi Long

Lời giới thiệu : Giáo Sư Đoàn văn Phi Long là giáo sư dạy Toán tại trường Trưng Vương trước 1975. Sau khi định cư tại Úc song song với việc dạy Toán cho nhiều thế hệ học sinh Việt tại gia, từ năm 1987 Thầy còn bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu về Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Đây là một chương trong khoảng 30 chương của " Nguồn gốc dân tộc Việt Nam". 

Đặc san TV6370 xin cám ơn Thầy Đoàn văn Phi Long đã gửi bài cho, và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn TV và độc giả khắp mọi nơi .

Giáo sư Đoàn Văn Phi Long

Giao Chỉ, Yuồn, Keo
Gs Đoàn văn Phi Long

Ý nghĩa từ Yuồn

Nạn “cáp duồn” xuất hiện tại Cao Miên và ngay cả trên lảnh thổ VN: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, vào cuối 1945, đầu 1946 thời Pháp thuộc.

Cáp Yuồn tiếng Miên là chặt đầu dân Việt, do VN chiếm Thủy Chân Lạp và do người Miên bị khích động bởi chuyện truyền miệng ”Tả quân Lê Văn Duyệt chiếm đóng Campuchia bắt ba người phản loạn chôn sống, chụm lữa để chảo trên đầu nấu nước trà. Bị nóng dãy dụa làm đổ nước bị quân lính đánh và nói Chắc tức tê ông tức là làm đổ trà của Ông”. Chuyện này ở Campuchia ai cũng biết.
Học giả Vương Hồng Sểnh giải thích Yuồn hay Duồn là biến dạng của từ Vương, tên người Miên dùng để chỉ Nguyễn Vương, giải thích không đúng vì tộc Mã Lai gọi VN là Yuavan hay Yavana, Chàm là Yuan, Bà Na là Yuân, Radê là Yoân, Gia Rai là Yuăn, Stiêng là Yuơn, Mạ là Yen, Mường là Yịt. Tộc Juang ở bang Odisha đông bắc Ấn Độ, thuộc ngữ tộc Munda trong Nam Á, Juang gần với tộc Kharia. Tên Juang phát âm tương tự như Yuồn. (TK 1)

Đa số đều cho từ yuavana có gốc Ấn Độ: Người dân ở những nước bị ảnh hưởng văn hoá Ấn độ gọi dân khác văn hoá là yuon, yuan, biến thể từ chữ yuavana, có nghĩa là man di– một hình thức tự cao, cho rằng văn hoá của mình là số một.
Nhưng trong website Hindu baby names, Yuvana thường dùng đặt tên cho con trai trẻ, khỏe mạnh (young, healthy boy), còn tính từ là yuva. Vậy yuvana là mầm non, sơ khai, nguyên thủy không có ý xấu, trái ngược với quan niệm thông thường. Human tiếng Anh chuyển sang Ấn là man danh từ hay mana tính từ. (TK 2)

Yuồn ở Khmer

Theo ghi chép bởi sứ thần Zhou Daguan, được nhà Nguyên (Mông Cổ) gởi tới Angkor năm 1296 thời đế quốc Khmer “Khi Đế quốc Khmer xâm lấn, dân bản xứ đã trốn lên núi cao và trở thành nô lệ và được gọi là Tchuang” mà theo tộc Pear từ juang có nghĩa là người. (TK 3)

Như vậy chứng tỏ người dân Khmer đã chiếm đất của dân Yuồn Tchuang để rồi bị Yuồn VN chiếm lại, đúng là gậy ông đập lưng ông.

Yuồn Quảng Đông, Quảng Tây

Người Tàu giải thích các từ này là Khoảng rộng phương Đông, Khoảng rộng phương Tây, giải thích không hợp lý vì họ không biết ý nghĩa của từ này. Thứ nhất không ai dùng tên tầm thường cho một nước, thứ hai tên đáng lý phải là Đông Quảng, Tây Quảng nếu đây là tiếng Hán có tính từ đi trước, đằng này tính từ đi sau nên hai tên trên không phải là tiếng Hán. Quảng là Guang có âm rất gần với từ Yuang, Yuan, Yuồn do đó hai từ này là Yuồn Đông, Yuồn Tây tiếng Việt cổ.

