Jul 21, 2013

Lịch sử chiếc áo dài Việt Nam


ÁO DÀI

Trịnh Bách





Ngày 6 tháng 7 vừa qua, các cựu nữ sinh Trưng Vương ở Nam Cali đã có một buổi trình diển áo dài tân thời Le Mur nằm trong chương trình kỷ niệm 80 năm  Tự Lực Văn Đoàn và báo Phong Hóa  Ngày Nay. Trong tinh thần đó DSTV6370 xin giới thiệu đến các bạn và độc giả một bài biên khảo của tác giả Trịnh Bách về Lịch sử biến đổi của chiếc Áo Dài Việt Nam.
 Kèm theo là một video trình bày về  thời kỳ chiếc áo dài được cải cách tân thời do nhà họa sĩ Cát Tường Le Mur thực hiện trong khoảng năm 1930 - 1940. Video được diển giảng bởi Ông Nguyễn Trọng Hiền ( con trai thứ của họa sĩ  Le Mur) về sự nghiệp của thân phụ ông trong lãnh vực thời trang và cải cách y phục phụ nữ một cách thật dí dỏm . DS TV xin trân trọng giới thiệu.
DSTV xin cám ơn Minh Tâm đã chuyển bài biên khảo có giá trị lịch sử của tác giả Trịnh Bách .

ÁO DÀI

Trịnh Bách



Người Việt xưa nay thường có tính kín đáo. Cristoforo Borri, một giáo sỹ người Ý sống ở vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của xứ Đàng Trong từ năm 1618 đến năm 1623, đã nhận xét rằng tuy Việt Nam có thời tiết rất nóng, nhưng người Việt ăn mặc kín đáo nhất so với các dân tộc khác trong vùng. Các cụ ngày xưa chắc đã phải mất nhiều thì giờ nghiên cứu, để tìm cách phối hợp những nguyên tắc thẩm mỹ với quy luật kín đáo cố hữu của dân tộc vào việc may mặc. Thí dụ như khi cảm thấy cổ của người Việt thường không được cao lắm, người xưa đã biết may cổ áo thấp xuống và ôm sát cổ, trong khi tóc được vấn cao lên lộ gáy để dù cổ phải che, tóc phải dấu, cổ của một phụ nữ Việt Nam trung bình vẫn trở nên thanh tú và cao, sang hơn.
Kín đáo đấy, nhưng áo dài của người Việt vẫn có tiếng là gợi cảm. Người Trung Quốc gọi loại áo này là "bì bào", có nghĩa là áo mặc sát vào da. Trong khi đó người Việt xưa gọi ghép áo dài vào loại Tập phục, nghĩa là loại áo mặc có nhiều lớp, mà trong đó, lớp áo dài được người xưa gọi là áo lót. Vì thật ra nó chỉ là lớp lót trong cùng, với lớp xiêm độn ở giữa, và áo bào phủ ra ngoài cùng.

Cho nên khi đọc các sách cổ như Tây Hành Nhật Ký của Phạm Phú Thứ, thấy các cụ sứ thần nước ta nói mặc áo lót ra tiếp khách, người không hiểu lại thấy xấu hổ rằng người mình ngày xưa khiếm nhã.
Chưa ai có thể khẳng định được áo dài Việt Nam xuất hiện từ bao giờ và như thế nào. Thản hoặc mới thấy một vài chi tiết liên quan đến áo dài, hoặc yếu tố Việt trong trang phục, ở các sách sử. Thí dụ như một đạo dụ năm Hưng Long thứ tám (1301) thời Trần Anh Tông cấm dân chúng không được mặc áo rộng tay. Hay năm 1374 Vua Trần Duệ Tông cấm dân dùng y phục theo Bắc Quốc. Tuy nhiên chuyện được biết đến nhiều hơn cả là việc Chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong, khi xưng Vương năm 1744, đã bắt quan dân Thuận Quảng phải mặc lễ phục lấy mẫu từ sách Tam Tài Đồ Hội của nhà Minh, Trung Quốc. Rồi năm 1776, sau khi quân đội của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chiếm được kinh đô Phú Xuân của xứ Đàng Trong, quan Hiệp Trấn Thủ Lê Quý Đôn của nhà Trịnh ra lệnh cho dân ở đây phải cải lại lề lối ăn mặc theo tục lệ cũ, nghĩa là giống như cách trang phục của Đàng Ngoài lúc bấy giờ, cũng như ở Đàng Trong trước biến đổi thời 1744. Theo lệnh này, về thường phục thì "Từ nay trở đi, đàn ông và đàn bà chỉ được mặc loại áo ngắn tay với cổ đứng…” Ngắn tay tức là tay áo chỉ dài đến cổ tay, thay vì dài gấp đôi chiều dài tay như trong áo lễ.
 Mặc dù phải chấp nhận việc triều cống nhà Thanh, nhưng người Việt lúc nào cũng coi người Mãn Châu là giống di địch, không phải chính thống Hán tộc. Vì thế triều phục và lễ phục của các triều Lê, Nguyễn Việt Nam vẫn dựa theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn lấy từ sách Tam tài Đồ hội của Minh triều, Trung Quốc.
Nhưng áo dài không phải là lễ phục. Áo dài chỉ là một loại thường phục trang trọng có thể mặc để tiếp khách, hoặc đi ra đường. Những khi lễ lạc, người xưa phải khoác ra ngoài áo dài một cái áo rộng tay, thí dụ như áo tấc, áo dấu, áo tràng ngoài dân gian; hoặc áo bào, áo mệnh phụ trong triều. Chỉ có các lễ phục này mới mang ảnh hưởng của phương Bắc. Trong khi đó, từ đầu đến cuối quyển sách Trung Quốc Phục Trang Sử nổi tiếng, viết và minh họa về y phục Trung Hoa từ đời Xuân Thu cho đến những năm đầu Dân Quốc (477 trước Công Nguyên đến thập kỷ 1920 sau Công Nguyên), không thấy đả động gì đến bì bào. Loại bì bào độc nhất ở Trung Quốc, thường gọi là trường xàm, mà người mình hay gọi theo âm Quảng Đông là sường xám, có nghĩa là áo dài, chỉ xuất hiện từ Trùng Khánh và Thượng Hải trong thập niên 1920. Sường xám trở thành nổi tiếng nhờ bà Tống Mỹ Linh, vợ Thống Chế Tưởng Giới Thạch. Cũng nên để ý rằng phụ nữ của một số bộ tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nởam cũng mặc loại áo giống áo dài dưới đồng bằng. Trong khi người cùng những bộ tộc ấy các nước chung quanh lại không thấy mặc loại áo này.

