Jul 19, 2013

KARA ( phần hai)

Suối câm lặng.
TUL
        




           Mộ KARA nằm trên vạt nương cuối cùng của rẫy bắp , sơ sài như thân phận của ông khi còn sống .  Người  thanh niên làm bia  mộ khắc tên Kara bằng cement ,   thiếu nữ mang vòng hoa  màu tím đặt lên mộ , vòng hoa nàng tự hái trên rẫy và kết lại thành vòng tròn . Chàng không nói gì , nàng sụt sùi khóc:
           _ Tại sao Kara phải chết?
           _..........!
           _ nếu mình không lên nhà chòi ?  Kara không phải ra bờ suối suốt đêm , thì có thể Kara sẽ không chết !
           _................!
           _ mình nợ Kara nhiều lắm !!!  
           Chàng vẫn không nói gì , không trả lời những câu hỏi của nàng , chỉ  lẳng lặng xếp  những hòn đá vòng quanh mộ......
            Người thanh niên nhớ lại.......  khi chàng lớn lên  , đã thấy Kara thấp thoáng trên rẫy từ bao giờ ,  mọi công việc mùa màng của gia đình chàng đều  do Kara  gánh vác , mùa nào thức nấy , lợi tức vừa đủ ăn, những năm  phụ trội , Kara dều được thưởng công xứng đáng . cũng có năm hạn hán  hay mưa bão làm thiệt hai mất trắng , nạn sâu rầy làm Kara mất ngủ  nhưng tất cả ông  đều vượt qua , không một tiếng than van.  Chàng cũng chưa từng bao giờ nghe ai phàn nàn về Kara , những năm bố còn sống , mỗi lần có dịp đi săn bố thường dắt Kara theo , những lần đi  dài ngày ở Ban Mê Thuột , Kara đảm trách việc dựng lều , nấu cơm , sinh hoạt thành thạo trong rừng  . Một hôm trời mưa to Kara một mình trở về nhà , đứng sững ở cửa ,Kara vừa khóc vừa  báo tin bố  bị VC bắt đi mất tích .  Cả nhà lo sợ điên cuồng , Kara cũng bỏ đi luôn mấy ngày không thấy mặt. Sau đó một tuần cũng chính Kara là người cõng bố về nhà , bố với hai chân xưng tấy không bước nổi .  Sau đó được biết Kara đã vào rừng , tìm cách liên lạc ,đem hết tiền Kara có được qua những mùa rẫy,   " ủng hộ tất cả cho cách mạng "  để  bố được thả về.   Kara đã tự ý không bàn với ai, đó là yêu cầu bảo mật mà " cách mạng"  muốn như một điều kiện  tiên quyết dể bố được thả. .   Khi gia đình biết chuyện , mấy lần tìm cách trả lại  tất cả chi phí cho Kara , ông chỉ lắc đầu nói với mẹ chàng :
              Nếu bà chủ cho tôi nhận , trả tiền thì không , có nợ đâu mà trả!!!
Thuyết phục thế nào cũng không được , mẹ nói :
              _ thôi cho Kara vậy.
ông vẫn lắc đầu:
              _ vẫn là tiền đó thôi , không lấy đâu !!!
Biết không thể nào khác , bố làm giấy  cho Kara một phần nương rẫy ,  và căn nhà chòi mọc lên trên đó như một sở hữu độc đáo.   Vài năm sau bố binh rồi mất , con chó Bim nằm phủ phục dưới quan tài suốt đêm , thật khó tin Bim đã  khóc một vũng nước mắt vì thương bố..  Kara là người đã  ôm   Bim về  nhà sau dám tang , Bim chỉ muốn nằm mãi ngoài mộ vời ông chủ.
              Một ngày mùa đông miền biển , gió lạnh heo hút trên những con dốc  ,sơ sác những thân cây  khô , cây đậu bắp , đu đủ , cafê.  Kara ngổi một mình hút thuốc trên những bậc thang bằng tre dựng trên nhà chòi. , làn khói ấm áp toả ra bao lấy khuôn mặt khắc khổ , những  ngụm khói dài  từ cái dọc tẩu bằng nứa ( một loại tre nhỏ )sau khi đã hun cháy một cục thuốc đen nhánh đặc quẹo.  Ngày hôm đó cũng là buổi đầu tiên con Lin được Mẹ mang về nuôi .
             Lin cũng  là một thiếu nữ miền thượng , có chút xíu máu người Hoa . Lin tứ cố vô thân ở với mẹ nuôi  . Khi  bà qua đời Lin được mẹ chàng xin về nuôi .  Lin nhỏ bé , lanh lẹn ,  điệu đà tuổi thiếu nữ mới lớn . Lin thường hay lên rẫy hái rau , đậu báp các thứ về nấu ăn  giờ rảnh Lin  cũng chạy lên rẫy phụ việc . Lin tìm cách gần gũi Kara , Lin  xách dồ ăn lên rẫy  hai người cùng ăn , rồi  Lin  hát cho Kara nghe ,  Lin thường chọc phá hay ăn cắp cái dọc tẩu để  Kara rượt đuổi  Lin  trên rẫy , tiếng  Lin  cười trong veo như âm thanh ngoài suối vọng qua những sườn đồi .
             Có lần mẹ hỏi Kara :
             _ mày có ưng con Lin ? tao gả nó cho .
 Kara mỉm cười , đôi mắt lần đầu tiên thấy long lanh hạnh  phúc .  Gia đình sửa soạn bữa cơm cho hai người nên vợ chồng ,  trước hôm làm lễ ra mắt  Kara mang Lin ra bờ suối , tắm  và làm lễ trình diện  với  Thần Linh rồi trở về nhà chung vui , Kara uống nhiều hơn còn Lin thì nhảy múa ca hát suốt buổi .  
         Hạnh phúc tưởng như thế mãi , không ngờ chỉ sau một thời gian  Lin bỏ nhà ra đi . Chẳng ai biết lý do ,   Lin đi  cũng tình cờ như  Lin  đến  thoáng đó và mất. . Kara đau khổ chờ đợi nhắn tin và đi tìm  khắp nơi , nhưng đều tuyệt vọng , ông ít nói càng trở nên câm lặng .
          Một ngày sau dó vài năm , Lin trở về bế theo một bé trai khoảng hai tuổi . Lin phủ phục dưới chân Kara xin được tha thứ , Kara không nói gì , mắt nhìn xa xăm về phía biển , ông đỡ Lin đứng dậy , cho Lin một số tiền rồi đi thẳng xuống rẫy .
          Từ đó không ai nhắc đến Lin nữa.
          