Nguồn gốc từ Yuồn

Yuồn cố nguồn gốc từ Human chớ không phải từ Yuvana Ấn độ mặc dầu có phát âm tương tự.
HumanàYuanàYuồn, Duồn

Ý nghĩa từ Keo

Có đọc trên mạng viết là tộc thiểu số miền Bắc vẫn còn gọi người Việt là Keo. Đi hỏi một anh bạn kỷ sư người Bắc từng đi khắp miền thượng du Bắc Việt thì được xác nhận đúng là Keo.
Người miền Nam và Trung được đồng bào Thượng và các nước phía Nam gọi là Yuồn như đã nói ở trên.
Có mạng viết “Dân Việt có trên 70 triệu người , chiếm 86 % dân số cả nước, người Tày -Thái gọi người Kinh là "Cần Keo, côn Keo" ( Keo= Giao...). Người Giao Chỉ khác người Hán ở chỗ tầm vóc thấp nhỏ hơn, lăn lẳn thân mình (gắm) chứ không to béo” (TK 4)

Nơi khác viết chữ "Kinh" (để chỉ về dân tộc Kinh chúng ta, ngày xưa dân tộc Kinh chúng ta có tên gọi khác là “Kằn Keo, Kon Yuôn” có lẽ được xuất phát từ trùng âm của danh động từ chỉ về ăn uống là từ "Kin" của các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày, Thái, Lào... gọi tộc người chúng ta. (TK5)

Bên Tàu có tộc thiểu số Jing-zu là tộc chiếm đa số ở Việt Nam hiện nay. Từ jing có nghĩa là kinh đô nên người Kinh chỉ dân ở kinh thành còn người Thượng là dân sắc tộc ở vùng cao nguyên, rừng rú.
Trung Hoa hay rút gọn một cụm từ thành từ kép như bành trướng củng cố thành bành củng, dân sắc tộc thiểu số thành tộc dân được Hà Nội đảo ngược cho đúng văn phạm VN một cách chẳng giống ai là người dân tộc!! Một thí dụ khác, từ chất lượng là chữ rút gọn của hữu chất hữu lượng nhưng dùng ở VN thì sai vì ta đã có vũ lượng, tửu lượng nên chất lượng là lượng của chất, mất ý nghĩa ban đầu. Tiếng Tàu không có văn phạm (phát biểu của Tôn Dật Tiên), họ muốn nói thế nào cũng được nhưng tiếng Việt có văn phạm nên không phải tiếng Tàu nào cũng áp dụng được cho VN. Người Quảng Đông nói “nị gả cho ngộ li” nhưng người Việt phải nói “Má gả em cho anh đi” mặc dầu từ gả có gốc Tàu.

Ngoài ra đây là từ xì trum nghĩa là một từ có hàng chục, hằng trăm nghĩa. Lý do là chữ Hán rất khó học khó nhớ, học 7 năm trung học được 2000 từ chỉ đủ cho việc hằng ngày. Trung Cộng đơn giản lại chừng vài trăm từ cho cán bộ nói như máy và vì vậy từ ngữ rất nghèo nàn, thua xa từ Hán Việt có từ thời Tần.

Người Keo là người Cau

Theo một số tác giả tên Văn Lang là cây Cau vì cây cau tượng trưng cho người Việt, đền thờ ở VN đều có trồng cau. Vì thế người Việt là người Cau?