Có một sự hiểu lầm khá phổ biến gần đây, là áo dài cài bên bây giờ có gốc từ áo tứ thân xẻ giữa. Đây là những sự hiểu lầm rất đáng tiếc. Thật ra hai giòng áo dài tứ thân và năm thân được truyền xuống từ ngàn xưa, vẫn luôn giữ nguyên vẹn hình dạng và tính chất của chúng.
Y phục Trung Hoa, mà người Việt xưa vẫn xem là mẫu mực, được phân loại cụ thể từ đời Minh (1368 – 1644), với ba dạng chính: Dạng thứ nhất là Bàn Lĩnh có cổ tròn và vạt áo cài sang bên sườn. Dạng thứ hai là Trực Lĩnh với hai vạt gặp nhau ở giữa cổ và vạt áo xẻ giữa. Dạng thứ ba là đối lĩnh (giao lĩnh) với hai vạt chéo nhau, cài bên.


       Các mẫu cổ áo từ Tam tài Đồ hội

Áo tứ thân thuộc dạng trực lĩnh, có gốc là áo Trường tụ Tỷ giáp được phổ biến bên Trung Quốc từ thời Đường (618 - 907). Trong thôn quê miền Bắc nước ta áo này còn được mặc cho đến gần đây dưới dạng áo dài tứ thân. Dạng lễ phục của áo trực lĩnh là áo mệnh phụ, áo tràng, hay áo nhật bình. Trong khi đó áo dài thuộc giòng bàn lĩnh năm thân, nay là áo dài ba thân. Lễ phục của bàn lĩnh là các áo bào, áo tấc. Vì nguyên tắc che cổ dấu tóc của người Việt, nên các áo này được gắn thêm cái cổ xây ở nước ta.

Trong quyển sách Relation de la Nouvelle Mission des Peres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine, xuất bản tại Lille năm 1631, Giáo sỹ Borri đã tả rõ về cách ăn mặc của người Việt ở đầu thế kỷ 17: Đàn ông mặc áo frac (áo dài) mầu đen như kiểu áo của các giáo sỹ going Benoit… “Người ta mặc năm sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên áo kia, mỗi cái một màu. Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân một cách trang trọng. Rồi những áo khác ở ngoài ngắn dần." Chắc vị giáo sỹ này muốn nói đến cách mặc áo mớ ba, mớ bẩy của phụ nữ Việt hiện còn thấy ở các làng Quan Họ ở Bắc Ninh, Bắc Giang, hay lác đác ở Huế. “Đàn ông cũng mặc năm, sáu lớp áo dài lụa… Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những giải dài. Khi đi lại các giải này quyện vào nhau trông đẹp mắt. Mỗi khi có làn gió thổi thì các giải đó lại bay tung lên như cánh chim công thật ngoạn mục… Đàn ông cũng để tóc dài và vấn khăn như đàn bà."

Có lẽ Giáo sỹ Borri và nhiều người khácđã hiểu lầm về số lớp áo được người Việt cổ xưa mặc mỗi khi ra ngoài. Vẫn chưa có chứng tích hay tài liệu nào về việc thường dân mặc đến bẩy lớp áo dài xưa nay, ngoại trừ những trường hợp đại liệm trong tang lễ. Có lẽ mớ ba mớ bẩy chỉ là cách nói nôm na của ba và bẩy vẫn thường thấy trong ca dao Việt Nam. Thí dụ như câu "yêu nhau bẩy bỏ làm ba, ghét nhau ba bẩy bổ ra làm mười", hay trong cụm từ "tam sao thất bản"... Thật ra mấy lớp áo bên ngoài bị cắt thành các giải dài bên dưới thắt lưng mà Giáo sỹ Borri nhắc đến chỉ là cái xiêm cánh sen, hay xiêm nghê thường, mà người xưa mặc trước ngực hay dưới thắt lưng bên ngoài áo dài. Xiêm này có ba hoặc bốn lớp giải lụa may chồng lên nhau. Lớp giải trong cùng dài nhất, rồi các lớp bên ngoài ngấn dần. Các giải này ngày nay được đơn giản hóa bằng cách may thưa, nhỏ hơn, và dính liền ba bốn lớp với nhau như thỉnh thoảng vẫn còn thấy trong trang phục rước đình ở thôn quê miền Bắc, Trung Việt, và trong phục trang múa cung đình ở Huế.


Bức tượng Ngọc Nữ tạc từ thế kỷ 17 ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh, là minh chứng rõ nhất cho cả áo dài, các giải cánh sen, lẫn cách vấn khăn mà giáo sỹ Borri đã mục diện từ bốn thế kỷ trước đây. Cái áo dài cũng như cách vấn khăn ấy chẳng khác gì bây giờ. Và bức tượng này cho thấy áo dài phải xuất hiện trễ nhất là từ thế kỷ 17.


Năm 1819, khi thuyền trưởng Mỹ John White đến thăm Sài Gòn, cách ăn mặc ở đây vẫn giống như giáo sỹ Borri đã thấy ở Thuận Quảng từ hơn hai thế kỷ trước đó. Ông White có nhắc đến một thiếu nữ 16 tuổi mặc quần lụa đen và cái áo may sat nguoi đến mắt cá chân. Ông cũng cho biết rằng đàn ông, đàn bà Sài Gòn khi ấy ăn mặc giống nhau, với nhiều lớp áo dài khác mầu. Chiếc áo trong cùng dài đến mắt cá chân (chắc là cái quần), rồi các áo ngoài ngắn dần…Tuy nhiên, giống như bây giờ, lối ăn mặc đỏm đáng kể trên chỉ dành cho tầng lớp phong lưu, thời thượng. Còn phục trang của đại đa số dân chúng thì nghiêm cẩn hơn. Giáo sỹ Borri cho biết phần lớn đàn ông Việt hồi đầu thế kỷ 17, nhất là giới sỹ tử, đều mặc một cái áo dài lụa hay lương mầu đen phủ ra ngoài các áo khác.
Cho đến đầu thế kỷ 20, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân, hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay. Sở dĩ áo phải nối thân và tay như thế là vì các loại vải tốt như lụa, sa, gấm, đoạn, ngày xưa chỉ dệ t được rộng nhất là 40 cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ởgấu. Cổ áo phụ nữ chỉ cao khoảng 2 đến 2,5 cm. Riêng ở miền Bắc từ thập kỷ 1910-1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3 cm bên phải cổ áo, và cài khuy cổ lệch ra đấy. Cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn, và cũng để khoe chuỗi hột trang sức quấn nhiều vòng quanh cổ, gọi là chuỗi hạt gáo. Nhưng khi đi lễ chùa hay gặp các bậc trưởng thượng, cổ áo lại được cài kín lại bằng khuy giữa cổ.

