Jul 24, 2011

Bộ Tranh Việt Nam Anh Hùng Dân Tộc

Chu Oanh sưu tầm


Mẹ Âu Cơ bảo vệ lãnh thổ! Y phục dựa theo y phục đồng bào miền núi và vương miện trên trống đồng. Quyền trượng có hoa sen làm đài nâng 2 nhành lúa trĩu hạt bao quanh bản đồ Việt nam – tượng trưng cho dân tộc Việt nam. Tranh vẽ theo lối fantasy và vẽ nhân dịp đồng bào biểu tình chống Trung Cộng tại Sài gòn và Hà nội tháng 5, và 6, 2011


Cha Lạc Long Quân bảo vệ lãnh hải! Tranh vẽ theo lối fantasy và vẽ nhân dịp đồng bào biểu tình chống Trung Cộng tại Sài gòn và Hà nội tháng 5, và 6, 2011. Cha Lạc Long Quân cầm giáo loại săn cá của ngư dân. Bán thân là rồng.


Hai anh em dũng tướng nhà Lê là Đinh Lễ – Đinh Liệt. Tranh vẽ theo lối truyện tranh tân thời với hai con hổ tượng trương cho hai mãnh hổ tướng Đinh Lễ, Đinh Liệt.


An Dương Vương Thục Phán chém yêu tinh gà trắng xây thành Cổ Loa với sự trợ giúp của thần Kim Qui. Gà trắng có lúc là biểu tượng của Tàu. Tranh vẽ theo lối fantasy art. Y phục của An Dương Vương phỏng tác theo hình ghi khắc trên trống đồng.


Bùi Thị Xuân tại pháp trường. Tranh ghi nhận lại phút oanh liệt của bà. Nhưng thể hiện theo lối fantasy art và luật phối cảnh của truyện tranh hiện đại với hàm ý bà như đã hoàn thành xong vai trò và nhẹ nhàng, thanh thản trở về trời.


Chinh phụ tiễn chồng tòng chinh – Lệnh vua hành quân trống kêu dồn, Quan với quân lên đường, Đoàn ngựa xe cuối cùng, Vừa đuổi theo lối sông. Phiá cách quan xa trường, Quan với quân lên đường, Hàng cờ theo trống dồn Ngoài sườn non cuối thôn, Phất phơ ngập trời bay….(Hòn Vọng Phu 1)


Chinh Phụ bế con trông chồng với bối cảnh thác Bản Giốc Cao Bằng, đây cũng là nơi có đá Vọng Phu – Có ai xuôi vạn lý nhắn đôi câu giúp nàng, Lấy cây hương thật quý, thắp lên thương tiếc chàng. (Hòn Vọng Phu 2)


Đặng Dung dưới trăng mài gươm là một hình ảnh bi hùng trong lịch sử và thi ca (qua bài thơ Thuật Hoài nổi tiếng của ông) Tranh vẽ theo lối phối cảnh truyện tranh hiện đại. Hình ảnh thân thể Đặng Dung lực lưỡng tráng kiện không chỉ miêu tả ông thực vốn là người giỏi võ nghệ mà còn ý kêu gọi người Việt nam phải văn võ song toàn. (body and mind)



Đặng Tất – Tướng tài đời hậu Trần (cha của Đặng Dung) Ông đã lãnh đạo quân đội nhà hậu Trần đánh tan quân Minh tại trận Cô Bô – 1 chiến tích oanh liệt của ông. Tranh vẽ lại cảnh Đặng Tất tại Cô Bô. Y giáp dựa vào y giáp nhà Trần.


Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh được biết tới tài năng quân sự khi còn nhỏ tuổi đã bày trò cỡi trâu đánh trận. Tranh vẽ theo lối fantasy art với ý tưởng đưa hình ảnh cỡi trâu và cờ lau gắn bó với Đinh Bộ Lĩnh. Tranh cũng muốn đưa ý niệm thần thánh hóa những anh hùng lịch sử Việt nam, không chịu thua kém Trung Hoa.