Chùa Keo

Có một tên Keo khác là chùa Keo ở miền Bắc mà không ai biết có nghĩa là gì. Có người cho Keo là tên làng Keo ở gần chùa Keo.
Tỉnh Tà Keo của Campuchia gần Châu Đốc là Blue Emeral God tức là Thần Ngọc bích. Như vậy chùa Keo miền Bắc thờ thần Tà Keo đạo Bà La Môn.
Tôn giáo đầu tiên ở VN và Trung Hoa là Bà La Môn, phù hợp với ý kiến nhiều học giả Tây phương.
Nho Giáo của người Thương (Shang) là một tôn giáo phát xuất từ Ấn Độ gồm có hai hoạt động chính:
-cúng bái
-trình diễn lễ nhạc

Dao ni

Sách Điền hải Ngũ hành chí kể tộc Dao ni đánh trống gõ chuông vào buổi sáng. Dao là do chữ Iu của Iu Mien, còn ni là người tu hành.
Người Dao theo Ấn giáo, làm lễ nhạc và do đó có từ ni. Tiếng Tàu là song âm tiết như bá bá, cô cô, và không có văn phạm, nên từ Dao phải đi kèm một từ khác, ở đây là từ ni.

Người Keo trong khảo cổ

Đây là giả thuyết duy nhất nói về từ Keo do các nhà khảo cổ miền Bắc đưa ra:
"Ở Bắc Việt thời tiền sử có hai loại người chính yếu là Indonesian cổ và Austromélésien. Sau đó loại Austromélanésien biến lần và chỉ còn lại loại Indonésien cổ. Về sau kết hợp với các bộ lạc khác thành một loại nhân chủng mới: loại Nam-Á tức dân tộc Keo tổ tiên chính xác của dân tộc Việt Nam ngày nay. Dân Keo đã cư trú lâu đời ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Việt từ xa xưa".

Giả thuyết không cho biết tổ tiên Keo của dân tộc Việt là ai vì tên Indonesien cổ do các nhà khảo cổ Tây phương đặt ra dùng để chỉ một loại người cổ ở Đông Nam Á, không ám chỉ Nam Dương.

Keo, Dao có nguồn gốc từ Hu trong Human
Hu-->Hi-u-->Ki-u, Jiao, Jiu, Chiu -->Keo, Dao, Cửu

Giao Chỉ

Có hai cách lý giải từ Giao Chỉ

Lý luận theo ý nghĩa (meaning)

Giao Chỉ có nghĩa ngón chân cái  bẻ quẹo ra.
Trung Hoa phiên âm từ Tây phương rất kỳ quặc như Malasia thành Mã lai á (ngựa lại Á châu), America thành Mỹ lị gia (Đại gia lị người đẹp), Hawaii thành Hạ oai di (rợ làm oai kẻ dưới), Paris thành Bá lê (trăm trái lê), Washington (Hoa thịnh vượng bất ngờ), Nhật Nam (phía Nam mặt trời) nhưng vùng này lại ở Bắc bán cầu. Thực sự Nhật Nam là từ phiên âm của Chenan hay Jenan, tiếng Chàm.
Do vậy nếu lý giải theo nghĩa hầu hết không đúng, xin dẫn chứng như sau:

1. Gen không thể biến đổi quá nhanh.

Cổ sử ghi quận Giao Chỉ có 10 huyện, 92.379 hộ, 746.237 người. Quận Cửu Chân có 7 huyện, 35.743 hộ, 166.013 người. Còn quận Nhật Nam do nhà Hán mới đặt sau khi đánh chiếm Nam Việt, gồm có 5 huyện, có 15.460 hộ, 69.485 người.
Thời Mã Viện dân số Giao Chỉ dưới một triệu hầu hết có ngón chân cái bẻ quẹo, thế mà chỉ khoảng hơn 2000 năm sau thì 99.999% ngón chân cái hết dị tật.

Lời bàn: Điều này khó có thể xãy ra vì theo di truyền học phải cần thời gian tối thiểu vài triệu năm.
Vì ở trên cây nên khỉ có ngón cái bẻ quẹo ra để chân có thể bám vào nhánh cây nhưng khi con người xuống đất đi bằng hai chân thì hai ngón cái phải khép vào, nếu không sẽ bị gảy khi chạy nhanh.