Từ trái: áo năm tà (năm thân)của Thừa sai Công giáo thời Tự Đức, áo dài năm thân may kép của Hoàng thái hậu cuối thế kỷ 19, áo dài ba thân thời đầu 1950 


Thủa ấy các vải áo mầu đậm được dùng nhiều nhất. Mùa Thu, Đông dùng các loại gấm đoạn, và Xuân, Hạ dùng sa, vân. Vì mầu nhuộm của các loại vải ngày trước dễ phai, cho nên người xưa không giặt các áo dài may bằng vải đắt tiền, thường dùng làm áo ngoài. Các áo này chỉ được phơi nắng một năm mấy lần, rồi ướp thơm bằng trầm hay hương bài trong tráp gỗ. Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lót. Trong áo kép lại có một áo dài lót. Cái áo lót trong này hay thấm mồ hôi, vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt. Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba. Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp. Thủa đó phần đông phụ nữ từ Nam ra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Đặc biệt là giới thượng lưu ở Huế, cả nam lẫn nữ, hay mặc loại quần chít ba, nghĩa là dọc hai bên mép ngoài quần được may với ba lần gấp, để khi đi lại quần sẽ xòe rộng thêm. 

Trong các thập niên 1930 và 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, nhưng phụ nữ thành thị bắt đầu dùng các loại vải mầu tươi, sáng hơn, được nhập về từ Âu Châu. Cho đến lúc này gấu áo dài thường được may trên mắt cá khoảng 20 Cm. Từ đây, và tiếp tục cho đến gần cuối thế kỷ 20, thiếu nữ khắp nơi mặc quần trắng với áo dài. Quần đen để dành cho phụ nữ đã lập gia đình. Tuy nhiên phần lớn phái nữ thuộc mọi lứa tuổi ở Huế vẫn chỉ mặc quần trắng.

Hoàng thái tử Bảo Long trong áo dài năm thân và quần chít ba (dự lễ đăng quang Nữ Hoàng Anh năm 1952)

Một vài nhà tạo mẫu áo dài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, nhưng gần như họ chỉ bỏ được phần nối giữa sống áo, vì vải phương Tây dệt được khổ rộng hơn. Và áo dài từ đây trở thành áo ba tà. Tay áo vẫn may nối. Nổi nhất lúc ấy là họa sỹ Cát Tường ở Hà Nội.


 

Năm 1939 nhà tạo mẫu/ họa sỹ này tung ra một kiểu áo dài được ông Âu hóa, cả về mẫu dáng lẫn tên gọi, Le Mur, do ông tự dịch tên của mình ra tiếng Pháp. Áo Le Mur vẫn giữ nguyên phần áo dài may không nối sống bên dưới. Nhưng cổ áo khoét hình trái tim với mũi nhọn đằng trước ngực hay sau lưng, và một cái nơ đính vào chỗ khoét nhọn đó. Có khi áo được gắn thêm cổ bẻ. Vai áo may bồng, tay nối ở vai. Khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Có thế thôi mà áo dài Le Mur bị xem là táo bạo, và chỉ có giới nghệ sỹ hay thời thượng mới dám mặc. Nhưng chỉ đến khoảng năm 1943 thì loại áo  này đã bị thất sủng.


Một vài mẫu áo dài Lemur (Cát Tường)
Đến thập kỷ 1950 sườn áo dài bắt đầu được may có eo, không còn cái áo dài lót bên trong. Các thợ may lúc đó đã khôn khéo cắt áo lượn theo thân người. Thân áo sau rộng hơn thân áo trước, nhất là ở phần mông, để áo ôm theo thân dáng mà không cần chít eo. Vạt áo cắt hẹp hơn. Thân áo trong được cắt ngắn dần từ giai đoạn này để chỉ còn một miếng vả ngắn gọi là vạt hò. Cổ áo bắt đầu cao lên, trong khi gấu được hạ thấp xuống. 
Áo dài được thay đổi nhiều nhất trong thập kỷ 1960. Vì nịt ngực ngày càng phổ biến hơn, nên áo dài bắt đầu được may chít eo, nhiều khi rất chật, để tôn ngực. Eo áo cắt cao lên hở cạp quần. Gấu áo lúc này cắt gần thẳng ngang, và may dài gần đến mắt cá chân. Năm 1960, vì muốn thấy cổ phụ nữ dài thêm, bà Trần Lệ Xuân đặt ra loại áo dài cổ thuyền, được gọi là áo bà Nhu. Nhiều người sau đó còn may áo dài với cổ khoét tròn.
Rồi đến gần cuối thập kỷ 1960, để theo đúng thời trang váy ngắn quần loe của phong trào Hippy, áo dài mini trở thành thời thượng. Vạt áo bây giờ may hẹp và ngắn, có khi đến đầu gối. Áo may rộng hơn, không chít eo nữa, nhưng vẫn hơi giữ đường lượn theo thân thể. Cổ áo thấp xuống còn trên dưới 3 cm. Tay áo cũng được may rộng ra. Đặc biệt là cũng trong khoảng gần cuối thập niên 1960 này, vai áo dài bắt đầu được cắt lối nối xéo gọi là raglan để ngực và tay áo ôm hơn, nhăn ít, mà lại đỡ tốn vải. Tay áo dài từ đây được nối với thân từ chéo vai. Quần khi ấy may rất dài với gấu rộng đến 60cm, và nhiều khi được lót hai ba lớp. Cho đến lúc này phụ nữ Việt Nam khi ngồi xuống vẫn còn ý nhị vén vạt áo sau đặt lên đùi trước cho kín đáo, và để vạt áo khỏi nhăn.