Đinh Công Tráng và Phạm Bành cùng nghĩa quân tại căn cứ Ba Đình được bao bọc bởi lũy tre dày. Lá cờ của triều Nguyễn và phong trào hưởng ứng hịch Cần Vương.


Vua Gia Long Nguyễn Ánh – Thống nhất đất nước sau bao năm dài gian khổ chiến tranh, nội chiến. Tranh vẽ theo di ảnh của ông. Dùng bối cảnh kinh thành Huế vì ông lập kinh đô tại Huế (giảm thanh thế của Thăng Long) và ảnh bản đồ đất nước vào triều đại của ông. Hai chữ Việt Nam tên đất nước cũng từ triều của ông mà có tới nay.


Hồ Quý Ly và con Hồ Nguyên Trừng. Thời đại nhà Hồ được biết đến bởi Những cải cách mới và nhất là sự phát minh súng thần cơ (hỏa pháo cải tiến) và thuyền cổ lâu (thuyền chiến lớn có hai tầng)


Hoàng Diệu trong trận tử chiến giữ thành Hà Nội. Di ảnh của ông được dùng trong tranh. Bộ y giáp của triều Nguyễn còn lưu lại tại viện bảo tàng. Cảnh Pháp đánh thành Hà Nội phỏng theo tranh vẽ của sách sử của Pháp


Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Dùng di ảnh thật của ông đưa vào tranh.


Hội Nghị Diên Hồng
Tranh thể hiện tinh thần quật khởi, bất khuất
và yêu độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.



Tiếp nối truyền thống anh hùng. Tranh thể hiện tráng sĩ Sát Thác trao lại thanh giươm bảo quốc trừ dân cho thế hệ trẻ ngày nay.


Vua Hùng. Biểu tượng của nền văn minh lúa nước và đồ đồng thời đại nhà nước Văn Lang.


Công chúa Huyền Trân. Một cuộc hôn nhân đổi lấy bờ cõi từ Chiêm Thành cho Đại Việt. Cảnh vẽ công chúa Huyền Trân tại Chiêm Thành chuẩn bị cho hôn lễ, lòng buồn hướng về quê hương


Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo được xem có công trong việc cải cách hành chính và đặt cơ sở cho nền độc lập sau này. Y phục vẽ theo tượng của hai vị tại đền thờ.

Lạc Long Quân và Âu Cơ. Tranh vẽ theo lối fantasy art với Lạc Long Quân nửa người là thân rồng. Tay ông cầm loại giáo thường dùng của ngư dân (thuận theo thuyết ông dắt 50 con mở mang miền biển) Y phục của Âu Cơ dựa vào hình vẽ trên trống đồng và của người Tây Nguyên. Tay cầm bó lúa tượng trưng cho ngành trồng trọt, nông nghiệp (thuận theo thuyết bà dắt 50 con mở mang trên đất liền) Hình ảnh bông lúa cũng hàm ý nói đến nền văn minh lúa nước Hòa Bình
Lê Chân – Một trong những nữ anh thư lừng danh nước Việt. Bà là người có nhan sắc, giỏi võ nghệ lại có tài thơ phú. Bà được Trưng Vương phong là Thánh Chân công chúa và bà rất giỏi thủy chiến. Tranh vẽ theo lối fantasy một trận thủy chiến của bà.


Lê Đại Hành Lê Hoàn – Vẽ theo lối fantasy art. Ông từng trông giữ thập đạo quân (thập đạo tướng quân) dưới thời vua Đinh. Cho nên tranh vẽ với bối cảnh đoàn hùng binh. Phía trên có rồng hiện ra tượng trương cho sự trỗi dậy của một Đại Cồ Việt. Các cờ hiệu lấy từ các linh vật được tạo ra trong khu đền thờ thời tiền Lê và tiền Lý.