2. Nước Âu Lạc nối tiếp Văn Lang thời Hùng Vương gồm Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn Tây.

Khi bị Mã Viện (14TCN-49) xâm chiếm thì bị đặt tên là Giao Chỉ.
Sách khác: Hán Thư chép”năm Tân Vị, 110 BC một năm sau khi nhà Triệu mất, nhà Hán diệt nước Tây Vu”, Tây Vu theo Hán Thư chính là vùng đất Cổ Loa cũ.

Lời bàn: Vậy là dân Việt thời xưa có hai chân bình thường nhưng khi bị Mã Viện xâm lăng thì bổng chốc hai ngón chân cái bẻ quẹo thành giao chỉ, chắc là do phẩn uất quá độ.
Một ông ở Hà Nội còn viết là có gặp đồng bào thiểu số có ngón cái giao nhau và nhìn thấy nỏ thần An Dương Vương ở Hà Nội.

3. Không phải cái gì học giả Ta,Tây Tàu nói đều đúng.

Cổ sử ghi Giao Chỉ còn được dùng để gọi người Việt cổ. Chữ Giao (交) nghĩa là giao nhau, qua lại, kết hợp với nhau. Ý kiến quan trọng khác chữ Giao trong Giao chỉ liên quan đến Giao Long là một linh vật của vùng này mà sau này phổ biến rộng rãi hơn trong vùng được biết như là con Rồng.
Riêng chữ Chỉ không được chép và lý giải thống nhất. Do vậy chữ Chỉ được hiểu theo nhiều cách, từ đó chữ Giao Chỉ cũng được hiểu theo nhiều cách. Đỗ Hựu trong bộThông Điển cho rằng: "Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)". Ý kiến này được nhiều học giả Trung Hoa và Việt Nam chấp nhận.

Các nhà sử học Việt Nam kể từ Nguyễn văn Siêu, Trần Trông Kim, Đào Duy Anh…đều theo cách giải thích thứ hai này.

Năm 1868, bác sĩ Clovis Thorel trong đoàn thám hiểm đã nhận xét hiện tượng hai ngón chân cái giao nhau là "một đặc điểm của giống người An Nam". Sau này các học giả Pháp khác cũng ghi nhận điều này.
Hiện tượng hai ngón chân cái trẹo ra ngoài để có tư thế giao nhau khi hai bàn chân đặt song song gần nhau được gặp không chỉ ở các dân tộc Đông Dương mà còn ở các dân tộc khác như người Mã Lai, Xiêm, Trung Hoa, Ả Rập, Malanesia, và người Negrito, chỉ khác nhau ở mức độ. Nhưng hiện tượng này rất hiếm gặp ở người châu Âu. Đây không phải là hiện tượng bệnh lý, mà có thể coi là một biến dị lại tổ (variation atavique) do xương mọc không thẳng như bình thường (TK 6)

Lời bàn: Hầu hết các học giả đều cho người Giao chỉ có chân bị tật di truyền nhưng người Âu Mỹ thì không. Thực sự người Âu Mỹ mang giày từ nhỏ nên ngón cái thẳng vì bị bó sát. Các giống khác, nhất là dân nước chậm phát triển thường đi chân đất nên ngón cái quẹo ra, nhất là những người mang dép râu, thế nhưng sinh con có chân bình thường. Tương tự đàn bà nhà Thanh có tục bó chân thành nhỏ xíu đi đứng rất khó khăn nhưng con cái thì chân to.

4. Chữ Giao trong Giao chỉ liên quan đến Giao Long là một linh vật của vùng này mà sau này phổ biến rộng rãi hơn trong vùng được biết như là con Rồng.

Lời bàn: Vậy Giao Chỉ là móng rồng à?

5. 80% dân Trung Hoa là người Việt tức ngưới Dao từ ĐNÁ di cư lên phía bắc theo Genetic Relationship of Population in China, bài báo của Giáo sư J.Y.Chu và đồng nghiệp thuộc trường Đại học Texas, đăng trong Tạp chí Proceedings of the National Academy of Science (USA) (Hàn Lâm Viện Khoa Học Quốc Gia của Hoa Ky) ở USA - Vol.95, issue 20, 1763-1768, 29 tháng 7, 1998). (TK7)
Nếu người VN là dân Giao Chỉ thì Trung Hoa ắt phải có tộc Giao Chỉ. Điều này không hề xảy ra trong thời cổ lẫn hiện tại, vậy là có mâu thuẩn trong Luận lý (contradiction).

