May 8, 2013

HỌA SĨ CHOÉ.



Yoke-jpg-1367826797_500x0.jpg

Những nét cọ rất đời của Chóe



Nét hồn hậu của người phụ nữ Việt hay những mối bận tâm về các vấn nạn xã hội đều được họa sĩ Chóe thể hiện qua nét bút phóng khoáng.


Từ ngày 4 đến 31/5, tại Tự Do Gallery, TP HCM diễn ra triển lãm tranh tưởng nhớ họa sĩ Chóe. Trong ảnh là bức "mẹ và con".
Từ ngày 4 đến 31/5, tại gallery Tự Do, TP HCM diễn ra triển lãm tranh tưởng nhớ họa sĩ Chóe. Chóe, tên thật Nguyễn Hải Chí, là một cây hí họa danh tiếng quốc tế, một họa sĩ sáng tác và bán được nhiều tác phẩm: tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh giấy dó. Ông còn viết văn, làm thơ và sáng tác nhạc. Trong ảnh là bức "Mẹ và con".
CH-115-Songstress-water-jpg-1367826790_5
Triển lãm “Tranh của Chóe" giới thiệu đến công chúng hai bộ tranh “Phụ nữ nước tôi” và “Vision d’Été 1998” (Cảnh Quan Mùa Hạ 1998). Hai bộ sưu tập này của gia đình họa sĩ, tuy đã triển lãm ở nước ngoài, đến nay mới được triển lãm lần đầu trong nước. Trong ảnh: "Ca sĩ Bảo Yến", màu nước trên lụa.
Tranh lụa của Chóe rất khác với tranh lụa của đa số các họa sĩ miền Nam. Vốn là một họa sĩ tự học và quen với bút pháp phóng khoáng của hí họa, Chóe vẽ tranh lụa với nét bút mạnh mẽ, dứt khoát.
Planet-and-dust-bin-jpg-1367826795_500x0
Ngoài ra, triển lãm còn một lần nữa giới thiệu đến công chúng các bức tranh sơn dầu, tranh màu nước trên lụa, trên giấy dó của Chóe. Trong ảnh: bức "Hành tinh và thùng rác".
CH-jpg-1367826796_500x0.jpg
"Thủ môn Jacques Chirac", sơn dầu.
CH2-jpg-1367826796_500x0.jpg
"Hai người bạn", sơn dầu
CH-3-jpg-1367826796_500x0.jpg
"Đi chợ", màu nước trên lụa.
CH-045-Witness-oil-canvas-7-jpg-13678267
"Nhân chứng", sơn dầu.
CH-053-AlfredNobel-jpg-1367826796_500x0.
"Chân dung của Alfred Nobel", sơn dầu.
CH-F-13-Masks-oiloncanvas-6-jpg-13678267
"Mặt nạ", sơn dầu.
cyclo-jpg-1367826797_500x0.jpg
"Xích lô". Tranh của Chóe vừa mang tính ẩn dụ cao, vừa hóm hỉnh, khoáng đạt và bám sát với mọi mặt của đời sống lao động, tinh thần của con người trong cuộc sống.
Yoke-jpg-1367826797_500x0.jpg
"Chồng con".
Thất Sơ


























































































































































































































NHỚ CHÓE VÀ THƠ
LÊ THIẾU NHƠN
Đã 5 năm, họa sĩ Chóe rời xa cõi nhân gian đầy màu sắc. Chóe trong ký ức tôi chỉ như một chớp hiện. Chỉ một chớp hiện thôi nhưng đa dạng và sắc nét.
Chóe qua đời rạng sáng ngày 12/3/2003 tại Bệnh viện Fairfax, bang Vrginia, Mỹ.
Tôi vẫn nhớ, tôi nhận được tin ấy từ một cuộc điện thoại trĩu nặng của nhà báo Chánh Trinh. Dù biết họa sĩ Chóe bị bệnh tiểu đường từ lâu và chuyến đi xa chữa chạy cũng hầu như không có hy vọng gì, nhưng tôi vẫn nghe nghẹn đắng.
achoe-1348828391_480x0.jpg
Họa sĩ Chóe. Ảnh: Nguyễn Phong Quang.
Và thú thật, dẫu đã ngồi đối diện với họa sĩ Chóe rất nhiều lần và cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không thể nào lý giải được tại sao người đàn ông tướng tá đạo mạo với chòm râu quai nón ấy lại có thể vung tay ra những bức hí họa sâu sắc và hóm hỉnh như vậy? Hình dong của Chóe và tác phẩm của Chóe như là hai vùng trời khác biệt, mà người nào muốn hiểu ông chỉ có cách khám phá từng chút.
Người yêu mến nhiều hay người yêu mến ít đều phải thừa nhận Chóe là một người tài hoa. Ông viết truyện, làm thơ, vẽ tranh, sáng tác nhạc…đều có dấu ấn riêng. Chẳng biết có phải may mắn không, tôi từng có lần được Chóe hát cho nghe liền tù tì hơn chục ca khúc bằng chính cái giọng khàn đục của ông, mà tôi còn nhắc tên được vài bài như Ngả lưng trên đồi, Soi bóng bên hồ, Vô tình mây bay, Bầu trời đáy giếng, Hoa hồng đầy gai…
Với thơ thì khi cao hứng Chóe cũng đọc một lúc cả chùm, mà toàn là thơ ngắn, ví dụ bài Mùi môi vỏn vẹn bốn câu:
Môi em mùi son.
Môi em mùi rượu.
Giờ uống một mình.
Ta pha rượu với son

Dĩ nhiên, khi làm thơ, viết truyện hay sáng tác nhạc thì ông dùng tên thật Nguyễn Hải Chí. Còn vẽ tranh ông mới dùng nghệ danh Chóe đã gắn bó với ông từ năm 1969 trên nhật báo Sóng Thần. Nếu lần giở lại lịch sử báo chí Sài Gòn thì trước năm 1975 đã có hai cây bút biếm nổi tiếng là Ngọc Dũng ký Tuýt và Đinh Hiển ký Hĩm, cho nên tôi dè chừng rằng, khi nhà văn Viên Linh đề nghị chàng họa sĩ quê gốc An Giang học vẽ ở trường làng Nguyễn Hải Chí lấy hiệu Chóe thì cũng chưa chắc dám tin đã đặt cột mốc cho một nhân vật lừng lẫy xuất hiện.
jjj
Một trong 6 bức vẽ cuối cùng của họa sĩ Chóe.
Lúc sinh thời, Chóe luôn quan niệm cái nghề của ông là hí họa, chứ không phải biếm họa. Ông suy tư về hành trình cầm cọ mang lại niềm vui cho nhiều người: "Xin bạn hãy cùng tôi gọi con đường này là hí họa, vì hí họa là con đường rộng và lòng ta rộng theo… Trong hí họa cần cả nội dung lẫn hình thức. Không tạo được hình thức sẽ làm hỏng nội dung. Hình thức càng tốt, càng giảm được số chữ phải ghi trong tranh. Hí họa cần nhất là dễ nhìn, dễ phân biệt, tập trung làm nổi bật ý chính, tạo cho người xem chú ý ngay về sự khập khễnh của hình thức rồi mới dẫn dắt họ đến cái phi lý, cái lố bịch của nội dung”.

Họa sĩ Chóe cũng có vẽ tranh sơn dầu, vẽ phong cảnh và vẽ chân dung, nhưng thành tựu cả đời ông vẫn là hí họa. Ông bảo rằng đó là "nghề cười" một cách chuyên nghiệp: "Tôi không cống hiến gì đâu. Tôi làm chưa bằng người làm vườn, người trồng rau. Lớn lên có một nghề và nghề ấy nuôi sống được mình là quá tốt rồi".

Riêng tôi, tôi nghĩ những bức hí họa còn giúp Chóe vượt qua những lận đận, những lao đao, những trắc ẩn trong số phận ông, như những dòng thơ ông viết:
Trót làm người vui tính.
Khi gặp chuyện đau lòng.
Ta không dám khóc.
Bằng nước mắt
Nửa đầu thập niên 1990, những hí họa của Chóe chiếm lĩnh nhiều trang báo Việt Nam. Ngoài đứng góc hí họa trên hai tờ Lao Động và Kiến Thức Ngày Nay, mỗi ngày Chóe vẽ cỡ 10 bức hí họa khác nhau đi "bán" cho các tòa soạn. Năm 1997, Chóe bệnh tiểu đường, phải đi Pháp điều trị hai lần, nhưng không thuyên giảm.

Năm 2001, Chóe bị hư hẳn con mắt phải, con mắt trái chỉ còn thấy lờ mờ nên không còn vẽ được nữa. Hơn một năm ròng, Chóe nằm nhà làm thơ, thỉnh thoảng gọi điện bạn bè để đọc cho nghe những câu thơ suy ngẫm như

Khi ta vẽ trừu tượng.
Cái đầu ta hiện thực.
Khi ta vẽ hiện thực.
Cái đầu ta trừu tượng.
Khi ta vẽ em.
Đầu ta bay đâu mất.

Cuối năm 2002, vợ con Chóe đưa ông sang Mỹ với le lói mong mỏi những tiến bộ y khoa mới nhất có thể giúp ông níu kéo sự tồn tại. Ngày 18/1/2003, bác sĩ ở Virginia đã chích thuốc phục hồi thị lực cho Chóe, và tranh thủ được nhìn thấy trở lại trong khoảng nửa giờ đồng hồ, ông đòi giấy bút để vẽ nhoáng nhoàng một mạch sáu bức tranh. Đáng xót xa thay, đó cũng là những tác phẩm cuối cùng của Chóe. Ngày 4/3/2003, Chóe đứt mạch máu não, và lặng lẽ chuồi vào chốn hư vô một tuần sau đấy, ở tuổi sáu mươi.