                     
 (còn tiếp) 

xin click vaò link dưới đây để xem KARA phần một 
           
http://trungvuong6370.blogspot.com/2013/01/kara.html
  

Jul 15, 2013

LY CÀ PHÊ ĐEN ĐÁ _ NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG



LY CÀ PHÊ ĐEN ĐÁ.


Mỗi người có một sở thích riêng,
Một kiểu cà phê anh đã quen,
Anh ngồi ngắm cà phê nhỏ giọt,
Từng giọt đời giọt cà phê phin.
 
Anh chẳng thử cà phê Mocha,
Cà phê sữa, Cappuccino….
Lúc nào cũng cà phê đen đá,
Dù quán sang hay quán vỉa hè.
 
Vào quán cà phê chuyện đời thường,
Ngồi với bạn bè hay người thương,
Anh không thích uống cà phê ngọt,
Ly cà phê anh cho ít đường..
 
Anh cho đá vụn vào trong ly,
Những mảnh đá trong như pha lê,
Quậy đều với cà phê đậm đặc,
Mùi cà phê thơm chưa bay đi.
 
Anh quậy ly cà phê bâng quơ,
Thìa chạm vào ly như chuyện trò,
Trong lúc anh đợi chờ em đến,
Ly cà phê cũng biết hẹn hò.
 
Anh nâng ly cà phê nhấp môi,
Thưởng thức vị đắng như mùi đời,
Thưởng thức cà phê thơm mùi nhớ,
Cà phê ơi và tình yêu ơi.
 
Giản dị như tính cách của anh,
Ly cà phê đen đá chung tình,
Những khi lòng bâng khuâng trống trải,
Anh nhớ cà phê và nhớ em

Nguyễn Thị Thanh Dương.
     ( June, 8, 2013)
 
(Viết theo đề nghị của anh Tài Huỳnh. Cám ơn anh đã gợi ý chủ đề “Cà phê đen đá “)

CHÚC MỪNG MINH QUANG LÊN CHỨC BÀ NỘI.



                                                                   TIN VUI

                           Bé gái  LILIAN AÍ LIÊN TRAN


Con là Lilian Ai Liên Tran  xin kính chào các BÀ TRẺ. 6370

                 Cháu nội đầu tiên của TV Minh quang vừa chào đời ngày hôm nay JULY 14 
                 ĐSTV 6370 cùng  các bạn CHÚC MỪNG MINH QUANG ĐƯỢC LÊN
                 CHỨC BÀ NỘI và thương  chúc bé LILIAN  ÁI LIÊN hay ăn chóng lớn .