Từ thập kỷ 1970 đến 1990 áo dài không thay đổi nhiều lắm. Thỉnh thoảng cách mặc có đổi mới, thí dụ như quần với áo đồng mầu, nhưng không tạo ra được phong trào sâu đậm. Các nhà tạo mẫu áo dài bây giờ vẫn luôn nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra mẫu mới. Nhưng các mẫu mã ngày nay phần nhiều chỉ thay đổi chung quanh chất vải hay hoa văn. Còn về kiểu dáng thì hoặc là lại quay về giống như áo dài của một trong những thập kỷ trước, nghĩa là không khác gì với cái áo dài của pho tượng Ngọc Nữ thế kỷ thứ 17, hoặc không còn là áo dài nữa. Áo dài trông đơn giản thế, nhưng muốn biến đổi nó thêm về hình thức sẽ rất khó. Vì nó đã được hoàn thiện từ lâu lắm rồi.

TRỊNH BÁCH.


Một vài hình ảnh trong buổi trình diễn áo dài tân thời Le Mur do nhóm cựu nữ sinh Trưng Vương tại Nam California thực hiện.


                                      Người mẫu áo dài Le Mur thập niên 1940





                            
                           Những người mẫu TV trong những kiểu áo dài Le Mur
















Jul 19, 2013

KARA ( phần hai)

Suối câm lặng.
TUL
        




           Mộ KARA nằm trên vạt nương cuối cùng của rẫy bắp , sơ sài như thân phận của ông khi còn sống .  Người  thanh niên làm bia  mộ khắc tên Kara bằng cement ,   thiếu nữ mang vòng hoa  màu tím đặt lên mộ , vòng hoa nàng tự hái trên rẫy và kết lại thành vòng tròn . Chàng không nói gì , nàng sụt sùi khóc:
           _ Tại sao Kara phải chết?
           _..........!
           _ nếu mình không lên nhà chòi ?  Kara không phải ra bờ suối suốt đêm , thì có thể Kara sẽ không chết !
           _................!
           _ mình nợ Kara nhiều lắm !!!  
           Chàng vẫn không nói gì , không trả lời những câu hỏi của nàng , chỉ  lẳng lặng xếp  những hòn đá vòng quanh mộ......
            Người thanh niên nhớ lại.......  khi chàng lớn lên  , đã thấy Kara thấp thoáng trên rẫy từ bao giờ ,  mọi công việc mùa màng của gia đình chàng đều  do Kara  gánh vác , mùa nào thức nấy , lợi tức vừa đủ ăn, những năm  phụ trội , Kara dều được thưởng công xứng đáng . cũng có năm hạn hán  hay mưa bão làm thiệt hai mất trắng , nạn sâu rầy làm Kara mất ngủ  nhưng tất cả ông  đều vượt qua , không một tiếng than van.  Chàng cũng chưa từng bao giờ nghe ai phàn nàn về Kara , những năm bố còn sống , mỗi lần có dịp đi săn bố thường dắt Kara theo , những lần đi  dài ngày ở Ban Mê Thuột , Kara đảm trách việc dựng lều , nấu cơm , sinh hoạt thành thạo trong rừng  . Một hôm trời mưa to Kara một mình trở về nhà , đứng sững ở cửa ,Kara vừa khóc vừa  báo tin bố  bị VC bắt đi mất tích .  Cả nhà lo sợ điên cuồng , Kara cũng bỏ đi luôn mấy ngày không thấy mặt. Sau đó một tuần cũng chính Kara là người cõng bố về nhà , bố với hai chân xưng tấy không bước nổi .  Sau đó được biết Kara đã vào rừng , tìm cách liên lạc ,đem hết tiền Kara có được qua những mùa rẫy,   " ủng hộ tất cả cho cách mạng "  để  bố được thả về.   Kara đã tự ý không bàn với ai, đó là yêu cầu bảo mật mà " cách mạng"  muốn như một điều kiện  tiên quyết dể bố được thả. .   Khi gia đình biết chuyện , mấy lần tìm cách trả lại  tất cả chi phí cho Kara , ông chỉ lắc đầu nói với mẹ chàng :
              Nếu bà chủ cho tôi nhận , trả tiền thì không , có nợ đâu mà trả!!!
Thuyết phục thế nào cũng không được , mẹ nói :
              _ thôi cho Kara vậy.
ông vẫn lắc đầu:
              _ vẫn là tiền đó thôi , không lấy đâu !!!
Biết không thể nào khác , bố làm giấy  cho Kara một phần nương rẫy ,  và căn nhà chòi mọc lên trên đó như một sở hữu độc đáo.   Vài năm sau bố binh rồi mất , con chó Bim nằm phủ phục dưới quan tài suốt đêm , thật khó tin Bim đã  khóc một vũng nước mắt vì thương bố..  Kara là người đã  ôm   Bim về  nhà sau dám tang , Bim chỉ muốn nằm mãi ngoài mộ vời ông chủ.
              Một ngày mùa đông miền biển , gió lạnh heo hút trên những con dốc  ,sơ sác những thân cây  khô , cây đậu bắp , đu đủ , cafê.  Kara ngổi một mình hút thuốc trên những bậc thang bằng tre dựng trên nhà chòi. , làn khói ấm áp toả ra bao lấy khuôn mặt khắc khổ , những  ngụm khói dài  từ cái dọc tẩu bằng nứa ( một loại tre nhỏ )sau khi đã hun cháy một cục thuốc đen nhánh đặc quẹo.  Ngày hôm đó cũng là buổi đầu tiên con Lin được Mẹ mang về nuôi .
             Lin cũng  là một thiếu nữ miền thượng , có chút xíu máu người Hoa . Lin tứ cố vô thân ở với mẹ nuôi  . Khi  bà qua đời Lin được mẹ chàng xin về nuôi .  Lin nhỏ bé , lanh lẹn ,  điệu đà tuổi thiếu nữ mới lớn . Lin thường hay lên rẫy hái rau , đậu báp các thứ về nấu ăn  giờ rảnh Lin  cũng chạy lên rẫy phụ việc . Lin tìm cách gần gũi Kara , Lin  xách dồ ăn lên rẫy  hai người cùng ăn , rồi  Lin  hát cho Kara nghe ,  Lin thường chọc phá hay ăn cắp cái dọc tẩu để  Kara rượt đuổi  Lin  trên rẫy , tiếng  Lin  cười trong veo như âm thanh ngoài suối vọng qua những sườn đồi .
             Có lần mẹ hỏi Kara :
             _ mày có ưng con Lin ? tao gả nó cho .
 Kara mỉm cười , đôi mắt lần đầu tiên thấy long lanh hạnh  phúc .  Gia đình sửa soạn bữa cơm cho hai người nên vợ chồng ,  trước hôm làm lễ ra mắt  Kara mang Lin ra bờ suối , tắm  và làm lễ trình diện  với  Thần Linh rồi trở về nhà chung vui , Kara uống nhiều hơn còn Lin thì nhảy múa ca hát suốt buổi .  
         Hạnh phúc tưởng như thế mãi , không ngờ chỉ sau một thời gian  Lin bỏ nhà ra đi . Chẳng ai biết lý do ,   Lin đi  cũng tình cờ như  Lin  đến  thoáng đó và mất. . Kara đau khổ chờ đợi nhắn tin và đi tìm  khắp nơi , nhưng đều tuyệt vọng , ông ít nói càng trở nên câm lặng .
          Một ngày sau dó vài năm , Lin trở về bế theo một bé trai khoảng hai tuổi . Lin phủ phục dưới chân Kara xin được tha thứ , Kara không nói gì , mắt nhìn xa xăm về phía biển , ông đỡ Lin đứng dậy , cho Lin một số tiền rồi đi thẳng xuống rẫy .
          Từ đó không ai nhắc đến Lin nữa.
          