5 năm rồi, kể từ ngày Chóe đi xa, tôi ngồi viết những dòng này trong bất chợt thảng thốt nhớ bài thơ ngắn của ông:

Em vứt đi ngọn lửa.
Ta từ bỏ kiếp rơm.
Để đời sau không còn là tro bụi.



'Chân dung nghệ sĩ' qua nét hí họa của Chóe

Triển lãm gồm 28 bức tranh sơn dầu, 2 bức tranh lụa phác họa chân dung những văn nghệ sĩ VN của họa sĩ Nguyễn Hải Chí (tức Chóe) khai mạc vào ngày 4/3 tại phòng tranh Tự Do, TP HCM. Tuy người họa sĩ này không còn nữa (ông mất năm 2003) nhưng tranh ông vẫn sống mãi để "chí choé" với đời.
jkuyk
Họa sĩ Chóe qua nét biếm tự họa. (Địa chí văn hóa TP HCM, quyển III).
Trong làng biếm họa TP HCM trước và sau năm 1975, họa sĩ Chóe là một tên tuổi không thể không nhắc đến trong số ít những cây cọ biếm tiêu biểu: Ớt (Huỳnh Bá Thành), Nguyễn Tài (Nguyễn Hữu Tài), Nhím (Nhữ Đình Ngoạn)... Năm 1973, Chóe được công nhận là cây bút biếm họa xuất sắc, tầm cỡ quốc tế và NXB Glade Publication (Mỹ) đã in riêng một tập tranh của ông để giới thiệu với thế giới. "Làng biếm họa TP HCM có được một cây cọ biếm tầm cỡ quốc tế như Chóe không phải là nhiều", cuốn Địa chí văn hóa TP HCM, quyển III (GS. Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng chủ biên), đã bình luận như vậy.  
Bộ tranh "Chân dung nghệ sĩ" của Chóe bắt đầu được vẽ từ năm 2000. Kế hoạch của ông là vẽ từ 50 đến 60 bức. Nhưng năm 2001, ông phải tạm ngừng sáng tác vì bệnh tiểu đường nặng, phải sang Pháp điều trị. Mọi người đều tin rằng ông sẽ mau chóng bình phục để tiếp tục công trình còn dang dở của mình nhưng bệnh tình ông ngày càng trầm trọng. Họa sĩ Chóe lại mắc thêm bệnh mù màu. Năm 2003 ông sang Mỹ chữa bệnh nhưng chưa kịp điều trị thì qua đời tại Mỹ.
rujtyuyt
Chân dung nhà văn Vũ Trọng Phụng qua nét hí họa của Chóe.
Do đó, bộ "Chân dung nghệ sĩ" của ông chỉ dừng lại ở con số 28 bức với nhiều kích thước khác nhau (nhỏ nhất 60x40 cm, lớn nhất 65x95 cm). Đây là lần đầu tiên bộ tranh này được trình bày với những người yêu hội họa. Ngoài ra, phòng tranh Tự Do còn giới thiệu thêm 3 bức tranh cũ của họa sĩ Chóe phù hợp với chủ đề triển lãm, gồm: "Ca sĩ Bảo Yến" (tranh lụa, 1990), "Chủ nhiệm phòng tranh Tự Do I" (1990), "Nhạc sĩ Trần Tiến" (1993).  
Nhạc sĩ Trần Tiến đang "phiêu" cùng cây đàn guitar, nhà văn Vũ Trọng Phụng tài hoa với ánh nhìn sắc sảo trước cuộc đời, nhà văn Sơn Nam khắc khổ và dân dã... Chân dung những nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, học giả Việt Nam qua nét cọ biếm của Chóe vừa dí dỏm lại vừa gây rất nhiều cảm xúc.
Ông Đặng Hải Sơn, chủ nhiệm phòng tranh Tự Do, cho biết, Nguyễn Hải Chí là một trong những họa sĩ đầu tiên cộng tác với phòng tranh. Ông vẽ tranh lụa, tranh giấy dó và sơn dầu. Từ giai đoạn 1989-1990, tranh lụa và giấy dó của Chóe ký tên Vân Bích. Bức sơn dầu đầu tiên của ông treo ở phòng tranh Tự Do đã được gallery Matsukawa, Tokyo (Nhật), mua lại.
jyujyu
Chân dung nhạc sĩ Phạm Duy.
Chóe không vẽ tranh lụa theo lối truyền thống, không rửa lụa cho trong mà vẽ như kỹ thuật màu nước trên giấy, gây nhiều bất ngờ thích thú cho người xem. Trong khoảng 100 bức tranh màu nước trên lụa và trên giấy ký tên Vân Bích, phòng tranh Tự Do hiện chỉ còn giữ lại bức tranh lụa "Ca sĩ Bảo Yến" (1990) hí họa một Bảo Yến đang hát cuồng nhiệt, tóc tai dựng đứng khi trình diễn bài ca bốc lửa.
Tranh hí họa của Chóe được nhiều báo nước ngoài đăng tải nhất, nhưng ít người biết, ngay từ những ngày đầu cầm cọ họa sĩ Chóe đã vẽ tranh sơn dầu. Hiện nay, gia đình còn giữ những bức sơn dầu của ông, tiêu biểu là bức Chân dung bà Nguyễn Thị Kim Loan, vợ ông, với một kỹ thuật sơn dầu rất vững vàng, thể hiện sâu sắc "cái thần" của người phụ nữ đằm thắm, tảo tần lo cho chồng con.
Tác phẩm của họa sĩ Chóe là "mục tiêu săn đuổi" của các nhà sưu tầm tranh. Tháng 10/1989, một nhà sưu tầm Đài Loan đề nghị mỗi tháng mua của Chóe 2-4 bức tranh sơn dầu, và từ 6 đến 10 bức tranh màu nước. Đây chính là vị khách đầu tiên đặt mua tranh Chóe dài hạn. Năm 1994, ông Holger, chủ bút tờ nhật báo Katrineholm Kourrier của Thụy Điển, mời 4 họa sĩ Việt Nam sang triển lãm ở bảo tàng Nordiska, đã mua một bức tranh của Chóe để tặng nữ hoàng Thụy Điển.
Nhiều nhà sưu tầm mua toàn bộ những tranh triển lãm của họa sĩ Chóe. Ông Nguyễn Đăng Quang (Công ty Lam Sơn TP HCM) mua bộ tranh "Nhân vật của Chóe" gồm 35 bức tranh sơn dầu (1992), mua 2 bộ "Họa thơ Hồ Xuân Hương" gồm 40 bức sơn dầu và bộ "Những phụ nữ Nobel" gồm 27 bức tranh sơn dầu. Năm 1996, bà Nancy Phạm, Việt kiều Mỹ, mua nguyên bộ tranh 41 bức "Những tổng thống Hoa Kỳ"...  
Triển lãm kéo dài đến hết ngày 16/3 tại số 53, Hồ Tùng Mậu, TP HCM.
Anh Vân
Theo báo VNexpress


May 7, 2013

DỬNG DƯNG









              DỬNG  DƯNG

                          Bích Quy

           Xin đừng hỏi "Vì sao ?"
           Anh cô đơn nơi sống
           Giữa những người xa lạ
           Chẳng cùng một màu da

           Còn đây trên quê hương
           Đã thống nhất một nhà
           Mà lòng người không nhất
           Hàng xóm nhà cao cửa rộng
           Chẳng ai thèm biết đến ai

           Em có bị đánh đập giữa phố
           Cũng chẳng ai can thiệp làm gì
           Họ đứng coi,  quay phim ,  chụp ảnh
           Như xem màn biểu diễn hay ho
           Chị có bị tai nạn cũng kệ̣
           Cứu làm gì cho phiền phức đến thân
           Chẳng quan tâm,  anh no hay đói
           Cứ dửng dưng, chị bệnh lết không nổi
           Anh có đánh con, bươu đầu sứt trán
           Chuyện nhà anh, ai can dự làm gì

           Láng giềng ở cùng một xóm
           Đèn nhà ai nấy rạng vậy thôi
           Nhà cửa càng to, lòng người càng nhỏ
           Có nơi nào để lại được như...xưa ?


May 6, 2013

VIẾNG ĐỨC MẸ TÀ PAO

NGÔ OANH





          Tháng 5 là tháng người Công Giáo tưởng nhớ Đức Mẹ hiện ra ngày 13 tháng 5 năm 1917 tại làng Fatima, Bồ Đào Nha.
Tôi nhớ lần đầu tiên cách đây nhiều năm, người chị gọi điện thoại hỏi tôi có đi thăm Đức Mẹ Tà Pao không? Lúc đó tôi cũng chưa biết Đức Mẹ Tà Pao là gì? ở đâu? Nhưng tôi cũng OK đi liền.
["Tà Pao" là tên đặt theo tiếng của dân tộc K’Ho có nghĩa là “Một giấc mơ đẹp” (“Tà”: đẹp theo nghĩa linh thiêng, “Pao”: giấc mơ). Nhưng nếu được viết hoặc phát âm là “Tàmpao” thì có nghĩa là “Suối mơ”].
Sau đó tôi có nghe mấy chị mô tả tượng Đức Mẹ ở trên đỉnh núi, tôi cũng chưa hình dung đỉnh núi đó cao thấp thế nào, chỉ biết là đoàn hành hương của một chị ở nhà thờ bên Gia Định tổ chức. Đoàn này chuyên đi vào giờ đêm, khởi hành ở Sàigòn là 7 giờ tối, lên tới tượng đài là khuya cỡ 12 giờ, rạng 4 giờ sáng sẽ khởi hành ra biển Mũi Né tắm ở đó, ăn trưa rồi 1 giờ lên xe về Sàigòn. Lịch đi hành hương, kết hợp du lịch luôn như vậy.