Jul 13, 2013

TRANG THƠ NHẠC CUỐI TUẦN

CÓ CHĂNG MÙI HƯƠNG 
                                       TRONG TIẾNG VĨ CẦM   ĐAN THỌ



Trang thơ nhạc cuối tuần thân mời các bạn đọc bài  trích đoạn về Nhạc Sĩ Đan Thọ và nhạc phẩm bất hủ "Chiều Tím" qua bài viết của nhà văn Du Tử Lê.

CÓ CHĂNG MÙI HƯƠNG TRONG TIẾNG VĨ CẦM ĐAN THỌ

Nhìn lại sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam, một số nhà nghiên cứu cho rằng, cuộc di cư khổng lồ của hơn một triệu người miền Bắc vào Nam, đã thổi ngọn lửa đổi mới, rực rỡ lớn cho sinh hoạt VHNT cho vùng đất trù phú, êm ả này.
Một số người khác, lại ví von rằng, sự thay da đổi thịt của sinh hoạt văn nghệ miền Nam, tựa như một cuộc cách mạng quyết liệt, lay động, đổi thay tận gốc rễ nếp sinh hoạt văn nghệ của miền Nam.




                                      Nhạc sĩ Đan Thọ


Ở lãnh vực tân nhạc, người ta ghi nhận sự xuất hiện của hàng hàng, lớp lớp những tác giả trẻ mà, Trịnh Công Sơn, được coi là một hiện tượng đặc biệt. Bên cạnh đó, những tên tuổi khác như Nguyễn Ðức Quang, Anh Việt Thu, Vũ Thành An, Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên... đã đóng góp phần của họ, để làm thành cái được gọi là “đợt sóng mới.” Ðó là thế hệ nhạc sĩ khởi nghiệp ở điểm mốc cuối hoặc sau thập niên (19)60.
Tuy nhiên, thực tế, những “đợt sóng mới” này vẫn không thể làm lu mờ, hay đẩy lùi sự chói lòa những tên tuổi lớn thuộc thế hệ tiền chiến hoặc, khởi nghiệp từ những năm đầu thập niên (19)50 như Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Phạm Ðình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Tuấn Khanh, Y Vân, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Nguyễn Văn Ðông, Nhật Bằng, v.v... Phải chăng đó là một trong những điểm đặc thù của dòng tân nhạc miền Nam 20 năm?

Giống như lãnh vực thi ca, khi một nhạc sĩ thuộc thế hệ trước 1954 đã định hình thì, vị trí của họ là vị trí bất biến. Kể cả những nhạc sĩ có số lượng tác phẩm không nhiều lắm. Nhưng, nếu ca khúc của họ, đã được quần chúng đón nhận thì chúng là những viên ngọc bất hoại. Ðó là những tác phẩm đã vượt qua được vạch phấn thời gian. Sống còn sau thử thách với những ngọn lửa vùi dập, lãng quên mau...

Nằm trong trường hợp vừa kể, ở lãnh vực thi ca, người ta thấy có nhiều thi sĩ chỉ cần để lại cho đời một bài thôi, cũng đã đủ thành bất tử. Tỷ như Vũ Ðình Liên với bài thơ “Ông Ðồ Già”; Hữu Loan với “Mầu Tím Hoa Sim”... Về phía tân nhạc, chúng ta có một Nguyễn Văn Tý với “Dư Âm.” Một Nguyễn Văn Khánh với “Nỗi Lòng.” Một Lê Hoàng Long với “Gợi Giấc Mơ Xưa.” Một Vũ Thành với “Giấc Mơ Hồi Hương” hoặc, một Hoàng Dương với “Hướng Về Hà Nội”...

Hiện tượng này, cũng ứng hợp với nhạc sĩ Ðan Thọ - Tác giả của hai ca khúc đã sớm trở thành những viên ngọc quý của kho tàng tân nhạc miền Nam. Ðó là ca khúc “Tình Quê Hương” phổ từ thơ Phan Lạc Tuyên và, “Chiều Tím” phổ từ thơ Ðinh Hùng. Ðặc biệt, ca khúc “Chiều Tím” còn có thêm cho riêng nó một định mệnh khác thường...




Theo lời kể của nhạc sĩ Ðan Thọ thì, ngoài phần thơ (sẵn có từ trước), thi sĩ Ðinh Hùng còn hợp tác với ông, để hoàn tất phần ca từ thứ hai.