6. Tất cả các tộc Dao ở Trung Hoa, VN, Lao, Thái, Miến Điện có chân bình thường ngọai trừ người Dao ở Giao chỉ, chuyện quái lạ khó tin.

Lý luận theo phát âm (pronounce)

Muốn tìm nguồn gốc chỉ cần so sánh với từ đồng âm có nghĩa rõ ràng.

Giao chỉ tiếng QT là Jiao zhĩ còn Dao di là Yáo yí (rợ Dao, barbaric Dao). Từ Đông di dùng chỉ rợ phía đông (barbaric), di tiếng QT là yí, sau được dùng cho rợ ở phía nam Hoàng Hà như Man di, Miao di.
Jiao zhĩ và Yáo yí gần đồng âm với nhau. Vậy Dao di đã bị Mã Viện sữa lại thành Giao Chỉ với mục đích nhạo báng hay hạ nhục:
Dao zu (tộc Dao)à Dao di (rợ Dao)à Yáo yíà Jiao zhĩàGiao chỉ

Cửu Lê
Lý giải theo nghĩa, Cửu Lê tiếng Quan Thoại là Jĩu Lí. Lí là đám đông, lê dân là đám dân, dân chúng và Cửu Lê là 9 dân chúng.
Nếu Lý giải theo âm, Jĩu lí đồng âm với Jĩu Yí tức Cữu Di.
Từ Lê rất bí mật nên có rất nhiều học giả bàn đến như BN Lộc cho Lê là dân chúng, LM Kim Định cho Cửu Lê là chín thứ dân trong số đó có Tam Miêu, H. Maspero cho Lê là Thái nhưng Y.Goloubew bảo họ có văn hóa Đông Sơn, Lê Đạo Nguyên tả họ là dân Nhật Nam, Hán Thư gọi họ là Lạc Việt (BNL trang 96,97, TK1), có người còn cho Lê là Mã Lai, Hải Nam, Tây Âu, Thái, Tam Miêu, Hẹ hay Hakka.
Nguyên nhân là từ gốc bị thay đổi làm sai ý nghĩa. Từ Cửu Lê ban đầu có tên là Cửu Di tức Jĩu yí, 9 thứ rợ (thực sự chỉ có Iu Mien, H’Mong), về sau dưới sự thống lĩnh của thủ lãnh Xi Vu mới đổi thành Cửu Lê (jiủ lí) vào thời bàn cổ Thần Nông, Phục Hi, Hoàng Đế (bấy giờ họ Thần Nông đang trên đà suy thoái nên tộc Cửu Lê thừa cơ trỗi dậy xâm lấn quấy phá các bộ lạc khác.

Vậy Cửu Lê là Cửu di. (TK 8)

Ý nghĩa từ Cửu Chân

Lý giải theo nghĩa, Cửu chân là 9 nhận định, thẩm xét hay kiểm tra rất tối nghĩa nên phải loại bỏ.
Lý giải theo theo phát âm Cửu Chân là Jĩu Zheng đồng âm với Jĩu Rén tức Cửu nhân mà từ này gần với Cửu dân tức Jĩu mín.
Jỉu phát xuất từ Hu còn mín là Mong trong từ H’Mong, phù hợp với người H’Mong.