          Chà! đi xe ban đêm, tôi chưa từng trải kinh nghiệm nên không hiểu sức khỏe yếu như mình có chịu được không? Tôi nhớ lúc đó bắt đầu từ quốc lộ, rẽ trái vào con đường lúc đó hẹp lắm, đó chính là rừng Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Nhờ ánh đèn xe rọi, tôi thấy nhà dân nằm sát đường, tán lá cây mọc chìa ra mặt đường. Tôi tưởng tượng lỡ có chiếc xe khác chạy ngược chiều thì không biết sẽ ra sao…. đường thì rất là hẹp và tối thui, người dân thì đã ngủ hết, mà nhà cửa thưa thớt, vì đây là rừng mà. Nhưng cuối cùng rồi cũng tới nơi, tôi chỉ định đứng ở dưới đất, hướng về tượng đài Đức Mẹ và đọc kinh, cầu nguyện cũng là đủ rồi. Nhưng tôi không yên được với mấy chị, các bà cứ bắt tôi phải leo lên 425 bậc. Tôi nhìn mà ngán quá, không biết đôi chân “lực sỹ viện bài lao” của mình có leo nổi hay không, nhưng tôi cứ đi từ từ, hễ mệt thì ….đứng lại mà thở. Lúc đó, chỉ vừa có các bậc thang chứ chưa kịp có tay vịn, tôi ngán quá, nhưng vẫn can đảm tiếp tục. Cuối cùng rồi tôi cũng lên chiêm ngưỡng tượng đài. Đêm khuya lên tới đó, chỉ toàn nghe tiếng đọc kinh và hát, vì hết đoàn của nhà thờ này sẽ có đoàn của nhà thờ khác, hình như không bao giờ dứt tiếng cầu kinh bên chân Mẹ. Tôi và vài chị bạn chụp hình lưu niệm cùng Mẹ.


          (Tượng Đức Mẹ được đúc bằng xi măng trắng cao 3 m, đặt trên một bệ vuông cao 2 m, nghe đồn là tượng do bà Ngô Đình Nhu cho trực thăng thả trên đỉnh núi vào thời chiến tranh, nên tượng chưa kịp được gắn trên đỉnh). Tôi thấy tượng thật đẹp và càng đẹp hơn khi nghe các chị từng đến đây nhiều năm về trước nghe Đức Mẹ hiện ra đã … bò lên tới trên tượng đài. Tôi dùng chữ bò lên vì lúc đó các chị nói chưa có làm bậc thang, phải bò lên. Các chị kể cho tôi nghe câu chuyện Mẹ hiện ra chữa cho vợ của một người tiều phu bị liệt nằm bất động một chỗ. Tôi còn biết có một đoàn xe của một chùa ở Sàigòn do một vị sư dẫn đi, lúc đó chưa có bậc thang. Các bà này hay thật, đức tin đã làm người ta quên đi sự nguy hiểm, chính tôi cũng không hiểu là nếu lúc đó mình có …chịu bò lên hay không? Điều đó cũng nói lên nỗi khao khát của con người, muốn chiêm ngưỡng thực tế sự huyền nhiệm của mẹ Maria.


           Lúc đó tôi mới chợt nhớ lại là mình đã có xem đoạn băng video nhiều năm về trước nữa, (chắc là khoảng thập niên 90) ống kính quay được rất lâu cả tiếng đồng hồ, hình Đức Mẹ hiện ra bên sườn núi, chung quanh dân chúng đứng xem rất là đông: xe gắn máy, xe khách, xe đạp…Từ đó về sau người ta đi viếng Đức Mẹ Tà Pao rất nhiều, vậy mà tới bữa nay tôi mới viếng thăm Mẹ, cũng thật là trễ tràng. Rồi những năm sau nữa, mỗi năm tôi đều đi viếng Mẹ Tà Pao, cũng là cơ hội để tắm biển. Mỗi năm tôi chứng kiến đường xá ngày càng mở rộng lớn hơn, có năm chúng tôi đi vào lúc công nhân đang đặt ống cống, đường dằn xốc dữ dội, tài xế là tay lái “cao bồi” giỏi lắm mới lạn lách khéo léo qua những hố cống bự trên đường. Có năm nghe nói cây cầu nhỏ gì đó bị gẫy, tài xế chạy vào đường khác, giống như ruộng rẫy của nhà dân hay sao, vì khuya quá tôi không thấy rõ, kiểu này xe có tuột xuống dưới, chắc kêu cứu hỏng biết có ai nghe không? Mà nếu có một chiếc xe nào khác chạy ngược chiều, tôi không hiểu tài xế sẽ xử lý ra sao, xe nào nhường xe nào? Vì đường đê chỉ cho phép một chiếc xe chạy.

           Năm đầu tiên, chúng tôi đọc kinh xong xuống núi chắc là 1 giờ khuya, chị trưởng đoàn dẫn chúng tôi đi về nhà soeur ngủ, ăn sáng rồi đi ra biển Mũi Né. Tôi nhớ là khuya như vậy mà chúng tôi xách hành lý, đi bộ trên những con đê, khá xa đấy các bạn. ( Vì chung quanh chưa có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, chỉ cần cỡ hai sao mà ở rừng Tánh Linh thì chắc hẳn phải gọi là Đế Vương rồi). Ngủ ở nhà soeur sạch sẽ lắm, ăn sáng ngon và thật là rẻ. Những năm sau, chị trưởng đoàn thay đổi, chúng tôi không đi bộ xa để tới nhà soeur nữa mà thuê ghế bố, ngủ tại chân núi, tảng sáng thì chúng tôi mới di chuyển.

          Có anh bạn trong đoàn nói vui là ảnh cầu nguyện xin Mẹ hiện ra …. ngay chợ Bến Thành để ảnh đỡ mất công đi xa.

          Hồi tưởng lại quá khứ lúc nào cũng thấy đẹp, những chuyến đi thăm Mẹ Tà Pao, có vất vả, có mệt nhọc, có hồi hộp, lo âu, nhưng sau này biết làm sao tìm lại được những giây phút quý giá đó.


Ngô Oanh







May 4, 2013

NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU


 NGUYỄN VĂN LỤC

Nam Phương Hoàng Hậu

Câu chuyện một con tem
   

 


Cách đây hơn nửa thế kỷ, đúng ra là vào khoảng những năm 1943-1946 gì đó, tôi đang chỉ là một chú bé nhà quê. Thế giới chung quanh tôi chỉ có mẹ và mấy chị. Nhưng không nhớ bằng cách nào, tôi được nhìn thấy hình Hoàng Hậu Nam Phương trên mấy con tem. Chỉ bằng mấy con tem đủ ấp ủ hình ảnh người phụ nữ hiền lành, phúc hậu đến cả đời. Hình ảnh con tem đó cứ như thế giữ mãi trong lòng, trong ký ức chả quên được. Con tem nhỏ xíu hình một người phụ nữ, chít khăn vàng, áo dài. Quá nhỏ để nhận ra chân dung người đó, cũng quá nhỏ để biết được con người. Vậy mà hình ảnh đó có sức thu hút, đeo đuổi mãi cho đến bây giờ. Ký vãng sự việc thì có thể quên. Nhưng dấu ấn tình cảm, niềm kính trọng người phụ nữ đó thì không. Hình ảnh qua con tem nhỏ bé toả ra sự uy nghiêm, trang trọng, quý phái, nhưng dung dị hiền từ. Đôi mắt có vẻ buồn, Sống mũi cao. Đẹp không chê vào đâu được. Vẻ đẹp kín đáo, nhưng có sức thu hút khó quên được. Hỏi nhiều người cỡ tuổi tôi cũng đều nhận như thế. Nhưng nó lại không có cái nét kiêu kỳ hãnh tiến như những người sang trọng giầu có. Nhất là con mắt có cái nhìn thẳng thắn, đầy độ lượng. Nhiều người sau này nhìn ảnh Hoàng Hậu sau cũng phải nhận một điều: Hoàng Hậu có nét uy nghi, đoan trang và phúc hậu. Chỉ tội buồn.
Sao Hoàng Hậu lại buồn thế..
Xin dẫn một chứng từ của một cô nữ sinh thời 1937-1941 nhắc lại kỷ niệm gặp gỡ Hoàng Hậu Nam Phương, viết trong tập san Đồng Khánh : "Hànội, mái trường thân yêu". Dược sĩ Nguyễn thị Huyền, vừa mất năm ngoái đã viết lại cảm tưởng của mình như sau :* "Ngày Bà Nam Phương đến thăm lớp, cô Thục Viên, giáo sư Pháp Văn vẫn đứng trên bục giảng chìa tay đứng bắt tay Hoàng Hậu và từ tốn trả lời các câu hỏi của Hoàng Hậu, không hề mất chủ động. Trong khi đó Nguyễn tiến Lãng, người đi cùng Hoàng Hậu muốn tâu gửi gì với Hoàng Hậu đều quỳ xuống đất. Cô xin phép tiếp tục giảng. Hoàng Hậu dự giảng và sau đó cho gọi học sinh giỏi Văn lớp là chị Nguyễn thị Thứ lên thưởng cho một bức ảnh do Hoàng Hậu ký tên. Thái độ đường hoàng của cô đã gây cho chúng tôi một niềm tự hào chính đáng, trong lúc ấy chúng tôi cũng thích vẻ đẹp dịu dàng Đông Phương và thái độ bình tĩnh không có vẻ gì hách dịch của Nam Phương Hoàng Hậu*. Một trong những học trò có mặt bữa hôm ấy là cô Ngô thị Ngà, nguyên giáo sư Trưng Vương đã cho biết cảm tưởng : Mê cái vẻ đẹp dịu dàng của Hoàng Hậu và vì thế sau này cô đặt tên cho một cô con gái là Thu Phương, tức Hương mùa thu nhắc nhớ đến tên Hoàng Hậu Nam Phương, hương miền Nam. "
Hôm nay ngồi viết lại một chút cuộc đời Bà mà hình như Bà đang ngồi trước bàn máy. Sự biết về Bà quá ít, mầy mò sách vở đủ loại, lục lọi chỗ này chỗ kia cũng chỉ là những mảnh vụn rời rạc, cũng không thấy bóng dáng Bà đâu cả. Cũng chả thu thập được nhiều nhọm gì. Người đời coi ra vô tình với Bà đã đành, sách vở sử học cũng vậy.
Ngay trong hồi ký của vua Bảo Đại, "Le Dragon d'Annnam", (1) tôi đã lật đi lật lại nhiều lần, chỉ thấy loáng thoáng từ trang 62 đến 68 nói về cuộc hôn nhân của nhà vua hơn là nói về Hoàng Hậu. Tôi đành lòng với một ít tài liệu trong báo Indochine vào những năm 1942-43-44 với vài bài của Nguyễn Tiến Lãng và một vài người bạn Pháp của gia đình. Bài viết về Bà của Cù Huy Cận không có trong tay. Cuốn sách quan trọng của Phạm khắc Hoè : từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc và Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn chỉ được đọc những đọan trích dẫn mà nội dung quả thực khiếm nhã và tuyên truyền nhiều hơn là sự thực. Một số bài báo trên các báo chí Hải ngoại thường viết thiếu dữ kiện khả tín, viết cho có mà thôi. Vì thế, cũng chả thu tập được bao nhiêu. Thật là bất công với Bà quá và cũng vô tình quá. Chỉ xin lấy tấm lòng đáp lại được phần nào hay phần ấy.