                     
 (còn tiếp) 

xin click vaò link dưới đây để xem KARA phần một 
           
http://trungvuong6370.blogspot.com/2013/01/kara.html
  

Jul 15, 2013

LY CÀ PHÊ ĐEN ĐÁ _ NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG



LY CÀ PHÊ ĐEN ĐÁ.


Mỗi người có một sở thích riêng,
Một kiểu cà phê anh đã quen,
Anh ngồi ngắm cà phê nhỏ giọt,
Từng giọt đời giọt cà phê phin.
 
Anh chẳng thử cà phê Mocha,
Cà phê sữa, Cappuccino….
Lúc nào cũng cà phê đen đá,
Dù quán sang hay quán vỉa hè.
 
Vào quán cà phê chuyện đời thường,
Ngồi với bạn bè hay người thương,
Anh không thích uống cà phê ngọt,
Ly cà phê anh cho ít đường..
 
Anh cho đá vụn vào trong ly,
Những mảnh đá trong như pha lê,
Quậy đều với cà phê đậm đặc,
Mùi cà phê thơm chưa bay đi.
 
Anh quậy ly cà phê bâng quơ,
Thìa chạm vào ly như chuyện trò,
Trong lúc anh đợi chờ em đến,
Ly cà phê cũng biết hẹn hò.
 
Anh nâng ly cà phê nhấp môi,
Thưởng thức vị đắng như mùi đời,
Thưởng thức cà phê thơm mùi nhớ,
Cà phê ơi và tình yêu ơi.
 
Giản dị như tính cách của anh,
Ly cà phê đen đá chung tình,
Những khi lòng bâng khuâng trống trải,
Anh nhớ cà phê và nhớ em

Nguyễn Thị Thanh Dương.
     ( June, 8, 2013)
 
(Viết theo đề nghị của anh Tài Huỳnh. Cám ơn anh đã gợi ý chủ đề “Cà phê đen đá “)

CHÚC MỪNG MINH QUANG LÊN CHỨC BÀ NỘI.



                                                                   TIN VUI

                           Bé gái  LILIAN AÍ LIÊN TRAN


Con là Lilian Ai Liên Tran  xin kính chào các BÀ TRẺ. 6370

                 Cháu nội đầu tiên của TV Minh quang vừa chào đời ngày hôm nay JULY 14 
                 ĐSTV 6370 cùng  các bạn CHÚC MỪNG MINH QUANG ĐƯỢC LÊN
                 CHỨC BÀ NỘI và thương  chúc bé LILIAN  ÁI LIÊN hay ăn chóng lớn .




Jul 13, 2013

TRANG THƠ NHẠC CUỐI TUẦN

CÓ CHĂNG MÙI HƯƠNG 
                                       TRONG TIẾNG VĨ CẦM   ĐAN THỌ



Trang thơ nhạc cuối tuần thân mời các bạn đọc bài  trích đoạn về Nhạc Sĩ Đan Thọ và nhạc phẩm bất hủ "Chiều Tím" qua bài viết của nhà văn Du Tử Lê.

CÓ CHĂNG MÙI HƯƠNG TRONG TIẾNG VĨ CẦM ĐAN THỌ

Nhìn lại sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam, một số nhà nghiên cứu cho rằng, cuộc di cư khổng lồ của hơn một triệu người miền Bắc vào Nam, đã thổi ngọn lửa đổi mới, rực rỡ lớn cho sinh hoạt VHNT cho vùng đất trù phú, êm ả này.
Một số người khác, lại ví von rằng, sự thay da đổi thịt của sinh hoạt văn nghệ miền Nam, tựa như một cuộc cách mạng quyết liệt, lay động, đổi thay tận gốc rễ nếp sinh hoạt văn nghệ của miền Nam.




                                      Nhạc sĩ Đan Thọ


Ở lãnh vực tân nhạc, người ta ghi nhận sự xuất hiện của hàng hàng, lớp lớp những tác giả trẻ mà, Trịnh Công Sơn, được coi là một hiện tượng đặc biệt. Bên cạnh đó, những tên tuổi khác như Nguyễn Ðức Quang, Anh Việt Thu, Vũ Thành An, Trầm Tử Thiêng, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên... đã đóng góp phần của họ, để làm thành cái được gọi là “đợt sóng mới.” Ðó là thế hệ nhạc sĩ khởi nghiệp ở điểm mốc cuối hoặc sau thập niên (19)60.
Tuy nhiên, thực tế, những “đợt sóng mới” này vẫn không thể làm lu mờ, hay đẩy lùi sự chói lòa những tên tuổi lớn thuộc thế hệ tiền chiến hoặc, khởi nghiệp từ những năm đầu thập niên (19)50 như Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Phạm Ðình Chương, Văn Phụng, Nguyễn Hiền, Tuấn Khanh, Y Vân, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Nguyễn Văn Ðông, Nhật Bằng, v.v... Phải chăng đó là một trong những điểm đặc thù của dòng tân nhạc miền Nam 20 năm?

Giống như lãnh vực thi ca, khi một nhạc sĩ thuộc thế hệ trước 1954 đã định hình thì, vị trí của họ là vị trí bất biến. Kể cả những nhạc sĩ có số lượng tác phẩm không nhiều lắm. Nhưng, nếu ca khúc của họ, đã được quần chúng đón nhận thì chúng là những viên ngọc bất hoại. Ðó là những tác phẩm đã vượt qua được vạch phấn thời gian. Sống còn sau thử thách với những ngọn lửa vùi dập, lãng quên mau...