Tên cổ của Cửu Chân

Không một học giả nào tìm được tên cổ trước thời Mã Viện của Cửu Chân.
Lục lọi mãi mới tìm được một tài liệu Trung Hoa cổ hơn thời Mã Viện “Chiu-chih hay Chuli là nơi dừng chân cho tàu thuyền trong các cuộc hải hành từ Trung Hoa tới Ấn Độ, nằm ở phía nam của Đồng Cổ (Đông Sơn)”. (trang 30 TK 9)
Chiu, Chu, Jỉu là số 9, Chiu-chih là Cửu Chỉ (9 ngón) còn Chuli là Cửu Lê (9 dân). Do đó tên cổ nhất của Cửu Chân là Cửu Chỉ hay Cửu Lê, cả hai là biến đổi của Cửu di như trường hợp Giao Chỉ. Vậy Cửu Chân có tên cổ là Cửu Di và là tên của người Mường tức H’Mong.

Địa danh hay sắc tộc có thể mang nhiều tên biến đổi theo thời gian, không gian hay tùy theo sự lựa chọn Hán tự vốn rất rắc rối, lộn xộn, một từ có hàng chục hay hàng trăm nghĩa, tra cứu khó khăn mất thì giờ.

Xi Yu

Xi Yu là tổ tiên của người Khương ở Tứ Xuyên. Người Tây Khương (Khel hay Khmer, BNL, TK 1), theo Hậu Hán Thư, có nguồn gốc từ Tam Miêu. Sử ghi là người Khương ở Tây Bắc di cư về Tây và Nam. Vậy người Khương cư ngụ ở Thanh Hải phía bắc, Tây Khương ở Tây Tạng, Tứ Xuyên, Quí Châu và Vân Nam ở phía nam. Dân di cư tới Tây Tạng tự xưng là Wu (Human) Khương, họ ở rải ra các vùng tự trị ở Tây Khương, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Gansu và Vân Nam, ngoài ra còn có người H’Mong. Người Khương là hậu duệ của Cửu Lê và Tam Miêu và Xi Yu là thủ lãnh của Cửu Lê cũng là tổ tiên của người Khương. (Từ Xi Yu part II TK 10).

Người Khương là người Iu Miên tức là người Dao.
Người Dao hay nổi loạn, sớm nhất từ thời Hán. Trong thời Tấn và Tống họ có thêm nhiều cuộc nổi loạn chống người Hán. Trong 15 năm từ 1316 tới 1331, họ có hơn 40 cuộc nổi dậy. Lớn nhất là cuộc nổi dậy một thế kỷ từ 1371 làm hoàng đế nhà Minh hoảng sợ (1368-1644) phải gởi ba đoàn đại binh tới dẹp các cuộc khởi nghĩa.

Một giải thích khác của Giao Chỉ

Một nhà nghiên cứu Nhật Bản và một tiến sĩ người Mỹ dựa vào một Lễ Ký của học giả Khổng Dĩnh Đạt (574-648) đời Đường (618- 907) như sau
"Chỉ, túc giả, ngôn Man ngoại thời đầu hướng ngoại nhi túc tại nội nhi giao, cố vân Giao Chỉ (Lễ Ký chính nghĩa của Khổng Tử, quyển 12, Vương chế sớ, Kinh Lễ, TK11). Dịch như sau:
"Chỉ là ngón chân hay bàn chân, chữ Hán viết khác, có nghĩa dân Man lúc nằm ngủ thì đầu hướng ra ngoài còn chân thì hướng vào trong, đâu lại với nhau, do đó có tên Giao Chỉ" (Kinh Thi TK 11)

Bài này gồm hai chương Giao Chỉ và Yuồn Keo, rút gọn lại thành một chương, nằm trong tổng số 30
chương của quyển “Nguồn gốc người VN”.

GS. Đoàn Văn Phi Long

Tham Khảo

1. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc

 2. bachpan.com/Meaning-of-Yuvana.aspx

3. en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Daguan

4. chimviet.free.fr/dantochoc/nguyenkhoi/ngkhoin066_TenHoCacDanToc2.htm 5. http://lvlkhoa1993.nice-gallery.net/t1001-topic

6. vi.wikipedia.org/wiki/Giao_Chỉ

7. Genetic Relationship of Population in China, by Dr J.Y.Chu Texas University

8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Cửu_Lê

9. A History of South-East Asia của D.G.E.HALL

10. XI Yu part II

11. vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Lễ

vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Thi