 
1. THỜI CON GÁI

Cô Nguyễn Hữu thị Lan Marie Thérèse là con một nhà điền chủ, đất Gò Công. Bố được Tây cho đi học ở Pháp về, rồi mở đồn điền trà và cà phê ở cao nguyên Trung phần. Các điền chủ khác thường ít chữ nên chỉ loay hoay với ruộng, vườn tược, sống nhờ bổng lộc từ đó mà ra. Nhưng ông bà Nguyễn Hữu Hào có vốn Tây học, có đầu óc nên mới nghĩ đến khai thác đồn điền. Vào thời kỳ đó, khoảng những năm 1920-30, báo Nam Kỳ địa phận ra hàng tuần đã khuyến khích người Annam khai thác đồn điền, mở mang kinh doanh, kỹ nghệ để cạnh tranh với người Tây và cả với người Tầu như trong lời mở đầu của tờ báo: "Tờ báo có ý khai đàng văn minh cho nhân dân đặng tấn phát cho bề đạo việc đời đều thông thuộc. Vì thế trong nhựt báo 'sẽ biện luận về những điều đạo lý, phong hóa, bá nghệ, bác học và văn tin... nên sự gì tốt và hữu ích thì đem đặng vô hết ' ". (trích lại trong bài Chữ Quốc Ngữ, giai đoạn sơ khởi của chính tác giả).
Nhà chỉ có hai chị em, chị là Agnès Nguyễn Hữu Hào đã hẳn có nếp sống văn minh thành thị của lớp dân giầu có. Cuộc sống hai chị em cứ khách quan mà nói là sung sướng, đầy đủ, được cưng chiều. Họ đã sống tuổi thanh xuân êm đềm và mơ mộng. Và có lẽ đó là giai đoạn hạnh phúc nhất đời của người thiếu nữ sau này làm Hoàng Hậu. Theo những bức hình chụp trong tờ Indochine thì cả hai chị em đều cao lớn hơn hẳn những người phụ nữ Việt Nam bình thường.
Tôi mê bức ảnh Hoàng Hậu chải tóc rẽ, vấn khăn và nhìn nghiêng bên trái, không nhìn thẳng. Những bức ảnh mặc đầm, hay những bức ảnh mặc triều phục, hoặc ngay cả ngày cưới coi cũng được được vậy thôi. Theo cách nhìn của tôi, có nhẽ cô Agnès không lấy gì làm xinh xắn lắm, gương mặt xương xương, thiếu đầy đặn. Nhất là thiếu cái nét đoan trang, dịu hiền như cô Lan. Tôi cứ nghĩ, phải cám ơn cái ông Tây nào đó đã chụp những bức hình mà Nam Phương Hoàng Hậu đẹp như thế, lột được cả cái hồn, cái phần sâu thẳm của đời sống bên trong. Phần cô Agnès, có vẻ Tây hơn. Cô đã lấy chồng sớm, học hành chẳng hiểu đến lớp nào. Ông chồng là bá tước Didelot, làm công chức cho Tây. Cả quãng đời tuổi thanh xuân này, gần như không có một ai có thể hé lộ cho biết đời sống hai tiểu thư ra sao.
Nhưng dựa vào một vài sự kiện mà suy đoán thôi. Chẳng hạn, trong một bài viết của ông Nguyễn Tiến Lãng, con rể cụ Phạm Quỳnh sau này đăng trên tờ Indochine có kể rằng, trước ngày đám cưới thì hai chị em đến ở một căn nhà của gia đình ở đường Nguyễn Du bây giờ, tức quá không nhớ số, trước ngày ra Huế. Điều đó cho thấy, các cô ở Sài Gòn để đi học chứ không ở Gò Công. Thời đó, Sài Gòn chỉ rộng như cái bàn tay. (2) Nhỏ lắm. Bé lắm. Qua khỏi bến Nhà Rồng, sang Khánh Hội là lau sậy. Qua khỏi Nancy, chợ Quán là đồng không mông quạnh. Chưa tới cầu Trương Minh Giảng đã là bãi sình rồi. Các tiểu thư ở đường Nguyễn Du, mỗi sáng đi nhà thờ thì băng qua đường Lê Văn Duyệt, tới đường Bùi Thị Xuân chừng nửa cây số là tới nhà thờ Huyện Sĩ. Nhà thờ này theo thói quen lấy tên ông Huyện Sĩ hay Lê Phát Đạt vì chắc là ông đã công hiến nhiều để xây dựng nhà thờ. Ông Huyện Sĩ lại là bác ruột các tiểu thư.
Nếp nhà như vậy, vừa giầu có, vừa có ăn học, vừa theo nếp sống Tây phương với tư tưởng tự do phóng khoáng đã hẳn khác với các "công tử Bạc Liêu" về lối sống, lối nghĩ, lối giải trí. Lớn lên, cô chị đã yên một bề chồng con, phần Hoàng Hậu tương lai được cha mẹ gửi sang Pháp học trường Couvent des Oiseaux.
Có dư luận lẫn lộn Couvent des Oiseaux bên Pháp với bên này, nhân tiện xin làm sáng tỏ thêm vấn đề này. (3)
Nói thêm chút nữa để chứng tỏ mình có chút uyên bác. Hồi Bà học Couvent bên Pháp nhà trường hẳn nằm ở phố Ponthieu và Verneuil. Nhưng hỏi Ponthieu ở đâu thì quả tình mù tịt không biết.
Có sách ghi cô đỗ tú tài Tây rồi mới về, điều này cũng không khẳng định rõ được. Bảo Đại chỉ ghi: "Elle vient de terminer ses études au Couvent des Oiseaux, en France". Tất cả thời gian này, không một ai biết cuộc sống người thiếu nữ Tây học, duyên dáng, hiền thục ra sao. Chỉ biết, cô đã về nước năm 18 tuổi.
2. CUỘC HÔN NHÂN CỦA CÔ NGUYỄN HỮU THỊ LAN