Ở lời hai này, thi sĩ Ðinh Hùng đã đem được hình ảnh tiêu biểu của nhạc sĩ Ðan Thọ vào “Chiều Tím” qua phần ca từ mở đầu phần thứ hai:

“Từ đấy đàn nhớ thanh âm chùng dây vĩ cầm...” trước khi dòng nhạc đi tiếp với những lời thật đẹp, như thơ, nồng nàn hương tình yêu mà tiếng đàn vĩ cầm của Ðan Thọ giữ được và gửi vào tâm hồn người thưởng ngoạn:

Người xa vắng rồi chiều sang em ơi!
Thương ai hoa rơi lá rơi...
Người ấy lòng hướng trăng sao, hồn say chiến bào
Tìm trong tiếng đàn...
mùi hương chưa phai
Ý giao hoan người nhớ chăng?

Mây gió...
bốn phương giăng hàng
Mùa thu thêu áo nét hoa mơ vàng
Và em với chàng kề vai áo...
vấn vương

Chiều hỡi!
Ðàn nhớ mong nhau, tình thương bắc cầu
Người đi hướng nào?
Tìm trong chiêm bao
Tóc bay dài, gió viễn khơi...
 




 

  Căn cứ theo tiểu sử do website Ðất Việt.com ghi lại thì nhạc sĩ Ðan Thọ sinh năm 1924 tại Nam Ðịnh. Ông sở trường Violon và Saxophone Tenor. Từ năm 1936 tới 1942, ông học chữ và nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas d' Aquin (Nam Ðịnh). Thầy dạy violon là Frère Maurice. Sau đấy, từ năm 1942 tới 1945, ông học hòa âm, và sáng tác với Giáo Sư Tạ Phước cùng Vũ Ðình Dự. Ngay trong năm 1945, ông đã được mời chơi đàn violin tại phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng (Nam Ðịnh). Từ năm 1948 tới năm 1954 ông gia nhập Ban Quân Nhạc Ðệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với các nhạc sĩ Nguyễn Túc, Nhật Bằng, Văn Phụng, Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Cầu, Nguyễn Hiền...

Hai nhạc phẩm đầu tay của ông (sáng tác chung với cố nhạc sĩ Nhật Bằng), nhan đề “Bóng Quê Xưa” và “Vọng Cố Ðô” sáng tác năm 1952. Năm 1956, ở Saigon, ông trở lại học thêm về kèn Saxophone với Quân-Nhạc-trưởng Schmetzler và nhạc sĩ Phi Luật Tân Mano Umali. Năm 1954 tới 1956, khi ban quân nhạc di cư vào Nha Trang, ông sáng tác ca khúc bất tử “Tình Quê Hương” - Phổ từ một bài thơ của nhà thơ Phan Lạc Tuyên.
Vẫn theo website Ðất Việt.com thì những ca khúc như “Chiều Tím” (thơ Ðinh Hùng), rồi “Xa Quê Hương” (viết chung với Xuân Tiên), “Mimosa Thôi Nở” (thơ Nhất Tuấn), “Dương Cầm” (ý thơ Mùi Quý Bồng) được ông viết trong thời làm việc ở Saigon.

Năm 1956 và 1961, với tư cách Trưởng Ban Nhạc Nhẹ của Ðài Phát Thanh Tiếng Nói Quân Ðội ông được cử vào phái đoàn nghệ sĩ của miền Nam, đi trình diễn tại Bangkok và Manila.

Như một số nhạc sĩ cùng thời với mình, hằng đêm, nhạc sĩ Ðan Thọ trình diễn ở nhiều phòng trà, vũ trường... Ông cũng thu thanh tiếng đàn vĩ cầm của ông cho các đài phát thanh và, vô tuyến truyền hình quốc gia.
Trong một bài phát thanh trên đài VOA vào trung tuần tháng 3 năm 2003, nhà báo Trường Kỳ đã ghi nhận khá đầy đủ về phần đời trôi nổi của nhạc sĩ Ðan Thọ. Qua trích đoạn dưới đây, những người yêu mến dòng nhạc trữ tình của Ðan Thọ, mới được biết thêm rằng, tác giả “Chiều Tím” không chỉ nổi tiếng như một vĩ cầm thủ mà, ông còn nổi tiếng với tiếng kèn saxo và nhạc Jazz nữa:

“Trong lãnh vực vũ trường, Ðan Thọ là một trong những nhạc sĩ kỳ cựu nhất. Trước ngày đất nước chia đôi, ông đã từng với nhạc sĩ Nguyễn Túc trình diễn tại nhiều phòng trà ở Hà Nội. Vừa vào đến Sài Gòn, ông đã được mời cộng tác ngay với vũ trường 'Grand Monde' tức 'Ðại Thế Giới'. Năm 57 ông qua vũ trường Ðại Nam cộng tác với ban nhạc gồm nhiều nhạc sĩ nổi tiếng.