Nằm trong trường hợp vừa kể, ở lãnh vực thi ca, người ta thấy có nhiều thi sĩ chỉ cần để lại cho đời một bài thôi, cũng đã đủ thành bất tử. Tỷ như Vũ Ðình Liên với bài thơ “Ông Ðồ Già”; Hữu Loan với “Mầu Tím Hoa Sim”... Về phía tân nhạc, chúng ta có một Nguyễn Văn Tý với “Dư Âm.” Một Nguyễn Văn Khánh với “Nỗi Lòng.” Một Lê Hoàng Long với “Gợi Giấc Mơ Xưa.” Một Vũ Thành với “Giấc Mơ Hồi Hương” hoặc, một Hoàng Dương với “Hướng Về Hà Nội”...

Hiện tượng này, cũng ứng hợp với nhạc sĩ Ðan Thọ - Tác giả của hai ca khúc đã sớm trở thành những viên ngọc quý của kho tàng tân nhạc miền Nam. Ðó là ca khúc “Tình Quê Hương” phổ từ thơ Phan Lạc Tuyên và, “Chiều Tím” phổ từ thơ Ðinh Hùng. Ðặc biệt, ca khúc “Chiều Tím” còn có thêm cho riêng nó một định mệnh khác thường...




Theo lời kể của nhạc sĩ Ðan Thọ thì, ngoài phần thơ (sẵn có từ trước), thi sĩ Ðinh Hùng còn hợp tác với ông, để hoàn tất phần ca từ thứ hai.

Ở lời hai này, thi sĩ Ðinh Hùng đã đem được hình ảnh tiêu biểu của nhạc sĩ Ðan Thọ vào “Chiều Tím” qua phần ca từ mở đầu phần thứ hai:

“Từ đấy đàn nhớ thanh âm chùng dây vĩ cầm...” trước khi dòng nhạc đi tiếp với những lời thật đẹp, như thơ, nồng nàn hương tình yêu mà tiếng đàn vĩ cầm của Ðan Thọ giữ được và gửi vào tâm hồn người thưởng ngoạn:

Người xa vắng rồi chiều sang em ơi!
Thương ai hoa rơi lá rơi...
Người ấy lòng hướng trăng sao, hồn say chiến bào
Tìm trong tiếng đàn...
mùi hương chưa phai
Ý giao hoan người nhớ chăng?

Mây gió...
bốn phương giăng hàng
Mùa thu thêu áo nét hoa mơ vàng
Và em với chàng kề vai áo...
vấn vương

Chiều hỡi!
Ðàn nhớ mong nhau, tình thương bắc cầu
Người đi hướng nào?
Tìm trong chiêm bao
Tóc bay dài, gió viễn khơi...
 




 

  Căn cứ theo tiểu sử do website Ðất Việt.com ghi lại thì nhạc sĩ Ðan Thọ sinh năm 1924 tại Nam Ðịnh. Ông sở trường Violon và Saxophone Tenor. Từ năm 1936 tới 1942, ông học chữ và nhạc tại trường Thày Dòng Saint Thomas d' Aquin (Nam Ðịnh). Thầy dạy violon là Frère Maurice. Sau đấy, từ năm 1942 tới 1945, ông học hòa âm, và sáng tác với Giáo Sư Tạ Phước cùng Vũ Ðình Dự. Ngay trong năm 1945, ông đã được mời chơi đàn violin tại phòng trà Thiên Thai của nhạc sĩ Hoàng Trọng (Nam Ðịnh). Từ năm 1948 tới năm 1954 ông gia nhập Ban Quân Nhạc Ðệ Tam Quân Khu Hà Nội cùng với các nhạc sĩ Nguyễn Túc, Nhật Bằng, Văn Phụng, Nguyễn Khắc Cung, Nguyễn Cầu, Nguyễn Hiền...

Hai nhạc phẩm đầu tay của ông (sáng tác chung với cố nhạc sĩ Nhật Bằng), nhan đề “Bóng Quê Xưa” và “Vọng Cố Ðô” sáng tác năm 1952. Năm 1956, ở Saigon, ông trở lại học thêm về kèn Saxophone với Quân-Nhạc-trưởng Schmetzler và nhạc sĩ Phi Luật Tân Mano Umali. Năm 1954 tới 1956, khi ban quân nhạc di cư vào Nha Trang, ông sáng tác ca khúc bất tử “Tình Quê Hương” - Phổ từ một bài thơ của nhà thơ Phan Lạc Tuyên.
Vẫn theo website Ðất Việt.com thì những ca khúc như “Chiều Tím” (thơ Ðinh Hùng), rồi “Xa Quê Hương” (viết chung với Xuân Tiên), “Mimosa Thôi Nở” (thơ Nhất Tuấn), “Dương Cầm” (ý thơ Mùi Quý Bồng) được ông viết trong thời làm việc ở Saigon.

Năm 1956 và 1961, với tư cách Trưởng Ban Nhạc Nhẹ của Ðài Phát Thanh Tiếng Nói Quân Ðội ông được cử vào phái đoàn nghệ sĩ của miền Nam, đi trình diễn tại Bangkok và Manila.

Như một số nhạc sĩ cùng thời với mình, hằng đêm, nhạc sĩ Ðan Thọ trình diễn ở nhiều phòng trà, vũ trường... Ông cũng thu thanh tiếng đàn vĩ cầm của ông cho các đài phát thanh và, vô tuyến truyền hình quốc gia.
Trong một bài phát thanh trên đài VOA vào trung tuần tháng 3 năm 2003, nhà báo Trường Kỳ đã ghi nhận khá đầy đủ về phần đời trôi nổi của nhạc sĩ Ðan Thọ. Qua trích đoạn dưới đây, những người yêu mến dòng nhạc trữ tình của Ðan Thọ, mới được biết thêm rằng, tác giả “Chiều Tím” không chỉ nổi tiếng như một vĩ cầm thủ mà, ông còn nổi tiếng với tiếng kèn saxo và nhạc Jazz nữa:

“Trong lãnh vực vũ trường, Ðan Thọ là một trong những nhạc sĩ kỳ cựu nhất. Trước ngày đất nước chia đôi, ông đã từng với nhạc sĩ Nguyễn Túc trình diễn tại nhiều phòng trà ở Hà Nội. Vừa vào đến Sài Gòn, ông đã được mời cộng tác ngay với vũ trường 'Grand Monde' tức 'Ðại Thế Giới'. Năm 57 ông qua vũ trường Ðại Nam cộng tác với ban nhạc gồm nhiều nhạc sĩ nổi tiếng.