Cuộc gặp gỡ lần đầu.
Có một câu hỏi được đặt ra là cô Nguyễn Hữu Thị Lan đã quen và gặp Bảo Đại trong trường hợp nào và ở đâu. Có một số tác giả cho rằng họ quen nhau trên cùng một chuyến tầu thủy của hãng Messagerie Maritime về nước như một cuộc tình duyên kỳ ngộ, lãng mạn. Một hoàng tử gặp giai nhân trên một chuyến tầu, yêu nhau rồi quyết định chuyện hôn nhân. Trên tờ Indochine, có một vài bài viết của ông Nguyễn Tiến Lãng, một người thân cận của Hoàng Hậu, nhưng tôi cũng không thấy đoạn nào nói rõ về vấn đề này. Cho dù có đi cùng chuyến tầu không chắc gì đã có thể gặp nhau. Nếu có chuyện đó thì vua Bảo Đại hà cớ gì lại không nhắc đến trong hồi ký trích dẫn sau đây. Cái tật của người Việt Nam là hễ có một người viết trật là kéo theo cả lô người khác xuống hố theo. Dù sao, tôi cũng chẳng dám cả quyết gì về điều này.
Nhưng một điều không cần bàn cãi nữa là căn cứ vào tập hồi ký "Le Dragon d'Annam" của vua Bảo Đại là đúng nhất. Vua Bảo Đại cho biết ông đã gặp Nam Phương Hoàng Hậu ở Đà Lạt, chứ không phải ở trên tầu, ông đã gặp vào cuối năm 1932. Xin trích dẫn ý của vua sau đây: "C'est alors qu'à la fin de l'année, m'étant rendu pour quelques jours à Đà Lạt où séjournait également le gouverneur général Pasquier, celui-ci, à l'occasion d'une rencontre dans les salons du Langbian Palace, me présente une jeune fille qui était en compagnie de Mme Charles, Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Hào, appartient à une famille de riches propriétaires terrien de Cochinchine. Catholique, comme ses parents elle vient de terminer ses études au Couvent des Oiseaux, en France. Elle a dix huit ans. (Sách đã dẫn trang 63) Đọc đọan văn trên, thấy có gì là lạ. Chẳng hiểu tại sao cả đám người tai to mặt lớn lại không hẹn mà gặp nhau ở Đà Lạt. Có bà Charles, người đỡ đầu cho Bảo Đại đi cùng với cô Lan, bà lại là bạn của gia đình Nguyễn Hữu Hào. Có bài viết nói ông Lê Phát Đạt dẫn cháu gái đến ra mắt Bảo Đại. Cô cháu gái lại ỉ ôi năn nỉ chán mới chịu đi, ăn mặc sơ sài thôi. Tôi thiết nghĩ, ông Đạt không đủ tư cách để đường đột dẫn cháu gái ra mắt Hoàng Thượng, nếu không có một sắp xếp trước. Cùng lắm ông chỉ là người thừa hành thôi. Đích thị là có sắp xếp trước, có toan tính trước giữa bộ ba toàn quyền Pasquier, ông bà Hào và chủ chốt là bà Charles. Cho dù trước đó có gặp nhau trên tầu trên bè gì cũng không quan trọng. Sau buổi gặp gỡ ở Đà Lạt, kể như định mệnh đã được an bài rồi. Sự sắp xếp này cũng rất bình thuờng và tự nhiên ở cương vị của Bảo Đại. Vấn đề chính là họ đã yêu nhau và quyết định đi đến hôn nhân: "Après quelques entretiens, un tendre sentiment nait entre nous. Nous nous promettons de nous revoir".
Những trở ngại của cuộc hôn nhân.
Theo vua Bảo Đại, từ ngày hồi hương, rất nhiều những tin đồn chung quanh việc chọn một người vợ cho Ông. Bà Từ Cung đã đành, các vị quan lớn trong triều, mỗi người đều có người của mình để đề cử. Vua đã hẳn biết được điều đó và Ông đã nhiều lần cho biết ông quyết định không chấp nhận chế độ đa thê vẫn thường thấy ở Việt Nam, về những tệ trạng tranh dành ngôi thứ giữa anh em hoặc anh em cùng cha khác mẹ đến chỗ đâm chém nhau. Vua Minh Mạng có đến 170 người con và để tránh cảnh tranh giành ngôi thứ, vua Minh Mạng đã đặt ra tên gọi theo thứ tự đến 20 đời kế tiếp nhau để những dòng họ theo đó theo thứ tự mà kế vị. Hai mươi đời đó được khắc vào tờ giấy bằng vàng và tên gọi một người như thế được coi như giấy Hộ tịch của mình.. Hai mươi chữ đó nằm trong bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt mà câu đầu gồm những chữ :

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quí Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thể Thoại Quốc Gia Xương

Nhưng mới tới chữ thứ năm trong bài thơ thì triều đình nhà Nguyễn đã không còn nữa, mặc dầu tên của vua Bảo Đại được lót bằng chữ Vĩnh có nghĩa là muôn đời. Những ý nghĩa đó còn được tìm thấy trong những chữ tỉnh Thừa Thiên, Vạn Thọ, Long Sàng, chỗ ở của Bửu Long được gọi là Tứ Phương Vô Sự.
Đã hẳn, hai ông bà Charles, bố mẹ đỡ đầu của vua không thể không bận rộn trong việc kiếm tìm một người vợ cho vua. Cái khó là ở chỗ đó. Quá nhiều người, quá nhiều đề cử, nếu không nói là những âm mưu gây ảnh hưởng nên dễ gây bất đồng ghen tỵ, nói ra nói vô.
Nhưng trở ngại lớn nhất là cô Nguyễn Hữu Thị Lan là người theo đạo Ky tô giáo. Theo vua Bảo Đại, khi trở về Huế, ông đã bầy tỏ ý định lấy vợ người theo đạo Kitô giáo và là người đã được đào tạo ở Tây phương. Nghe tin đó, hẳn nhiên là Bà Từ Cung không đồng ý vì bà mong muốn một cô dâu theo truyền thống Á Đông. Quan lại cũng ngấm ngầm chống đối. Tứ phía chống đối dựa trên quyền lợi cá nhân cũng có, phe phái, miền cũng có, nại cớ nguyên tắc truyền thống cũng có. Cô dâu "Mới Quá". Chữ "Mới" có vang vọng muốn đồng nghĩa với thiếu văn hoá đạo đức cổ truyền. Người ta e ngại cũng phải. Cứ nói tiếng Tây líu la líu lo cũng đủ ngại rồi. Sự nghi kỵ, thành kiến tranh chấp, hiểu lầm còn đầy dẫy trong dân gian, nhất là trong đầu mỗi người. Đặt mình vào địa vị vua và hoàng hậu tương lai mới hiểu được sự cam go không thể vượt qua được của cuộc hôn nhân này. Rồi vấn đề giáo dục con cái theo đạo Ky tô giáo nữa. Sẽ giải quyết ra sao khi hoàng tử kế nghiệp vua phải cử hành lễ Tế Nam Giao hoặc thờ cúng tổ tiên. Lấy ai là người gìn giữ nếp sống, văn hóa cổ truyền, cúng giỗ tổ tiên của cha ông để lại.
Có một số tác giả đã viết không đúng về vấn đề này. Nhất là giới Công giáo. Chẳng hạn cho rằng vua Bảo Đại là người đã theo đạo Ki tô giáo. Thật ra đối với vấn đề tôn giáo, ông Bảo Đại rất thoáng, minh bạch và rất trung lập. Ông không theo đạo nào cả. Như ông viết: "Au palais, il n'y avait qu'un Dieu: L'empereur, fils du ciel". Vậy không hề có chuyện đó. Ngay cả các Hoàng tử, Công Chúa chưa chắc gì đã rửa tội, theo đạo Ki tô giáo. Một điều nữa, dư luận vẫn cho rằng Hoàng Hậu Nam Phương phải xin phép Vatican rồi mới được lấy chồng. Nhưng theo hồi ký của Vua Bảo Đại, chỉ sau khi làm đám cưới xong, ông mới gửi thư cho Giáo Hoàng Piô 11 một lá thư qua trung gian người Pháp, vì thời đó ta chưa có liên lạc ngoại giao với Vatican. Nếu Hoàng Hậu muốn xin phép thì phải gửi thư qua các cha cố, theo hệ thống nhà đạo. Cho đến nay, chả có bằng cớ gì, chả có văn bản nào cho thấy có phép chuẩn cả. Có thể chỉ là đồn đại. Vua Bảo Đại gửi thư cho toà thánh không phải để xin phép, xin tắc gì cả mà bầy tỏ lập trường và quan điểm của vua Bảo Đại. Hãy xem ông viết: "Cette lettre avait moins pour but de régler la question personnelle de mon mariage et de l'éducation envisagée pour mes enfants que d'apporter et de provoquer des éléments de réponse à un conflit ouvert depuis des siècles et, plus encore, de faciliter la rencontrre entre deux mondes: l'Occidental et l'Oriental, à travers notre pays d'Annam, 'terre de rencontres', et à travers ma personne qui, pour la première, et vraisemblablement pour la dernière, par l'éducaion recue, réunissait les conditions d'une véritable confrontation entre deux civilisations". Đoạn văn trên của vua Bảo Đại giúp dẹp hết những bàn tán bên lề, những chuyện tủn mủn thổi phồng về chuyện đám cưới của ông với cô Nguyễn Hữu Thị Lan.
Những trở ngại mà cô dâu tương lai gặp và phải đương đầu.
Đặt mình vào địa vị Hoàng Hậu Nam Phương mới thấy thấm thía được những trở ngại, những khó khăn mà Bà phải chịu đựng. Thật quả không dễ gì lấy được một ông vua và cũng không dễ gì làm Hoàng Hậu. (4) Nhưng lịch sử cũng cho thấy không thiếu trường hợp trước đây xứ Nam Kỳ mà có lần vua Bảo Đại đã gọi là miền đất hứa đã cống hiến cho triều Nguyễn những người con gái tài ba và sắc đẹp:
Bà Từ Dũ, tức cô Phạm Thị Hằng là vợ vua Thiệu Trị và là mẹ vua Tự Đức. Bà là tiêu biểu cho một lớp người phụ nữ đức hạnh, có học vấn, làm gương sáng cho mọi người trong triều đình.
Sau đó đến bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng và cuối cùng là Cô Nguyễn Hữu Thị Lan.
Tên của bà là Nam Phương Hoàng Hậu mang ý nghĩa đó, chỉ thị đó là Hương thơm của miền Nam. Tên đó biểu thị cả nết lẫn người đem lại vinh dự cho người dân xứ Nam Kỳ.
Nhưng cái khó lớn lao nhất Bà phải đương đầu vì Bà là người Công giáo. Những chỉ dụ cấm đạo hồi nào mới chỉ vừa ráo mực. Lòng người chưa ổn. Điều đó cũng chứng tỏ Bà là người có cá tính, can đảm và trung thành với đạo giáo của Bà. Giả dụ một người đàn bà khác thì sao? Sẽ bỏ tất cả, sẽ làm tất cả và bằng bất cứ giá nào để được làm Hoàng Hậu. Hiểu đến cội nguồn mới hiểu được nhân cách của Bà, cái cao quý của một nhân phẩm và cái trong sáng, ngay thẳng của một người đàn bà có giáo dục. Chỉ về một điểm này thôi, Bà là người đáng nể trọng. Qua những người phục vụ chung quanh vua và Hoàng Hậu sau này, mọi người không kể bất cứ ai đều bầy tỏ lòng kính trọng và quý mến cái nhân cách của Bà. 
3. NGÀY ĐÁM CƯỚI





