Lê Lai dũng cảm mặc áo bào của Lê Lợi đột phá vòng vây của quân Minh


Vua Lê Thái Tổ Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh. Tranh vẽ theo lối fantasy art. Có thần Kim Qui dâng Thuận Thiên Kiếm. (Trên mai rùa có ký hiệu của Ngũ Hành Âm Dương: gợi ý về các khám phá hiện nay cho thấy thuyết này cũng có phần bắt nguồn từ Việt nam). Trong tranh có các chiếc lá với dòng chữ “Lê Lợi Vi Quân, Nguyễn Trãi Vi Thần” theo kế sách của Nguyễn Trãi


Lê Văn Duyệt – người có công mở mang đất đai nông nghiệp vùng miền nam. Ông là người điều hành việc đào kênh Vĩnh Tế.


Lý Nam Đế Lý Bí và Triệu Quang Phục. Y giáp được phỏng theo các tranh vẽ thường thấy của họa sĩ Việt nam


Vua Lý Thái Tổ nằm mộng thấy rồng bay – dời kinh đô và đặt tên là Thăng Long. Tranh vẽ theo lối fantasy art với một số đặc trưng của Thăng Long


Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà bản dịch của Việt Toon – Hình Lý Thường Kiệt được phỏng theo các pho tượng Hộ Pháp Thần tại chùa cổ Việt Nam. Ví ông cũng như các vị anh hùng Việt nam là những vị thần thánh giáng trần bảo vệ non sông. Bức tranh này được làm đặc biệt để yểm trợ tinh thần yêu nước, gìn giữ giang sơn tổ tiên đặc biệt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa


Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà bằng tiếng Hán – Hình Lý Thường Kiệt được phỏng theo các pho tượng Hộ Pháp Thần tại chùa cổ Việt Nam. Ví ông cũng như các vị anh hùng Việt nam là những vị thần thánh giáng trần bảo vệ non sông.


Lý Thường Kiệt và bài thơ Nam Quốc Sơn Hà bằng tiếng Hán, với bối cảnh trận chiến tại Như Nguyệt, nơi ông sử dụng bài thơ để khích lệ lòng quân – Hình Lý Thường Kiệt được phỏng theo các pho tượng Hộ Pháp Thần tại chùa cổ Việt Nam. Ví ông cũng như các vị anh hùng Việt nam là những vị thần thánh giáng trần bảo vệ non sông


Mai Hắc Đế Mai Thúc Loan. Vẽ theo lối fantasy art. Y phục Mai Hắc Đế theo y phục của người Tây Nguyên. Ông mạng Thủy nên dùng màu đen và cỡi trên lưng con Huyền Vũ. Gợi ý niệm về Kinh Dịch / Ngũ Hành mà theo một số học giả ngày nay phát hiện cũng có phần khởi xuất từ Việt nam. Trong tranh là thác Bản Giốc. Thác nước của Việt nam


Ngô Vương Ngô Quyền và trận đánh đi vào lịch sử trên sông Bạch Đằng. Tranh vẽ theo lối fantasy art và luật phối cảnh của lối truyện tranh mới. Y giáp được dựa theo một số tranh cổ và sự tưởng tượng. Bàn tay vung ra nắm đấm với ý nói: sẽ đập tan mọi cuộc xâm lược.


Chúa Nguyễn Hoàng (triều Nguyễn) người có công khai phá, mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam. Tranh miêu tả chúa Nguyễn cùng dân di cư xuống miền Nam. Y phục dựa theo tượng của ông tại đền thờ.




Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi tại ải Nam Quan. Không chỉ nói về giai thoại Nguyễn Phi Khanh buộc Nguyễn Trãi quay về tìm cách phá giặc cứu nước mà còn muốn lồng vào tranh hình ảnh ải Nam Quan thuộc chủ quyền Việt nam. Bàn tay chỉ của Nguyễn Phi Khanh cũng nhấn mạnh ý này


Nguyễn Thiện Thuật cùng nghĩa binh căn cứ Bãi Sậy trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng Hịch Cần Vương. Tranh vẽ mô phỏng theo di ảnh của ông