“Ðến năm 62, vì lệnh cấm khiêu vũ nên ban nhạc này đổi qua trình diễn nhạc Jazz với một thành phần gồm các nhạc sĩ nổi danh như: Văn Hạnh, Lê Văn Thiện và Huỳnh Anh. Ðối với khán giả Việt Nam thời đó, trình diễn nhạc Jazz là một điều mới mẻ. Do đó ban nhạc của vũ trường Ðại Nam đã lôi cuốn được rất nhiều người đến thưởng thức.
“Một thời gian sau ông về vũ trường 'Croix Du Sud', sau đó đổi tên là 'Tự Do'. Tại đây ông cộng tác với các nhạc sĩ Hoài Trung, Hoài Bắc cùng với Lê Văn Thiện, Huỳnh Anh, Nguyễn Văn Thanh, Văn Ba, v.v... Sau đó ông được giải ngũ vào năm 1969 để sang cộng tác với vũ trường Mỹ Phụng cho đến năm 72 và sau đó là phòng trà Bồng Lai.
“Tại miền Nam trước biến cố tháng 4 năm 75, trong rất nhiều năm, bóng dáng Ðan Thọ với cây vĩ cầm hoặc với cây kèn saxo đã là một hình ảnh quen thuộc với những người lui tới các phòng trà và vũ trường về đêm (...).
Tôi trộm nghĩ, có dễ trong số những người yêu mến dòng nhạc trữ tình của nhạc sĩ Ðan Thọ, cũng ít ai biết ngoài vĩ cầm, đã trở thành một thứ ID, thẻ nhận dạng tài hoa Ðan Thọ, ông còn là một hảo thủ nhạc Jazz, một lãnh vực âm nhạc, tương đối xa lạ với người Việt thời trước tháng 4, 1975.


Ðược con bảo lãnh qua Hoa Kỳ, tháng 3 năm 1985, ông có nhiều năm định cư tại miền Nam California. Trước khi di chuyển về lại thành phố New Orleans và hiện nay là Houston, Texas. Ðể khuây khỏa nỗi buồn của cảnh đời tỵ nạn, nhạc sĩ Ðan Thọ đã học cách hòa âm nhạc bằng máy computer. Bên cạnh đó, ông còn có thêm một thú vui êm đềm khác là nuôi chim hoàng anh.
Bản chất vốn chí tình, cởi mở với bằng hữu, tác giả “Chiều Tím” đã không ngần ngại truyền thụ nghệ thuật nuôi chim hoàng anh tại nhà, cho bất cứ ai có ý muốn bước vào thú nuôi chim tại nhà, nhẹ nhàng này. Hơn thế nữa, để khuyến khích, ông cũng sẵn sàng tặng cho bằng hữu, những cặp chim hoàng anh tốt nhất, ra đời từ “trại hoàng anh tại gia” của ông. 
Tôi không biết tác giả “Tình Quê Hương” có tìm thấy mối tương quan nào chăng giữa tiếng hót của chim hoàng anh và, tiếng vĩ cầm sớm đi vào ca khúc của ông? Nhưng, tôi trộm nghĩ, cách gì thì nơi thẳm sâu tâm hồn người nhạc sĩ tài hoa, nặng lòng với quê hương này, vẫn mãi là:
... Chiều hỡi!
Ðàn nhớ mong nhau, tình thương bắc cầu
Người đi hướng nào?
Tìm trong chiêm bao
Tóc bay dài, gió viễn khơi...
Du Tử Lê


Jul 12, 2013

Lời hay ý đẹp

PDUNG ĐÀO
KIM THOA

[Attachment(s) from pdung dao included below]

Những lời hay ý đẹp này do Dung sưu tầm và được Kim Thoa trang trí,thiết kế thêm phần linh động ,gởi đến các bạn để cùng nhau suy ngẫm và ngắm cảnh đẹp có sức thuyết phục lòng người nhé.Cầu mong các bạn luôn giữ mãi được tình bạn thân ái.

Attachment(s) from pdung dao

1 of 1 File(s)

UNKNOWN_PARAMETER_VALUE




















.