Mọi chuyện đã xong. Dư luận cũng tạm ngưng tiếng nói. Những đám mây mù đã tan. Phần lớn nhờ vào sự cương quyết đến cứng rắn của vua Bảo Đại. Huế chờ đón một biến cố có một không hai trong lịch sử triều Nguyễn, một mẫu nghi thiên hạ đến từ miền Nam với những sắc thái mới đến làm xôn xang mọi người. Một cô gái xinh đẹp nhất miền Nam, Tây học, con nhà danh gia vọng tộc cộng thêm là một người Ki tô giáo. Bấy nhiêu thứ đụng vào những sắc thái truyền thống, cổ truyền đã gắn bó với Huế từ cả mấy trăm năm nay. Huế cổ kính, Huế lãng mạn, Huế trầm mặc, Huế khép kín, Huế đẹp, Huế thơ. Huế có tất cả, trừ một làn gió mới. Chuyện đó đã xảy ra.

Vào ngày 20 tháng 3 năm 1934, người con gái đến từ phương Nam mang theo cả cái hương thơm miền Nam đã quyết định bước qua ngưỡng cửa hoàng cung, vào Cấm Thành. Và do tình yêu gắn liền với định mệnh, một định mệnh không khỏi có trớ trêu, vào buổi sáng mùa xuân đó, cả một cuộc đời mới đã mở ra. Bỗng chốc cô trở thành Hoàng Hậu của cả nước. Từ nay, không còn ai nhắc đến cái tên Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan nữa. Cô là Nam Phương Hoàng Hậu.

Lòng chắc đầy cảm xúc suốt hành trình từ trong Nam ra Huế, chen lẫn lo âu và sung sướng, trong niềm hân hoan không gì tả xiết, mỉm cười chấp nhận những gì sắp tới xảy ra cho mình, trong cảm thức mình là người độc nhất có cái vinh dự làm Hoàng Hậu cả nước. Và trong phẩm phục áo mầu vàng, một ân huệ đặc biệt mà vua đã dành cho nàng, đầu nàng đội mũ có kết trân châu bảo ngọc, đi hia mũi nhọn, tay cầm hốt ngà tiến vào hoàng cung.

Từ bên ngoài nhà khách trú của hoàng cung, cô đã bước lên xe hơi để đi vào Cấm Thành, qua cửa Hiển Nhơn mà hai bên có những người lính hầu, chân quấn xà cạp, đứng nghiêm chỉnh như những tượng gỗ.

                                                     


Buổi lễ đã được diễn ra từ điện Cần Chánh. Hãy nghe Hoàng Thượng kể lại: "J'ai en effet, décidé d'élever ma femme à la dignité d'impériatrice dès notre mariage, alors que jusque-là ce titre n'était attribué qu'à la reine-mère, après le décès de l'empereur. Revêtue de la longue et ample robe de Cour, chaussée de costumes à la pointe retounée, coiffée d!une sorte de bonnet enrichi de pierreries, pour la première fois dans l'histoire de l'Annam, une femme s'avance seule, saluée par toute la Cour. Toujours seule, elle pénètre dans la grande salle òu je l'attends, assis sur un trône bas" (trang 64). Vâng, bây giờ, chung quanh đầy bá quan văn võ, Bà vẫn "seule" và cả đời bà sau này cũng "toujours seule". Trong suốt hơn 10 năm sống ở Huế, Bà vẫn seule như thế giữa đám thị nữ, quan thần, dòng tộc, giữa những sắc thái dị biệt miền, tiếng nói, tôn giáo, nếp sống văn hoá, học vấn. Chỉ những sự khác biệt đó thôi cũng đẩy Bà vào tư thế một mình. Và đã theo đuổi suốt cuộc đời còn lại của Bà. Ôi nhận xét của Bảo Đại trong ngày đám cưới không ngờ có tính cách định mệnh oan trái của đời Bà.

Sau buổi lễ, vua đã đưa Hoàng Hậu về điện Kiến Trung mà trước đó Ngài đã cho sửa chữa lại thành một cung điện có những tiện nghi mới theo những tiện nghi bên Âu châu, trong đó có phòng ăn, phòng ngủ, phòng tiếp khách, phòng làm việc. Và nhất là phòng tắm và vệ sinh. Hồi còn trẻ, có dịp ra Huế khá nhiều lần, ở lâu đến một tháng, hơn tháng là thường. Tôi chỉ có một thắc mắc: Chẳng biết vua chúa, cung phi đi cầu và tắm rửa ở đâu. Cả ngàn người như thế, không thấy một cái cầu tiêu nhà tắm nào. Đó là nét lạ của Huế. Ai hiểu Huế hơn thì xin chỉ cho. Hiểu ra rồi thì không khỏi buồn cười một mình. Từ nay, Bà ra vào điện Kiến Trung mà trọng trách của Bà là cùng với vua cai trị thần dân, đặc trách lo về những vấn đề xã hội theo lời yêu cầu của chính vua Bảo Đại.
Để kết thúc phần này, xin dẫn lời kể của vua Bảo Đại cho thấy vai trò quan trọng của ông bà Charles trong cuộc hôn nhân này: "Le soir du mariage, nous invitons M. et Mme Charles à diner. Estimant leur mission accomplie ils vont repartir pour la France". (trang 64)
Phải nhìn nhận ở đây, lần đầu tiên, vai trò người phụ nữ đã thay tên đổi họ và đã hẳn, cách này cách khác đã ảnh hưởng trực tiếp trên xã hội người phụ nữ Việt.

4. ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH CỦA HOÀNG GIA

Hoàng Hậu là phụ nữ đầu tiên có tân học, ảnh hưởng nếp sống, nếp nghĩ Phương Tây, trọng tinh thần dân chủ, trọng ý thức xã hội. Bà không phải là người chỉ quanh ra quẩn vào chờ cái đèn lồng tối hôm đó thắp sáng lên, rồi tíu ta tíu tít chuẩn bị son phấn, đón tiếp như một thứ đồ giải trí cho vua. Bà tham dự vào tất cả. Họp với các quan bộ lễ, bàn và nghị sự tổ chức các buỗi lễ tế Nam Giao hay lễ Vạn Thọ. Chẳng hạn, lễ Vạn Thọ khánh tiết mừng sinh nhật vua thường được diễn ra trong điện Thái Hòa. Tổ chức lễ Bái Khanh cho mọi người có dịp bầy tỏ lòng trung thành đồng thời chúc thọ nhà vua trăm tuổi. Ngoài đường, các học sinh đi diễn hành, tay cầm cờ Long Tinh, hát bài đăng đàn diễn hành qua cửa Ngọ Môn. Bên trong hoàng thành thì tổ chức các màn múa hát do các nữ học sinh trung học trình diễn và màn dâng hoa cho Hoàng Thượng và Hoàng Hậu. Nên nhớ là không có những màn hát hoặc tuồng tích cổ nữa. Cũng nên nhớ là con trai chỉ được đi diễn hành ngoài đường, ở ngoài hoàng thành mà thôi. Chỉ nhớ lại các buổi lễ chúc thọ vua với lề lối tổ chức, cho nữ sinh vào ca hát, dâng hoa, người ta hiểu những quyết định đổi mới đến từ đâu rồi.

 


Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên ở nước ta cùng vua tiếp khách ngoại quốc như Thống chế Tưởng Giới Thạch, Quốc trưởng Shianouk. Cái mà bây giờ người ta gọi là vai trò đệ nhất phu nhân.

Bà cũng là Hoàng Hậu đầu tiên xuất cung, tham gia các sinh hoạt xã hội như đã đi thăm các cô nhi viện, trường nữ Trung học Đồng Khánh Huế, Hànội, các cô nhi viện hoặc cơ sở Xã hội v.v..

Ngày chủ nhật, Bà đi lễ nhà thờ Phủ Cam như mọi người dân bình thường. Cũng là chuyện lạ. Đó là người phụ nữ theo Kitô giáo đầu tiên trong ngôi vị Hoàng Hậu, ngôi vị mà ngày nay nghĩ lại cũng khó mà tưởng ra là có thực. Sáng sớm tinh mơ, Bà ra khỏi Hoàng Cung, không ngồi kiệu với màn che phủ kín làm bà khó chịu như ngồi trong cũi. Nội điều đó thôi cũng có thể gây ra những xầm sì to nhỏ. Lần đầu tiên, trong Hoàng cung, triều dình nhà Nguyễn, vóc dáng một người phụ nữ uy nghi, đoan trang đem lại những nét đổi mới trong sinh hoạt cung đình : giản dị hoá lễ nghi, giản dị trong những tương quan giao tiếp giữa bầy tôi và chủ, tư tưỏng phóng khoáng, ngay thẳng, ghét những xun xoe xu nịnh, những lời xàm tấu. Lần đầu tiên, một người phụ nữ Việt Nam cùng vua tiếp đón các nguyên thủ quốc gia khác trong vai trò đệ nhất phu nhân như bây giờ. Toàn quyền Decoux đã hết lời khen ngợi bà là người đức hạnh, nề nếp, một sự tổng hợp hai nền văn hoá đạo đức Đông Tây. Về phía quốc tế, Hoàng Hậu đã nhận được những bằng khen của Hàn Lâm Viện Y khoa Pháp và của Hội Hồng Thập Tự Quốc tế.

