May 22, 2022

Lễ Khánh Thành Công Viên Sài Gòn Tại Canada Mississauga Ontario


Phần đầu có GS Trưng Vương Lê Khắc Ngọc Quỳnh được phỏng vấn


Lễ Khánh Thành Công Viên Sài Gòn Tại Canada | www.sbtngo.com

May 4, 2022

Trưng Vương Khóc Thầy Nguyễn Tá - Triều Giang

Hung tin Thầy Nguyễn Tá qua đời ngày 16 tháng 4, 2022, hưởng thọ 100 tuổi đã được chuyển nhanh trên email, Facebook của các cựu học sinh các trường Chu Văn An, Nguyễn Trãi từ năm 1947 tới năm 1954 tại Hà Nội và hai trường Hồ Ngọc Cẩn, Hưng Đạo tại Sài gòn những năm 1954-1975.


Tin buồn cũng lan rộng nhanh chóng và gây xúc động tới các nhóm cựu học sinh Trưng Vương khắp nơi trên thế giới vì Thầy Tá chính là phu quân của một người mà nếu ai từng là học sinh của trường Trưng Vương Hà Nội cho tới Sài Gòn từ Năm 1947 tới năm 1980 đều phải biết; đó là cô Tổng Giám Thị Vũ Thị Nguyệt Minh.

Các bạn tôi muốn làm một điều gì để cám ơn hai nhà giáo suốt đời tận tụy dạy dỗ và chăm sóc các học sinh như chính con cái của họ và chia buồn với cô Nguyệt Minh về sự mất mát to lớn của cô và gia đình. Và tôi rất hân hạnh được đề nghị viết một bài nói về hai nhà giáo đã đóng góp cho việc giáo dục nhiều thế hệ thanh niên, thiếu nữ trong một giai đoạn ngặt nghèo của lịch sử Việt Nam từ năm 1947 tới hiện tại.

Thầy Nguyễn Tá sinh năm 1922, Thầy học tại trường Albert Sarraut, năm 22 tuổi, thầy lập gia đình với cô Nguyệt Minh lúc đó vừa tròn 18 tuổi. Hai người có 3 người con trai là các ông Nguyễn Nhân (1944), Nguyễn Hiệp (1949) và Nguyễn Khôi (1951)đã quá cố, và 2 cháu nội và 2 chắt.



Năm 25 tuổi thầy Tá vào nghề giáo và dạy tại môn Toán tại trường Chu Văn An và Nguyễn Trãi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Nam lánh nạn Cộng Sản, thầy tiếp tục dạy Toán tại trường Hồ Ngọc Cẩn và tư thục Hùng Vương. Ngoài dạy học Thầy còn viết sách Toán Hình Học và Đại số cùng với Thầy Vũ Đình Mẫn. Thầy và cô còn kẹt lại tại Việt Nam sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Thầy và cô tiếp tục việc dạy học. Thầy mở những lớp toán riêng cho tới năm 1980. Cô ở lại trường Trưng Vương để làm việc. Người con trai thứ hai, ông Nguyễn Hiệp du học trước năm 1975 đậu kỹ sư và sinh sống tại Montreal, Canada bảo lãnh Thầy cô. Từ đó đến nay đã 43 năm,Thầy Cô sống ở thành phố hiền hòa này.

Được hỏi về việc cô có gặp khó dễ gì tại trường Trưng Vương dưới xã hội Chủ Nghĩa không? Cô cho biết:


“ Nói chung thì không có gì quan trọng vì cô làm Giám thị khi họ vào tiếp thu trường, cô được lưu dụng nhưng không còn chức vụ gì nữa, chỉ được gọi là công nhân viên cùng với những người còn ở lại như chị Nụ, ông Xích, ông Ngọc làm lao công và tùy phái trước đây. Họ mới vào nên không biết gì về trường nên cái gì họ cũng phải hỏi cô”.

Được hỏi cuộc sống của cô ngày ấy ra sao? Cô trả lời:

“Thì cũng như mọi người. Được một điều là con cái của cô đã sống tại ngoại quốc nên nhu cầu cũng không nhiều. Cô đi làm thì họ đối sử cũng bình thường vì mình không tranh đua hay làm hại gì ai cả. Khi cô đi đoàn tụ thì họ cũng làm một tiệc trà tiễn cô”.