Jul 11, 2013

Chuyện " Thật " Ngắn - An Khanh





Cười Ra Nước Mắt

                   Một buổi chiều muà Hạ êm ả, mặc dù nắng vẫn nung hồng trên những bông hoa đỏ quanh hồ, mọi người vẫn thảnh thơi nhàn nhã. Một bữa tiệc nhỏ mới xong và một vài người bắt đầu bơi, những vòng bơi thong thả... bơi bướm.. bơi ếch ... bơi sải, thả ngửa hay lặn sâu xuống đáy hồ ! sấp ngửa lặn hụp , nước ấm làm hệ thần kinh sảng khoái dễ chịu . Cậu đã bơi xong và lên ngồi trên ghế, cậu cũng ung dung đong đưa đoạn chân cụt còn lại. Chị ngồi bên cậu ân cần hỏi han :
                 - Bữa nay chị mới thấy " thương tích chiến tranh " của cậu đấy ! Tại sao cậu bị thương?
                 - Em bị cả hai chân cơ chị ạ ! Đúng là cái số ! Toán quân đi trước chẳng ai làm sao, em đi giữa đạp trúng mìn nghe nổ long trời ! Mở mắt ra thì thấy một chân cuả mình nó đâu mất rồi! Được chở đến bệnh viện thì máu ra nhiều quá ! Em còn nghe mấy y tá nói với nhau :
                 - Ông này mệt rồi ...em ngất đi.
                 
Khi tỉnh lại thì thấy mình trong phòng hồi sinh và bị cưa đi mật một chân trái, còn chân phài thì bị mất cái gót ! Lúc đó các bác sĩ VNCH ( Quân Y ) đã hết lòng cứu chữa để em chỉ bị mất một chân trái, ngoài ra tay và ngực cũng còn ghim đầy những mảnh vụn của mìn ! (mìn Mine)
                 Chị cười buồn và nói :
                 - Thật sự bây giờ chị thấy cần phải cám ơn những chiến sĩ VNCH như cậu , vì họ đã đem tất cả tuổi thanh xuân và ngay cả mạng sống của mình để bảo vệ quê hương miền Nam được tự do hạnh phúc - chống lại hiểm họa Cộng Sản !
                 Cậu cười ra nước mắt ! vì lần đầu tiên trong cuộc đời tàn phế, cậu thấy có một người ngỏ lời cám ơn cậu ! Họ đang đứng bênh vực cho chính nghĩa ! Hết lòng tri ân cậu ! Âu cũng còn chút an ủi cho thân phận hẩm hiu. Cậu lại bảo chị:
                - Người ta toàn đem em ra chế diễu không đó chị ơi !
                - Thế là thế nào ?! chị quắc mắt !
                - Người ta bảo em" Có Công Với Cách Mạng !" Vì Cách Mạng Đặt Mìn em đạp cho nổ!
                _ ?
                - Chẳng có công với Cách Mạng ! thì là gì nữa hả chị!?
                - Tội nghiệp cậu chưa ? !

Jul 9, 2013

Thăm bạn




THƠ HOA KỲ DUNG
Thăm Bạn


Bạn đến từ phương xa
Đi tìm bao kỷ niệm
Những ngày thơ ấu xưa
Còn long lanh ánh mắt
Nụ cười ngây ngô cũ
Thấp thóang chút ưu phiền

Bạn ngồi ôn dĩ vãng
Lưu luyến những giòng thơ
Những ân tình đã vỡ
Những tấm lòng đổi thay
Bạn trầm ngâm xa vắng
Nắng chiều vàng trên vai

Buổi chiều nơi xứ lạ
Vây quanh bạn bè xưa
Vài câu đùa ngốc dại
Vạn lời thăm ân cần
Bạn cười trong đắy mắt
Nụ thân tình nở hoa



Hoa Kỳ Dung
Tháng Baỷ, ngày saú, năm hai ngàn mười ba.

Jul 8, 2013

Một Thành Phố Cổ Dưới Biển Hàng Ngàn Năm



Đỗ Phương Thu 
sưu tầm internet

Phát Hiện Chấn Động Một Thành Phố Cổ Dưới Biển Hàng Ngàn Năm
Nhà khoa học Franck Goddio và nhóm thợ lặn đang kiểm tra một bức tượng Pharaoh. Bức tượng làm bằng đá hoa cương màu đỏ có chiều cao hơn 5 mét, được tìm thấy gần ngôi đền lớn của Heracleion dưới đáy biển.



2. Phần đầu của một bức tượng khổng lồ bằng đá hoa cương đỏ trong đền thờ Heracleion. Đây là hình ảnh thần Hapi, vị thần lũ lụt của sông Nil, biểu tượng của đất đai màu mỡ trù phú.



3. Các nhà khoa học đang trục vớt bức tượng thần Hapi cao 5,4m bằng đá grani đỏ. Đây là bức tượng lớn nhất từng được tìm thấy của vị thần này.



4. Nhiều bức tượng lớn và mảnh vỡ của một bia đá khổng lồ được trục vớt lên xà lan. Các bức tượng của Pharaoh, hoàng hậu và thần Hapi có niên đại thế kỷ 4 TCN còn bia đá vào khoảng thế kỷ 2 TCN.