Chắc chắn và không thể chối cãi được sự có mặt trong Hoàng Cung của Bà đã thay đổi bộ mặt Hoàng Cung. Nhưng điều quan trọng hơn cả, Bà trở thành biểu tượng, mẫu hình lý tưởng cho tất cả giới phụ nữ Việt Nam noi theo.. Nhất định giới phụ nữ Việt Nam nhờ vào Bà đã trở thành tấm gương để mọi phụ nữ noi theo. Hình ảnh người phụ nữ nhờ đó được cải thiện, nâng cao và đổi mới.

Bà có năm người con lần lượt là Bảo Long, Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung và Bảo Thắng. Ngày thái tử Bảo Long ra đời, mồng 4 tháng 01, năm 1936 đã thi hành đúng như trong sách Hội Điển, người ta đã bắn 7 phát súng thần công để loan báo tin mừng. Phải bắn 7 phát, vì theo tục lệ, đàn bà 9 vía còn đàn ông 7 vía.

Gia đình Hoàng gia theo lối sống mới ra bên ngoài như vua thường lái xe đi nghỉ hè ở Nha Trang, Đà Lạt... (5) Hoặc đi trên du thuyền Phi Long, đi câu cá ở biển Nha Trang để tránh nóng oi bức ở Huế. Cũng tại Đà Lạt, gia đình Hoàng gia có dịp đoàn tụ với ông bà bá tước và các con của gia đình này. Đôi khi Hoàng Hậu cũng theo vua đi câu hoặc đi săn thú rừng ở Ban Mê Thuột hay Đà Lạt.
Đây là những ngày tháng tương đối êm đềm và hạnh phúc của đời Bà. 


5. NHỮNG NGÀY THÁNG ĐEN TỐI
Có được hơn mười năm êm ấm hạnh phúc. Những tháng ngày còn lại báo hiệu những đám mây mù phủ kín tâm tư. Tháng 9 năm 1945, vua Bảo Đại do sự thúc ép của Việt Minh buộc phải từ chức, thoái vị và nhận chức cố vấn bù nhìn cho Hồ Chí Minh. Cuộc tiễn đưa cựu Hoàng ra Hà Nội đầy bất trắc rủi ro. Rủi ro về chính trị đã đành. Vậy mà rủi ro đến hạnh phúc gia đình lại là điều có thực. Những tin đồn về những cô gái Hà Nội và cả những mệnh phụ đã không thư từ mà vẫn tới Huế. Lý Lệ Hà là một trong số những người đó. Trong hồi ký của Trần Văn Đôn, ông đã nói trắng ra một mệnh phụ phu nhân, bà TVC nữa.

Sự đời sao có thể éo le thế.

Trong dịp Phan Khắc Hòe về Huế, người đã bán đứng Bảo Đại, Hoàng Hậu đã hỏi thẳng Hoè về Lý Lệ Hoa. Hoè xác nhận là có thực, còn nói thêm đó là một cô gái đẹp. Hoàng Hậu bị xúc phạm nặng nề, nhưng vẫn giữ sự im lặng vốn có của Bà, vẫn nhờ Hòe cầm một số tiền gửi ra cho Bảo Đại chi dùng. Chẳng hiểu Phạm Khắc Hoè và Việt Minh có dính dáng gì đến việc hủ hoá của Bảo Đại hay không. Nào ai biết được. Những người như ông Mai Văn Hàm đã tài trợ cho Bảo Đại ăn ở Hà Nội lẽ nào hại Bảo Đại đến thế. Nhưng hoàng thân anh em họ với Bảo Đại không lẽ cũng có cổ phần vốn phá hoại gia đình ông Bảo Đại chăng? Chuyện đời khó biết được.

Danh sách những người đẹp lăng nhăng với Hoàng thượng thêm dài, một cô gái Tầu Hồng Kông, Phi Anh và nhất là Mộng Điệp.

Không thiếu những mệnh phụ tỉ tê, xàm tấu với Bà. Bà nghe đã nhiều, thường giữ thái độ im lặng, có thể phần không muốn nghe, phần đã quá rõ, phần tự ái không muốn ai nhắc tới. Có thể còn muốn bảo vệ uy tín hoàng tộc và cho cả con cái Bà. Cứ thế, Bà ẩn nhẫn chịu đòn một mình theo cái cách của người được ăn học, người có nhân cách. Bà đã tự chọn con đường của mình phải đi, từ giã vinh hoa, phú quý và nhất là chấp nhận sự quên lãng của Hoàng thượng. Vì vậy, kể từ năm 1950, dòng họ Nguyễn với Bảo Đại kể như không còn ở trong mắt Bà nữa.

Năm 1950, con gái út mới 8 tuổi, ai có thể chia xẻ nỗi đau của Bà. Bà có thể làm gì được để gánh nổi cái gia tài Bảo Đại đã để lại. Bà quyết định mang các con sang Pháp, phần lo chuyện học hành của chúng là chính, phần tránh xa những nhớp nhúa của dư luận. Bạn bè cũ nay còn ai. Gần không còn ai.

Bà ra đi, Bảo Đại càng đi xuống. Nay thì có những tôi thần như Bảy Viễn, Phan Văn Giáo cung cấp cho ông tất cả những gì cần thiết ở đời: tiền bạc và gái đẹp.

Phải chăng, ông chán ngán thế sự để buông rơi vào chỗ bê tha. Phải chăng ông chán ngán tình đời đi tìm quên đời bằng thân xác người phụ nữ. Lấy cái gì để bào chữa cho ông trong việc phẩy tay chuyện đất nước. Viết về ông thấy cả đời ông chẳng làm được tích sự gì, ông chỉ làm được một điều tốt là cả đời làm chính trị ông chẳng làm hại ai bao giờ, dù là những người đã bỏ ông như Ngô Đình Diệm và nhất là Hồ Chí Minh. Cả cuốn sách ông viết, chẳng bao giờ thấy ông hạch tội hay nặng nhẹ với những người như ông Ngô Đình Diệm. Vậy mà tôi vẫn oán giận ông, chắc là tôi không cần nói ra, ông vẫn khắc hiểu hơn ai hết. Nhưng dù sao, mọi chuyện cũng đã quá muộn rồi. Nói gì nữa bây giờ cũng vô ích.

Riêng Hoàng Hậu, tháng ngày còn lại ở bên Pháp đã từng bước, bước đến chỗ để về. Mỗi ngày, mỗi năm tháng cứ héo mòn đi như cái cây không có nước, cứ ủ rũ cho đến lúc tàn lụi. Ngày một, ngày hai, mỗi ngày vẫn phải chạm chán với cuộc sống thực bên ngoài và nỗi cô đơn bên trong. Nỗi cô đơn từ mọi phía, nỗi cô đơn cã đời. Đến như tôi có thể dám thốt ra lời này : Chỉ nhìn con mắt, cảm nghiệm được đời bà là một niềm cô đơn. Đừng ai hạch hỏi tôi tại sao nói thế. Lại thêm vật chất không dư giả như trước nữa, sức khỏe suy yếu vì bệnh suyễn và tim. Tháng ngày vẫn trôi qua, dần dần những trông đợi thù đáp nơi người, niềm hy vọng có ngày trở lại bị xói mòn sẽ dấy lên những câu hỏi về cuộc đời, về cớ sự đa đoan, về tình người và cuối cùng về tình vợ chồng.
                                                   Bà sống cô đơn thế nào thì mất im lặng như thế ngày 14-9-1963 tại làng Chabrignac. Bên cạnh chỉ có hai hoàng tử và ba công chúa sau mới về. Thực sự chỉ có hai người giúp việc bên cạnh lúc Bà mất.

Phần đời Bà, còn rất nhiều điều chưa được sáng tỏ còn nằm trú ẩn trong vùng bóng tối của đời Bà. Nhưng phải chăng chính cái phần bóng tối này lại là nơi trú ẩn an toàn nhất mà Bà muốn giữ lại đem về bên kia thế giới.

Và nếu thực sự như thế thì chúng ta chỉ còn biết tôn trọng ý nguyện của Bà và phải chăng Bà đã ra đi và không còn gì để nhắn gửi và nói lại nữa. Một ngôi sao đã đổi ngôi. Số phận Bà có gì trùng hợp với phận người phụ nữ nói chung. Có lẽ cần suy nghĩ thêm vẫn chưa muộn.


Nguyễn văn Lục

Sau 40 năm tưởng nhớ Hoàng Hậu.