Nguyễn Trãi sau khi đại thắng quân Minh đang thanh thản gát kiếm viết lại bài Cáo Bình Ngô lừng danh. Tranh vẽ theo lối fantasy art. Dòng chữ viết thẳng lên trời như là những dòng thiên thư. Bối cảnh là một phần vách núi ảnh thật của ải Chí Linh nơi quân Lam Sơn đánh tan tác quân Minh. Trong tranh còn có cây vải và con rắn gợi ý tới vụ án “Lệ Chi Viên” sau này của ông


Nguyễn Tri Phương đôn đốc quân chống giặc Pháp đang tấn công thành
Tranh vẽ dựa theo di ảnh chân dung của ông



Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân cải trang thương buôn đột kích đốt cháy tàu Pháp trên sông Vàm Cỏ. Di ảnh chân dung ông được dùng trong tranh và các bó đuốc lá dừa đặc trưng của miền Nam


Nguyễn Xí – Một trong những khai quốc công thần của nhà Hậu Lê


Phạm Ngũ Lão đan sọt bên vệ đường. Bối cảnh kiến trúc lấy từ khu lăng tẩm lịch sử của nhà Trần


Phan Đình Phùng và Cao Thắng. Hình vẽ được họa theo di ảnh của Phan Đình Phùng. Cao Thắng bên cạnh, tay cầm súng trường vì ông là người đã sáng chế súng cho nghĩa quân


Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương.
Tranh vẽ theo truyền thuyết ông đánh hổ dữ.



Phùng Thị Chinh – một nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Tương truyền bà vừa sanh xong đã dẫn quân đánh giặc. Tranh vẽ theo lối fantasy art và ronmanticism, một tay bồng con, một tay cầm kiếm đôn đốc quân sĩ tiến lên.



Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đang tiến quân đánh phá giặc Thanh vào dịp tết (có cành đào đất Bắc) Bộ trống trận danh tiếng của nghĩa quân Tây Sơn.
Hình ảnh Nguyễn Huệ được vẽ theo các di ảnh còn lưu lại.



Tháng Gióng – Cỡi ngựa sắt phun lửa


Tô Hiến Thành – Chống Chân Lạp xâm lược, chinh phạt Chiêm Thành


Tống Duy Tân – Tranh vẽ dựa theo di ảnh của ông


Trần Bình Trọng thà chết không hàng. Với lối vẽ fantasy art muốn đưa ý niệm “Sinh vi tướng, tử vi thần” của các anh hùng Việt nam. Khi họ chết hồn phách tạc vào non sông để bảo vệ đất nước. Hình ảnh mãnh hổ như “chúa tể sơn lâm” và cũng là hình ảnh dùng chỉ cho các vị tướng sóai (hổ tướng). Bức gông xiềng vươn dậy từ núi rừng = nước Việt Nam dù bị cai trị ngắn hay dài rồi cũng sẽ có ngày bùng lên quật khởi


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đang viết bài hịch lưu truyền muôn đời: Hịch Tướng Sĩ. Phía sau là bối cảnh trận đánh oanh liệt tại sông Bạch Đằng. Y giáp phỏng theo tượng ông tại Sài gòn và tranh vẽ trên tiền của Việt Nam Cộng Hòa


Trần Nguyên Hãn – danh tướng của khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng quân Minh xâm lược và lập thành nhà Hậu Lê. Tranh phỏng theo tượng Trần Nguyên Hãn trước chợ Bến Thành.