“Ðến năm 62, vì lệnh cấm khiêu vũ nên ban nhạc này đổi qua trình diễn nhạc Jazz với một thành phần gồm các nhạc sĩ nổi danh như: Văn Hạnh, Lê Văn Thiện và Huỳnh Anh. Ðối với khán giả Việt Nam thời đó, trình diễn nhạc Jazz là một điều mới mẻ. Do đó ban nhạc của vũ trường Ðại Nam đã lôi cuốn được rất nhiều người đến thưởng thức.
“Một thời gian sau ông về vũ trường 'Croix Du Sud', sau đó đổi tên là 'Tự Do'. Tại đây ông cộng tác với các nhạc sĩ Hoài Trung, Hoài Bắc cùng với Lê Văn Thiện, Huỳnh Anh, Nguyễn Văn Thanh, Văn Ba, v.v... Sau đó ông được giải ngũ vào năm 1969 để sang cộng tác với vũ trường Mỹ Phụng cho đến năm 72 và sau đó là phòng trà Bồng Lai.
“Tại miền Nam trước biến cố tháng 4 năm 75, trong rất nhiều năm, bóng dáng Ðan Thọ với cây vĩ cầm hoặc với cây kèn saxo đã là một hình ảnh quen thuộc với những người lui tới các phòng trà và vũ trường về đêm (...).
Tôi trộm nghĩ, có dễ trong số những người yêu mến dòng nhạc trữ tình của nhạc sĩ Ðan Thọ, cũng ít ai biết ngoài vĩ cầm, đã trở thành một thứ ID, thẻ nhận dạng tài hoa Ðan Thọ, ông còn là một hảo thủ nhạc Jazz, một lãnh vực âm nhạc, tương đối xa lạ với người Việt thời trước tháng 4, 1975.


Ðược con bảo lãnh qua Hoa Kỳ, tháng 3 năm 1985, ông có nhiều năm định cư tại miền Nam California. Trước khi di chuyển về lại thành phố New Orleans và hiện nay là Houston, Texas. Ðể khuây khỏa nỗi buồn của cảnh đời tỵ nạn, nhạc sĩ Ðan Thọ đã học cách hòa âm nhạc bằng máy computer. Bên cạnh đó, ông còn có thêm một thú vui êm đềm khác là nuôi chim hoàng anh.
Bản chất vốn chí tình, cởi mở với bằng hữu, tác giả “Chiều Tím” đã không ngần ngại truyền thụ nghệ thuật nuôi chim hoàng anh tại nhà, cho bất cứ ai có ý muốn bước vào thú nuôi chim tại nhà, nhẹ nhàng này. Hơn thế nữa, để khuyến khích, ông cũng sẵn sàng tặng cho bằng hữu, những cặp chim hoàng anh tốt nhất, ra đời từ “trại hoàng anh tại gia” của ông. 
Tôi không biết tác giả “Tình Quê Hương” có tìm thấy mối tương quan nào chăng giữa tiếng hót của chim hoàng anh và, tiếng vĩ cầm sớm đi vào ca khúc của ông? Nhưng, tôi trộm nghĩ, cách gì thì nơi thẳm sâu tâm hồn người nhạc sĩ tài hoa, nặng lòng với quê hương này, vẫn mãi là:
... Chiều hỡi!
Ðàn nhớ mong nhau, tình thương bắc cầu
Người đi hướng nào?
Tìm trong chiêm bao
Tóc bay dài, gió viễn khơi...
Du Tử Lê


Jul 12, 2013

Lời hay ý đẹp

PDUNG ĐÀO
KIM THOA

[Attachment(s) from pdung dao included below]

Những lời hay ý đẹp này do Dung sưu tầm và được Kim Thoa trang trí,thiết kế thêm phần linh động ,gởi đến các bạn để cùng nhau suy ngẫm và ngắm cảnh đẹp có sức thuyết phục lòng người nhé.Cầu mong các bạn luôn giữ mãi được tình bạn thân ái.

Attachment(s) from pdung dao

1 of 1 File(s)

UNKNOWN_PARAMETER_VALUE




















.

Jul 11, 2013

Chuyện " Thật " Ngắn - An Khanh





Cười Ra Nước Mắt

                   Một buổi chiều muà Hạ êm ả, mặc dù nắng vẫn nung hồng trên những bông hoa đỏ quanh hồ, mọi người vẫn thảnh thơi nhàn nhã. Một bữa tiệc nhỏ mới xong và một vài người bắt đầu bơi, những vòng bơi thong thả... bơi bướm.. bơi ếch ... bơi sải, thả ngửa hay lặn sâu xuống đáy hồ ! sấp ngửa lặn hụp , nước ấm làm hệ thần kinh sảng khoái dễ chịu . Cậu đã bơi xong và lên ngồi trên ghế, cậu cũng ung dung đong đưa đoạn chân cụt còn lại. Chị ngồi bên cậu ân cần hỏi han :
                 - Bữa nay chị mới thấy " thương tích chiến tranh " của cậu đấy ! Tại sao cậu bị thương?
                 - Em bị cả hai chân cơ chị ạ ! Đúng là cái số ! Toán quân đi trước chẳng ai làm sao, em đi giữa đạp trúng mìn nghe nổ long trời ! Mở mắt ra thì thấy một chân cuả mình nó đâu mất rồi! Được chở đến bệnh viện thì máu ra nhiều quá ! Em còn nghe mấy y tá nói với nhau :
                 - Ông này mệt rồi ...em ngất đi.
                 