Bài viết

Nam Phương Hoàng Hậu và những ngày cuối đời trên nước Pháp

http://anlanh.net/nam-phuong-hoang-hau-va-nhung-ngay-cuoi-doi-tren-dat-phap/












_________________

May 3, 2013

BỐN MÙA NHỚ NHUNG




                  BỐN   MÙA  NHỚ NHUNG
                                  
                                             Bich Quy

--
                    Mùa hạ đã tới
                    Nắng chói khắp nơi
                    Không khí bức bối
                    Saigon bốc hơi

                    Qua Canada
                    Mùa đông đã về
                    Nắng ngưng đọng lại
                    Trắng xóa tuyết rơi
                   
                    Em gửi cho anh
                    Chút nắng vàng hanh
                    Làm tan băng giá
                    Làm ấm mùa đông

                    Anh gửi lại em
                    Hoa tuyết bay bay
                    Xua tan nóng bức
                    Mát mẻ ngày hè
                       
                    Rồi  mùa xuân  đến
                    Tuyết sẽ tan ra
                     Hoa đào hé nụ
                    Tưng bừng muôn nơi
                     
                     Saigon vào thu
                     Tiết trời mát dịu
                     Cho hoa đua nở
                     Cho lá vàng rơi...

                     Anh đi trong tuyết
                     Cứ nhớ đến em
                     Em lội trong nắng
                     Mong anh là  mưa

                     Hai đầu nỗi nhớ
                     Dễ gì quên nhau   
                     Em ơi, anh đợi....
                     Anh ơi, em chờ....  

--


May 2, 2013

KỂ CHUYỆN MONTREAL THÁNG TƯ 2013


Kể chuyện Montreal
TUL

Lạnh quá , lạnhbuốt 

 TUL  ở Montreal từ april 18 - 26 nhưng vì ...bận  đi lung tung nên đến gần ngày về mới ghé thăm  TV Montreal. , trước tiên là lo đi thăm Thầy Hoàng và cô Tổng . TUL và Sang đến cô Tổng trước tiên , cô gặp hai đúa mừng rỡ , thầy trò ôm nhau mừng tủi , cô vẫn nhận ra Thảo Uyên Ly , cô nói "Nó không sửa gì hết nó vẫn như thế". Cô  cũng vậy ,  như ngày xưa ,  aó lụa và hoa tai ngọc trai,   ở một khoảng trời ngày xưa   vẫn còn không xa , thật gần , cô đã hiện ra ở cửa trong áo nhung khăn quàng vì trời còn khá lạnh   , cô rực rỡ ấm áp " từ trong ra ngoài " TUL muốn nói cô thật đẹp và hạnh phúc , lại có sức khoẻ mặc  dù năm nay cô đã 88 tuổi .  Chúng con cầu mong cô được như thế mãi vì cô là biểu tượng của TV .


Sang và cô Tổng

  
TUL được cô tổng nhận ra ngày 

 Ngày đi thăm thầy Hoàng có Thủy , Sang và TUL . Khi gặp thầy ,  các em  tíu tít;
- thầy ơi , thầy nhớ con không thầy? ( đáng lẽ phải nói thầy nhận ra con không thấy? chứ dám hỏi thầy" nhớ" con không!!!!may mà thầy không để ý , thầy đáp:
_ Thảo Uyên Ly ngồi bàn thứ hai cạnh Hảo Chi năm đệ nhị . 
 _ Dúng rồi thầy ơi , thầy vẫn nhận ra con , con cảm động  quá!!!!!
Đưa tận gói trái cây vào tay thầy :
   _ chúng con có măng cầu biếu thầy 
thầy cười hiền hoà :
  _  lại còn cho thầy lưụ  đạn hả?
Thầy vui tính quá , ở bên Mỹ không có " lựu đạn " đâu thầy ơi , con qua đây chỉ thèm ăn măng cầu. Tụi Mỹ khùng lại không cho mang trái cây qua biên giới nữa. 
        Khi cô đi xuống từ trên lầu , thầy ân cần dìu cô lại bàn , thầy muôn đời dễ thương với cô như thế . Em Thủy tíu tít :
   _ con nhớ ngày xưa thầy bắt chúng con không được xưng "em " , Phải xưng con với thày 
       hồi đó thầy ....kiêu quá
thầy mỉm cười hiền lành,   thầy vẫn còn khoẻ , minh mẫn dù đã 84 tuổi 
    _, khi thầy dạy tụi con  thầy bao nhiêu hở thầy?
    _ thầy 39 
    _ tụi con bây giờ 61 rồi thầy ơi , thời gian nhanh quá , ...
TUL nhớ thầy khi giảng bài tay cầm phấn viết  trên bảng , rồi đưa tay chỉ các vịt nào lơ đãng hay có câu hỏi, khi ngồi bàn thầy hay chống tay dưới cằm ...những dáng điệu ngày xưa con tìm lại được ở Thầy hôm nay làm con xúc động lắm , bây giờ con mới nói ra cho thầy và các bạn biết đấy.
.
                                               

                       Thầy Hoàng còn nhớ TUL ngồi bàn thứ hai cạnh Hảo Chi năm đệ nhị
                                                       TUL, Sang và Lưu Thanh Thủy.

                                                 
                             Cô gầy đi nhiều nhưng thầy cô vẩn còn mạnh khoẻ lắm

                                         

                          Nguyệt Minh , Hồng Châu ,Lê Như Mai , Thanh Thủy , Sang và TUL.
anh xã của Sang mặc áo vàng ., người aó đỏ là nhà văn Nguyễn văn Lục ( tác giả Hoàng Hậu nam Phương) 



 Bây giờ tới chuyện gặp lại  các mợ  TV,  trước tiên là em Ngô Hồng Châu vẫn xinh như búp bê hồi nào , vẫn kiểu tóc đó .vẫn mũm mĩm và vô cùng ngây thơ chẳng khác chi hồi đệ thất . Nhìn em HC mà lòng TUL "dịu dàng " thơ ấu hẳn ra , thương cái nét trẻ thơ hiền hậu mà thời gian cũng chịu thua không làm em già đi tí nào . Em HC còn có biệt tài rửa chén lanh lẹn gọn gàng , một mình em quán xuyến chén đĩa sạch bóng kô ran xếp ngay ngắn vào tủ đấy nhá . Hoan hô em HC , TUl nhớ ngày xưa em còn một cây gỉỏi toán phải không?
          Tiếp đến là em Nguyệt Minh , nụ cười xinh , răng đều tăm tắp , đôi mắt" đa tình ôi sao mà lẳng lơ " làm TUL còn  muốn làm thơ nữa đấy - mắt em lúng liếng , má lúm đồng tiền chả trách em kể ngày xưa khi đi du học em lên xe hoa có ít nhất là 4,5 anh khóc ..ngất.hi hi đúng lắm NM ơi.
          Em Như Mai thì vẫn điềm đạm chừng mực , dịu hiền như bà chị quán xuyến các em lau chau như út Hồng Châu và Dương Sang tíu tít dancer. Như Mai ăn chay trường , TUL xin phục lăn  mợ nhé.


Dương Sang
   
Thanh Thủy trước học A2 với TUL



Cuộc hội ngộ đầy hồi hộp và thú vị của TUL với em Thanh Thủy , đã hơn 20 năm , thời gian đôi chút xóa đi hình ảnh tíu tít  của Thủy ngày nào , Thủy trầm lặng và lặn khá kỹ , mặc dù cùng ở Montreal nhưng không mợ nào biết Thủy ở đâu? Vì thế từ số phone mợ Dung Kều cho (chẳng bết vì sao mợ Dung Kều có được, hình như mợ Dung Kều có gặp chị của Thủy ở CA) TUL hứa với lòng kỳ này phải kiếm cho ra Thủy . Khi kiếm ra Thủy , hai đứa ôm nhau mừng tủi ::
         - tìm mày khó quá ....
         _ Ừ
         _ tại sao ?
         _ vì tao có muốn gặp mày đâu!!!
Trời ơi là Trời , nó nói thế nhưng không phải thế đâu , trông mắt nó kìa thương quá ,  nó vẫn còn cái lối nói tỉnh bơ ngày đó!!!!  TUL tự nhủ  từ nay có dịp là sẽ thăm Thủy ngay , Thủy dễ thương lắm Thủy ơi, đừng trốn nhau nữa nhé.
          
Buổi họp mặt bỏ túi ở nhà Dương Sang , có cua ,ốc . cơm chiên , mì xào , miến xaò cua ,,,,rượu ngọt nhưng vì ham bạn TUL chẳng ăn được gì , lại còn phở gà , nhìn cái tô phở gà của em Thanh Thủy to bằng ....cái chén ăn cơm,  a ha!  dễ thương làm sao , còn có tô phở nào nhỏ hơn như thế?
.        
Em Hải Châu 
Sáng hôm sau Sang gọi Hải Châu , hẹn nhau ở quán cafe bánh Pháp . em Hải Châu đi cùng anh xã , em nói ríu rít như chim , không kịp nghe chuyện này bắt qua chuyện kia , gịong em như ca sĩ Thanh lan , em vẫn còn đẹp như ngày xưa , nói nhiều chẳng thua gì em Minh Tâm ., hai em này chỉ ngừng nói khi ngủ , anh xã HC nói với TUL :





         _ nhiều khi tôi chẳng hiểu cô ấy nói gì ...
         _ tụi em chỉ cần ríu rít thôi , đâu có "tham vọng hiểu" đâu anh !!!! 
   Montreal  cuối tháng tư vẫn còn lạnh giá , người xứ tuyết như TUL mà còn khiếp cái gió  buốt  Montreal lắm vậy.
                                 

Cám ơn Sang đã tận tình với TUL tronng những ngày ở Montreal , mong ngày Sang và anh xã qua Mỹ chơi để có dịp đền đáp nhé.. thân chào và tiếc không có dịp gặp em Kim Đoan , em vịt này đang đi cruise đâu đó , thôi hẹn lần sau vậy.

Em Hải Châu mới  thêm  hoa hoè hoa sói  cho mấy tấm hình TUL post cho các bạn xem cho   vzui.