Trần Nhật Duật – danh tướng nhà Trần. Tranh miêu tả trận đánh oanh liệt đi vào lịch sử của ông – trận Hàm Tử


Trần Quang Diệu – Một trong những mãnh tướng trụ cột của nhà Tây Sơn (Tây Sơn thất hổ tướng). Tranh vẽ theo lối hiện đại phỏng theo di tượng của ông tại đền thờ


Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đang điều quân tại trận thủy chiến lừng danh: Chương Dương. Y giáp dựa vào y giáp của Trần Hưng Đạo nhưng chọn vảy cá để nhấn mạnh về cuộc thủy chiến quan trọng này


Trần Quốc Toản tay bóp nát trái cam khi không được tham dự hội nghị quân sự cao cấp tại Bình Than


Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục. Vua đầm lầy!
Tranh vẽ theo lối fantasy art với hình ảnh một Xà Vương theo phò giúp Triệu Quang Phục (đầm Dạ Trạch có nhiều rắn là một yếu tố gây trở ngại cho các cuộc tấn công của giặc)



Bà Triệu – Tranh vẽ theo lối fantasy art thể hiện lời nói hào hùng của bà “đạp sóng dữ, chém cá kình”. Trong bức vẽ này dùng y phục của bà theo y phục thường thấy của tranh vẽ tiên nữ, cũng với ý niệm các anh hùng Việt nam cũng như thần tiên giáng trần


Bà Triệu – Tranh vẽ theo lối fantasy art thể hiện lời nói hào hùng của bà “đạp sóng dữ, chém cá kình”. Trong bức vẽ này dùng y phục của bà theo y phục áo dài khăn đóng


Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định – Vẽ phỏng theo di ảnh của ông


Việt Nam Anh Hùng – Con Rồng Cháu Tiên – Trai Gái Tài Sắc Vẹn Toàn – Tinh Thần Đại Việt Trường Tồn


Việt Nam Anh Hùng – Con Rồng Cháu Tiên – Trai Gái Tài Sắc Vẹn Toàn


Võ Đình Tú. Một trong Tây Sơn thất hổ tướng. Ông còn được biết đến bởi tài nghệ sử dụng côn thật giỏi nên có danh gọi là “Côn Thần Võ Đình Tú”. Cảnh vẽ lại ông đã múa côn đỡ gạt mưa tên của quân Nguyễn Ánh khi quân đội của ông bị tấn công. Không một mủi tên nào phạm được vào người ông. Y giáp dựa theo y giáp các tượng thờ ngũ hổ tướng nhà Tây Sơn
Ông là một gia tướng giỏi của Trần Hưng Đạo, có biệt tài bơi lặn. Tranh vẽ lại hình ảnh một trận chiến của ông


Yết Kiêu – Ông là một gia tướng giỏi của Trần Hưng Đạo, có biệt tài bơi lặn.
Tranh vẽ lại hình ảnh một trận chiến của ông.



Hai Bà Trưng cưỡi voi chín ngà với trống đồng và biểu tượng mặt trời mọc

http://www.ttxva.org/bo-tranh-viet-nam-anh-hung-dan-toc/



 Hỡi Cô Yếm Đào

             Cái cò lặn lội bờ ao
           Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng ?
           - Chú tôi hay tửu hay tăm
           Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa
           Ngày thời khấn những ngày mưa
           Đêm thời mong những đêm thừa trống canh...