5. Mẫu vật bằng vàng (11 x 5cm) được tìm thấy ở phía Nam Heracleion, trên đó là đoạn văn bản chữ Hy Lạp có nội dung như là một tầm ngân phiếu vào thời đại của vua Ptolemy III (246-222TCN) về việc xây dựng.



6. Bức tượng đồng của Osiris, một vị vua bị ám sát nhưng sau đó đã hồi sinh. Nó được trang trí với vương miện Atef cùng đôi mắt được làm nổi bật bằng vàng ròng.


7. Một nhà khảo cổ đang đo bàn chân của bức tượng đá khổng lồ được phát hiện tại khu vực Heracleion trong vịnh Aboukir.



8. Chiếc đèn dầu bằng đồng có niên đại khoảng thế kỷ 2 TCN, được phát hiện trong đền thờ Amun.



9. Franck Goddio bên tấm bia đá khắc chữ cao 1.9m được xây dựng bởi Nectanebo (378-362 TCN). Tấm bia này trông tương tự như tấm bia Naukratis nổi tiếng trong bảo tàng Ai Cập tại Cairo.



10. Tấm bia này được coi là bằng chứng rõ ràng về việc đây chính là thành phố Heracleion được nhắc đến trong huyền thoại và các thư tịch cổ.



11. Các nhà khoa học đang kiểm tra một phiến đá được khảm những miếng vàng có niên đại vào khoảng thế kỷ 6 – thế kỷ 2 TCN.



12. Một đồ dùng bằng vàng có tên gọi là Phiale được phát hiện tại di chỉ Heracleion. Phiale là những chiếc đĩa nông thường được dùng để chứa đồ uống hay lễ vật trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại.



13. Một trong những bức tượng còn nguyên vẹn nhất tại đây là bức tượng bằng đá đen của nữ hoàng Ptolemy trong trang phục giống như hình ảnh của nữ thần Isis.



14. Còn đây là một bức tượng của hoàng hậu Ptolemaic bằng đá granit đỏ. Bức tượng có kích thước 490cm và nặng chừng 4 tấn
.


15. Các nhà khảo cổ đang tiến hành trục vớt bức tượng của thần Hapi cao 5.4m và cũng được làm bằng đá granit đỏ.

16. Trải qua hơn 2 ngàn năm chìm dưới đáy sâu của Địa Trung Hải, những bức tượng tuyệt vời này mặc dù đã phị hư hỏng phần nào nhưng vẫn còn cho thấy được vẻ uy nghi của chúng.



17. Bức tượng cao 5 mét này đã bị bùn đất dưới đáy biển vùi lấp hoàn toàn, chỉ còn trồi lên phần đầu tượng bị rêu mốc và san hô phủ kín.



18. Hình ảnh thần Hapi vẫn đứng sừng sững dưới đáy biển suốt hàng ngàn năm qua như minh chứng cho sự bất diệt của lịch sử và văn hóa.



19. Sau hàng ngàn năm ngủ yên dưới đáy biển tối tăm, phần đầu đã bị rời ra của một bức tượng Pharaoh khổng lồ lại được đón ánh nắng mặt trời.



20. Một bức tượng bằng đồng của vi Pharaoh triều đại thứ 26 được tìm thấy tại đền thờ Amon ở Heracleion. Hình ảnh nhà vua cởi trần và mặc váy là trang phục truyền thống rất đặc trưng của các Pharaoh.

dolong
·        


TRỞ VỀ THẾ KỶ THỨ 17 -TUL


PLYMOUTH ( PLYMOTH ) PLANTATION.