Khi tỉnh lại thì thấy mình trong phòng hồi sinh và bị cưa đi mật một chân trái, còn chân phài thì bị mất cái gót ! Lúc đó các bác sĩ VNCH ( Quân Y ) đã hết lòng cứu chữa để em chỉ bị mất một chân trái, ngoài ra tay và ngực cũng còn ghim đầy những mảnh vụn của mìn ! (mìn Mine)
                 Chị cười buồn và nói :
                 - Thật sự bây giờ chị thấy cần phải cám ơn những chiến sĩ VNCH như cậu , vì họ đã đem tất cả tuổi thanh xuân và ngay cả mạng sống của mình để bảo vệ quê hương miền Nam được tự do hạnh phúc - chống lại hiểm họa Cộng Sản !
                 Cậu cười ra nước mắt ! vì lần đầu tiên trong cuộc đời tàn phế, cậu thấy có một người ngỏ lời cám ơn cậu ! Họ đang đứng bênh vực cho chính nghĩa ! Hết lòng tri ân cậu ! Âu cũng còn chút an ủi cho thân phận hẩm hiu. Cậu lại bảo chị:
                - Người ta toàn đem em ra chế diễu không đó chị ơi !
                - Thế là thế nào ?! chị quắc mắt !
                - Người ta bảo em" Có Công Với Cách Mạng !" Vì Cách Mạng Đặt Mìn em đạp cho nổ!
                _ ?
                - Chẳng có công với Cách Mạng ! thì là gì nữa hả chị!?
                - Tội nghiệp cậu chưa ? !

Jul 9, 2013

Thăm bạn




THƠ HOA KỲ DUNG
Thăm Bạn


Bạn đến từ phương xa
Đi tìm bao kỷ niệm
Những ngày thơ ấu xưa
Còn long lanh ánh mắt
Nụ cười ngây ngô cũ
Thấp thóang chút ưu phiền

Bạn ngồi ôn dĩ vãng
Lưu luyến những giòng thơ
Những ân tình đã vỡ
Những tấm lòng đổi thay
Bạn trầm ngâm xa vắng
Nắng chiều vàng trên vai

Buổi chiều nơi xứ lạ
Vây quanh bạn bè xưa
Vài câu đùa ngốc dại
Vạn lời thăm ân cần
Bạn cười trong đắy mắt
Nụ thân tình nở hoa



Hoa Kỳ Dung
Tháng Baỷ, ngày saú, năm hai ngàn mười ba.

Jul 8, 2013

Một Thành Phố Cổ Dưới Biển Hàng Ngàn Năm



Đỗ Phương Thu 
sưu tầm internet

Phát Hiện Chấn Động Một Thành Phố Cổ Dưới Biển Hàng Ngàn Năm
Nhà khoa học Franck Goddio và nhóm thợ lặn đang kiểm tra một bức tượng Pharaoh. Bức tượng làm bằng đá hoa cương màu đỏ có chiều cao hơn 5 mét, được tìm thấy gần ngôi đền lớn của Heracleion dưới đáy biển.



2. Phần đầu của một bức tượng khổng lồ bằng đá hoa cương đỏ trong đền thờ Heracleion. Đây là hình ảnh thần Hapi, vị thần lũ lụt của sông Nil, biểu tượng của đất đai màu mỡ trù phú.



3. Các nhà khoa học đang trục vớt bức tượng thần Hapi cao 5,4m bằng đá grani đỏ. Đây là bức tượng lớn nhất từng được tìm thấy của vị thần này.



4. Nhiều bức tượng lớn và mảnh vỡ của một bia đá khổng lồ được trục vớt lên xà lan. Các bức tượng của Pharaoh, hoàng hậu và thần Hapi có niên đại thế kỷ 4 TCN còn bia đá vào khoảng thế kỷ 2 TCN.

5. Mẫu vật bằng vàng (11 x 5cm) được tìm thấy ở phía Nam Heracleion, trên đó là đoạn văn bản chữ Hy Lạp có nội dung như là một tầm ngân phiếu vào thời đại của vua Ptolemy III (246-222TCN) về việc xây dựng.



6. Bức tượng đồng của Osiris, một vị vua bị ám sát nhưng sau đó đã hồi sinh. Nó được trang trí với vương miện Atef cùng đôi mắt được làm nổi bật bằng vàng ròng.


7. Một nhà khảo cổ đang đo bàn chân của bức tượng đá khổng lồ được phát hiện tại khu vực Heracleion trong vịnh Aboukir.



8. Chiếc đèn dầu bằng đồng có niên đại khoảng thế kỷ 2 TCN, được phát hiện trong đền thờ Amun.



9. Franck Goddio bên tấm bia đá khắc chữ cao 1.9m được xây dựng bởi Nectanebo (378-362 TCN). Tấm bia này trông tương tự như tấm bia Naukratis nổi tiếng trong bảo tàng Ai Cập tại Cairo.



10. Tấm bia này được coi là bằng chứng rõ ràng về việc đây chính là thành phố Heracleion được nhắc đến trong huyền thoại và các thư tịch cổ.



11. Các nhà khoa học đang kiểm tra một phiến đá được khảm những miếng vàng có niên đại vào khoảng thế kỷ 6 – thế kỷ 2 TCN.



12. Một đồ dùng bằng vàng có tên gọi là Phiale được phát hiện tại di chỉ Heracleion. Phiale là những chiếc đĩa nông thường được dùng để chứa đồ uống hay lễ vật trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại.



13. Một trong những bức tượng còn nguyên vẹn nhất tại đây là bức tượng bằng đá đen của nữ hoàng Ptolemy trong trang phục giống như hình ảnh của nữ thần Isis.



14. Còn đây là một bức tượng của hoàng hậu Ptolemaic bằng đá granit đỏ. Bức tượng có kích thước 490cm và nặng chừng 4 tấn
.


15. Các nhà khảo cổ đang tiến hành trục vớt bức tượng của thần Hapi cao 5.4m và cũng được làm bằng đá granit đỏ.

16. Trải qua hơn 2 ngàn năm chìm dưới đáy sâu của Địa Trung Hải, những bức tượng tuyệt vời này mặc dù đã phị hư hỏng phần nào nhưng vẫn còn cho thấy được vẻ uy nghi của chúng.



17. Bức tượng cao 5 mét này đã bị bùn đất dưới đáy biển vùi lấp hoàn toàn, chỉ còn trồi lên phần đầu tượng bị rêu mốc và san hô phủ kín.



18. Hình ảnh thần Hapi vẫn đứng sừng sững dưới đáy biển suốt hàng ngàn năm qua như minh chứng cho sự bất diệt của lịch sử và văn hóa.



19. Sau hàng ngàn năm ngủ yên dưới đáy biển tối tăm, phần đầu đã bị rời ra của một bức tượng Pharaoh khổng lồ lại được đón ánh nắng mặt trời.



20. Một bức tượng bằng đồng của vi Pharaoh triều đại thứ 26 được tìm thấy tại đền thờ Amon ở Heracleion. Hình ảnh nhà vua cởi trần và mặc váy là trang phục truyền thống rất đặc trưng của các Pharaoh.

dolong
·