Câu hát ru em ,những trưa hè nằm võng kẽo kẹt, nơi cái xóm bình dân ấy...Nghe giọng hát ru của cô Hằng mẹ thằng Tí... Ôi sao nó hay ho, dịu dàng quá đỗi. Tôi thích những trưa hè êm ả và cả cái bài ca dao mộc mạc trữ tình . Cô yếm đào , có nụ cười răng khểnh, mắt bồ câu và má lúm đồng tiền . Cô xinh sắn như vậy sao lại ỡm ờ mà chịu lấy cái ông chú lười lĩnh của tôi ? ? Chú tôi, một lão đàn ông Việt Nam 100/100 ,hay rượu chè cờ bạc, lại hay ngủ hơn hay làm . Tội nghiệp , lười thế mà cũng vẫn có những cô yếm đào yêu thầm nhớ trộm !
Năm tôi lên chín, được về ở với ông bà và cô chú. Mặc dù tôi được gọi là cháu cưng của bà,nhưng tôi vẫn đứng sau chú Định vì chú là con út, và bà mẹ nào mà không " Giàu con út, khó con út. Trút cả cho con út  "  Bà tôi cưng chiều chú Định hết biết! Bà thì chiều, nhưng ông thì rất dữ đòn , mặc dù ông tôi rất nghiêm khắc, bắt ne bắt nét từng chút , bắt học hành nghiêm chỉnh đúng thời khóa biểu , mà cái đầu bò của chú Định thì không làm sao mà học hành cho suất sắc được ! 
Tôi nhớ chú có cái tật liếng khỉ, nghĩa là hay làm trò khỉ diễu đời chơi ! Trong lúc học bài , tuy mồm đọc thật to , nhưng cuối bài thì đọc nhảm thành những câu lếu láo buồn cười . Mà khốn nỗi tôi lại còn nhảm hơn là thuộc ngay những cái câu cắc cớ đó ( cho tới bây giờ ! ) 
Lúc các chú ngồi học , thì ông bắt cô Tỉnh phải ngồi cầm quạt phe phẩy đuổi muỗi cho các em . Đèn dầu tù mù, những con bọ Dừa , Cánh Cam hay bay xả vào bóng đèn , tôi hay ngồi bắt chéo những ngón tay in lên trước  đèn để tạo những hình ảnh ngộ nghĩnh , nào là ông Kí Cóp , con thỏ, con chó , hay nhất là con thiên nga cổ dài ...Chú Định học sắp xong bài , bèn tuôn một tràng trước khi gấp sách đi ngủ :
- Ông Phan Đình Phèo, Ông Phan Đình Phèo người đảng Văn Heo, làm quan dưới triều ngựa đéo...
Hồi đó tôi mới học lớp bốn , đâu có biết chú tôi đọc bài lịch sử trẹo mồm đi như vậy đâu ? Mà cũng không thể hiểu nổi làm sao mà chú lại sáng tạo ra một bài học nham nhở vần điệu như vậy ? Học nhai nhải như cuốc kêu mùa hè , chẳng biết hôm sau vào lớp trả bài cho thày thì có đọc đúng như nguyên bản  : Ông Phan Đình Phùng ,người đảng Văn Thân, làm quan dưới triều Tự Đức ! 
Tôi nghĩ cái tính lấc ca lấc cấc của chú Định chắc là bẩm sinh ! Trời sinh họ ra với cái tâm tư tình cảm của một người không hề coi cuộc đời có cái gì là quan trọng nghiêm trang đứng đắn cả ! Tất cả đều nhảm nhí nham nhở ! Ngòai cái tài sửa bài học lịch sử thành bài mãi võ bán thuốc Sơn Đông , chú tôi còn giỏi trèo me trèo sấu . Cây quả nào quanh khu vườn Bà Lớn ( năm 1959 ) mà được chú để ý đến ,thì đừng có hòng còn quả tới chín ! 