          400 năm về trước  , khi luật về đánh vần trong tiếng Anh chưa   rõ ràng ,  tên   làng   Plymouth  thường được phát âm  thành " Plymoth", nhưng dần về sau  Plymoth  lại được dùng  phổ biến hơn và được chính thức chọn để gọi tên làng  cho tới ngày nay.
           MAYFLOWER là con tàu  chở những người Anh di dân đầu tiên  ,  200 năm sau ngày họ tới Mỹ ,  hình thành cái tên  PILGRIMS để chỉ những hành khách trên chuyến tàu này .
            PILGRIMS   những người đầu tiên ăn mừng LỄ TẠ ƠN ( THANKS GIVING), sau một năm đầu tiên cực khổ , bệnh tật , sự cố gắng và sức làm viẹc của   họ đã được đền bù với những mùa màng bội thu  ,  đời sống phong phú dần , những người Pilgrims cử hành lễ Tạ Ơn  (The first  Thanks Giving) vào mùa thu 1621, kéo dài tới 3 ngày , 200 năm sau vào khoảng giữa những năm 1800s , lễ hội  này trở thành phổ biến cho tới ngày nay.
            DỰNG LẠI LÀNG PLYMOTH  , ĐEM LỊCH SỬ VỀ HIỆN THỰC . 
            _1627 là cái mốc  được  chọn để trở về Plymoth, tức là 6 năm sau những Pilgrims đến lập nghiệp ỏ Mỹ. Những thông tin về thời kỳ  này được tìm thấy đầy đủ nhất trong những tài liệu lịch sử .
            _1627 cũng là  thời gian Plymoth  đã hình thành  , phát triển lớn mạnh  để rối họ bắt đầu đi tới những vùng khác khai phá , mở mang , xây dựng 
           _ Làng Plymoth được tái dựng lại chỉ cách nơi những Pilgrims lập nghiệp ngày xưa vào khoảng 3 miles về phía bắc thành phố Plymouth, tiểu bang Massachusetts. Đứng trên tháp cổng làng từ sườn đồi nhìn xuống toàn thể làng có hình góc canh của một viên kim cương , nhìn ra vịnh Cape Cod xa xa .
           _ Làng được tái dựng bằng  1/2 theo  mô hình nguyên thuỷ" half the scale " of the 1627 site.


Toàn cảnh làng Plymoth
Những người làm việc trong làng  ăn mặc , sinh hoạt ..
vai trò của họ diễn tả trung thực đời sống làng Plymoth vào thế kỷ 17
TUL và Đỗ Phương Thu ( AP1)
với một  thôn nữ  làng 



Trên đường đất dẫn vào làng , hai bên là ruộng ngô, cô gái  trên đang quỳ  rải hạt hoặc làm cỏ, làm luống chuẩn bị mùa màng  đầu  xuân.  Bà này diễn vai cầy bừa như thế ...suốt ngày tháng chăng? đó không phải là môt việc dễ dàng.


Du khách đến thăm làng có cảm tưởng đang trở về quá khứ .
Có những bâng khuâng vì khó mà tin được cũng như sợ hãi nếu tưởng tượng đặt mình vào vị trí của những người di dân khai phá đầu tiên !!!  Chúng ta sẽ làm được gì và sống thế nào? 
 Cảm nhận và thán phục sức mạnh họ đã đổ ra trên mảnh đất này , để có thể 
  tồn tại qua những  mùa đông khắc nghiệt  ? và xây dựng một tương lai  trên đất Mỹ  giàu có. 



Mái nhà ..là nhà của ta 
......không có máy sưởi . không đèn đóm, không  TV , không ...internet!!!!!
không xe , không tủ lạnh , không bếp gas .......họ chỉ có đôi bàn tay  , ý chí  và nhất là trái tim khao khát  sống .

Thuyền được chê  tác bằng cách làm rỗng những thân cây .....

Phòng sinh hoạt tiêu biểu của một căn nhà trong làng .

TUL, Phương Thu và MQ đang  xuống bếp xem làm bánh
bếp lửa  và lò nướng bánh đều bằng đất sơ sài 


Những phụ nữ của thế kỷ 17
TUL để ý họ cứ đóng riết vai trò này nên nét mặt và dáng dấp cũng rất xưa
,trông họ như trong một bức tranh cổ.

TUL muốn ngồi gần bếp lửa chụp hình cho " sống động " như thật
nhưng không được phép vì họ sợ nguy hiểm cho du khách


Hai em đang làm quen những  thổ dân trong  làng  và quan sát cách họ nấu nướng
cũng giống như ở nhà quê VN






Giường ngủ thế kỷ 17 coi bộ ....còn hơn VN ( ở  quê mình thế kỷ 21 )


Bàn ăn lịch sự  tuy đơn giản
TU
L thấy trên bàn là một tô salad 


MQ đội nón của ...thế kỷ 17 cũng y chang như nón bi giờ.


Em TUL đi ra sau nhà ...đuổi gà
một cặp trống mái .


Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
(NK)




Thác nhân tạo  , lực chuyển vận hành  cỗ máy xay bắp  bên trong.


Hai em vừa trở về từ thế kỷ 17 ...mệt  đừ  và cảm thấy tri ân  những tiền nhân , những thế kỷ đã qua ,  thế kỷ mình đang sống  và ...cả những thế kỷ sắp tới .!

Biển Cape Cod!!!
Chào tạm biệt ....các em sẽ còn tiếp cuộc hành trình 
để có dịp  hầu chuyện các bạn 
(Em ĐPT  mệt không chịu xuống biể n chụp hình 
tuy nhiên em  cũng  rốt ráo trở  về thế ký 21 với TUL và MQ) )
AI MUỐN ĐƯỢC BỎ QUÊN Ở THẾ KỶ 17?