Chú leo cây dừa , giời ơi, nó nhanh thoăn thoắt , không dây , không nhợ , vụt một cái lên tới ngọn , cầm trái dừa to nhất ,một tay xoay vài vòng, dừa rơi cái bịch xuống đất. Hái vài trái về uống giải khát mùa hè , ngọt trong , mát rượi . Tài trèo me trèo sấu của chú thật là thần sầu quỷ khốc , nên khi biết có con sóc làm tổ ở chốn cây dừa, chú Định làm bẫy , và chỉ hai hôm là em sóc sù lông đuôi dài như cái chổi xể đã bị mắc bẫy ! Bà tôi bắt chú phải phóng sinh , nếu không thì cúp tiền quà , chú mới chịu thả em sóc nhỏ trở về mái nhà xưa. 
Tôi bảo ông Trời cũng rất công bình, vì nếu không thông minh xuất chúng, thì Trời bù lại cho cái khéo tay mà làm các nghề thủ công . Chú Định khéo tay vô cùng khi chú tự đóng một cái máng lợn ăn bằng gỗ tạp  ( lượm đầu thừa đuôi thẹo gỗ vụn của ông Hai thợ mộc cạnh nhà ) chú đóng rất đẹp vì nó chỉ nhỏ bằng hai cái hộp diêm . Chú lấy sơn trắng và sơn cho cái máng lợn ăn đó để tặng cho chị nhớn của tôi tuổi con heo ! quà sinh nhật ý nghĩa đấy chứ ? 
- Thuở nhỏ , tôi chạy theo chú đi đổ xí ngầu ăn bò viên . 
Lão bán bò viên gặp chú Định độ vài lần chắc dẹp gánh ! Tôi không hiểu sao chú đổ xí ngầu mà cứ thắng liền tù tì !  Bỏ ra có vài đồng , lắc xí ngầu mỗi người một lượt , lão chủ gánh bò viên cứ thua liên miên , không thắng được bàn nào cả ! 
- Chú tôi hay tửu hay tăm ... Giỏi lắc cờ bạc , hay nằm ngủ trưa ...
- Rút cuộc, chú tôi khệ nệ bưng hai tô vừa nước lèo vừa bò viên , thắng tới  năm chục viên.
- Hôm ấy  ăn bò viên trừ cơm ! ăn mệt nghỉ, và ngon quá chừng ! Trẻ con nhà nghèo được đãi bò viên thả cửa . 
Chú Định không học giỏi như hai ông anh  ( bố tôi là anh cả , chú Minh là anh kế ) nhưng cái khéo tay khéo chân thì chú Định dành cả. Chú lại dai sức và thường quyết tâm làm cho xong việc . Chú có thể một mình - đào cuốc một cái hầm để đặt ống cống trong nhà cho bà, mà không cần thợ thuyền phụ giúp ! Tôi có ông chú thật đáng phục . 
Học hành không đến đâu nên chú phải đi Quân Dịch  ( 1967 ) , mới ra trường , đóng quân ở Đức Hòa , mà đã có một bà mẹ quê, dẫn một cô em yếm thắm lên đến tận nhà bà nội tôi để nói chuyện lương duyên cho cô và chú !
Cô yếm đào đó đâu có được diễm phúc lấy chú tôi đâu ? Vì trong cuộc hành quân ngay sau ngày đám hỏi, chú tôi đã hy sinh đền nợ nước . 
Thôi hết rồi , Đào với chả Thắm , cái lão chú ngang ngược ham chơi ngày nào , đã sớm rũ sạch những nhảm nhí cuộc đời , nào là bò viên , xí ngầu, con sóc đuôi sù... Ông Phan Đình Phèo...Chú đã bỏ lại bên kia bờ sinh tử - Một cuộc chạy Việt Dã không ngừng nghỉ để trở về bến xưa . Tôi có gặp lại chú , một thân xác rã rời , bộ đồ trận vấy máu và những lỗ đạn trên thân thể thanh niên mới ngòai đôi mươi... Hết rồi câu hát ru :
- Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi không ? ...Ước gì tôi còn có chú./.


                                                                         An Khanh

Jul 23, 2011

Ngày Thu Trong Hùa Hạ


Ngày Thu Trong Mùa Hạ




Buổi sáng vẫn co ro
Buổi chiều thoi thóp nắng
Dầy đặc một màn sương
Ánh đèn vàng vọt tỏa
Sưởi ấm lòng phố sâu
Ngày Thu trong mùa Hạ
Hay một mùa trắc trở ?
Hay một mùa oan khiên ?
Như tình xưa Chức Nữ
Sùi sụt giòng mưa Ngâu
Một mùa xanh dấu lệ
Một mùa giăng mi sầu
Em ngồi hồn chín đỏ
Em nghe tình hanh hao...

Viết cho những ngày Hè của San Francisco.
Hoa Kỳ Dung.

Jul 22, 2011

THƠ THÁNG 7



Bùi Bảo Trúc

CỦA X

Chưa cuối năm mà đã nhớ người
Người xa vẫn tít tắp bên trời
Tìm, đây chỉ thấy mây và gió
Một nén tâm hương cháy đỏ ngời

Hình như gió còn mang mùi tóc
Thao thức mầu chiều ở cuối sông
Sớm mai người lẫn trong câu hát
Tóc giống như sông, rối mịt mùng

Ở khúc quanh, chỗ cuối con đường
Là nơi vô tận, nhớ vô cùng
Đèn xanh vừa bật, người đi mất
Là đã đầu sông với cuối sông

Người một nơi, người vẫn một nơi
Sáng ra, nhớ đã ở trên vai
Thấy gì nơi những con đường cũ
Một nhói tim vào những sớm mai

Người mới vừa đây, tỏ vết giầy
Hương còn trên áo, ấm trên tay
Biệt nhau một chuyến theo Từ Thức
Hồn gửi hồn sau một bóng mây

Môi còn để hồng trên nụ xuân
Gió đi rồi, nên vẫn đau thầm
Mỗi chân tóc mọc lên hoài cảm
Buổi sáng tìm nhau lạc dấu chân

Thềm vẫn còn thơm áo Bích Câu
Vẫn nước phân vân dưới dạ cầu
Và trăng từ mấy trăm năm trước
Vẫn mãi mầu xanh của lúc đầu

Trở lại vườn nghe gió lặng thinh
Cỏ còn buồn nên không muốn xanh
Tìm người chỉ thấy mây và khói
Một cánh chim chao động dưới cành



THƠ THÁNG 7

Mai về kiếm một chiếc xe đạp
Cho em ngồi ở phía đằng sau
Anh chở em về căn nhà cũ

Hái cho em trái trứng cá đầu mùa

Rồi anh lại chạy chiếc xe đạp
Chở em về thăm lại lớp học xưa
Tìm thử trên mặt bàn năm ấy

Những cái tên, nay chữ đã mờ
Anh sẽ đi tìm cô giáo cũ
Xin lại được cho làm học trò ngoan
Ngây thơ, trong sạch, không gian dối
Như cuốn vở xưa dòng chữ hiền lành

Nhờ cô giảng lại bài toán cũ
Có hai động tử đuổi nhau hoài
Làm sao tìm cho ra đáp số
Để bắt kịp nhau ở cuối đời
Ngồi xuống đây chơi ô ăn quan

Lần này, anh lại vẫn nhường em
Vẫn cho em thắng như hồi bé
Cho quên thua thiệt mấy mươi năm


Nơi cửa sổ mở ra sân trường
Một con chim đậu, ngó vào trong
Con chim của những ngày thơ ấu
Nghiêng mỏ như vừa gặp bạn quen
Này chim còn nhớ không, chú nhỏ
Bàn tay mực tím đã trở về
Trong trí từ bao năm vẫn giữ
Mãi những mùa hè rộn tiếng ve

Anh sẽ lại lấy chiếc xe đạp
Chở em đi suốt một buổi trưa
Cứ ngồi nghiêng thế cho mái tóc
Và nắng thơm đầy vai chúng ta
Ghé xe bò khô ở gốc cây
Gọi ra một đĩa, ớt thật cay
Đổ thêm vào đó nguyên chai dấm
Đời đã chua, còn sợ gì cay

Anh sẽ đưa cho em lá thư
Viết cho em từ đã rất lâu
Dấu vào trong vở, mang về đọc
Cùng bài tính đố giải chưa ra
Hãy đi với anh về Ngã Sáu
Dựng chiếc xe lên một vỉa hè
Gọi trái dừa giữa trưa rất nắng
Uống tuổi thơ ngây, nhớ bạn bè

Anh sẽ đi kiếm chiếc xe đạp
Để chở em trên mấy khúc đường
Hỏi thăm trở lại thời thơ ấu
Một đoạn đời xưa vẫn mãi thơm

Bùi Bảo Trúc


DS TV6370 xin cám ơn nhà báo Bùi Bảo Trúc đã cho Đặc San đăng lại Thơ tháng 7.

Những vần thơ đã dẫn đưa chúng ta trở về những hoài niệm của thuở làm học trò tay ôm cặp sách ..." một đoạn đời xưa vẫn mãi thơm" .