Nói về cuộc sống của Thầy Cô tại Montreal cũng rất tốt. Vì cả hai người đã vào tuổi hưu nên không đi làm. Thầy mải mê với việc chăm sóc vườn cây và vui vầy với con cháu.

Cô Nguyệt Minh chia sẻ về Thầy, người chia vui sẻ buồn, cùng nhau gánh vác gia đình với cô trong 80 năm, thật là hiếm có. Với giọng bùi ngùi và đầy thương yêu cô chia sẻ:

“Thầy rất ít nói, rất ít biểu lộ tình cảm, rất nghiêm nghị, nhưng không nghiêm khắc hay khắc khổ. Tính tình kín đáo và trang nghiêm. Thầy nói gì, làm gì cũng rất mẫu mực, không thờ ơ, nhưng cũng không thái quá”.

Chị Phượng Liên một cựu học sinh Trưng Vương sống gần và thân thiết với cô chia sẻ:

“Thầy rất ít nói nhưng rất say mê làm vườn. Khu vườn của Thầy là một nước Việt Nam thu hẹp. Mỗi một vùng là có những thắng cảnh tiêu biểu như miền Bắc có chùa một cột, miền trung có chùa Thiên Mụ, miền nam thì có chợ Bến Thành được thiết kế và xây dựng một cách độc đáo thật đẹp và thật Việt Nam nên Thầy được nhiều giải thưởng địa phương cũng như quốc gia như giải Notre Dame de Garden, Gardennette du Monreal và đã được đăng trên các báo nổi tiếng của Montreal như NBC…”


Thầy Nguyễn Tá và những tòa nhà lịch sử tí hon của Việt Nam thầy làm nên để tô điểm cho những vườn hoa tí hon của Thầy tại Momtreal, Canada.

Thầy không giao du nhiều, chỉ có một ít bạn tâm giao. Thầy rất quan tâm đến vấn đề sức khỏe. Thầy đọc rất nhiều sách, đặc biệt là sách chăm sóc sức khỏe, thầy đọc và áp dụng một cách nghiêm chỉnh những lời khuyên của bác sĩ hay chuyên viên về chăm sóc y tế cộng đồng. Thầy cũng thường hàn huyên tâm đắc về y khoa và sức khỏe mỗi khi có dịp gặp gỡ hàn huyên với Bs. Thành Quang Lân, phu quân của chị Phượng Liên, người cũng vừa mất cách đây không lâu.

Có lẽ vì vậy mà Thầy không chỉ là sống thọ 100 tuổi mà Thầy còn sống rất khỏe mạnh. Cô Nguyệt Minh cho biết là Thầy rất ít khi bị ốm. Hầu như không phải đi Bác sĩ hoặc là nhà thương. Đôi khi có vấn đề về bao tử thì Bs. Lân đem y cụ về khám cho thầy. Thầy sống 100 tuổi, sức khỏe có yếu đi nhưng vẫn đi lại bình thường và nhất là sáng suốt cho tới phút cuối. Cô Nguyệt Minh nhớ lại những ngày cuối của Thầy:

“ Thầy kêu mệt, cô cố dỗ Thầy uống một chén súp nước, Thầy cắn một miếng Fomai rồi đi ngủ không ăn uống gì thêm. Sáng cô thấy trễ rồi nhưng thầy không dậy, cô vào phòng lay thầy dậy, vừa lay vừa gọi nhưng Thầy vẫn nằm yên. Cô lo quá nên gọi y tá. Y tá đến khám và nói mạch của Thầy yếu quá. Cô sợ quá gọi cho Hiệp. Hai vợ chồng Hiệp và Ánh, con dâu thứ hai của cô và cũng là con gái của Thầy Tổng Giám Thị trường Võ Trường Toản ngày trước, vội vã đến ngay và đưa Thầy vào bệnh viện Royal Victoria là bệnh viện lớn và tối tân nhất tại Montreal. Tại đây bác sĩ khám và cho biết Thầy bị viêm phổi, Cô ngạc nhiên vì Thầy đâu có đi ra ngoài sương gió gì đâu mà bị chứng bệnh này? Nhưng Bs. Giải thích là Thầy mệt, cơ thể bị xáo trộn, khi ăn, thức ăn thay vì vào thực quản lại đi vào khí quản và làm phổi bị viêm, họ cho nước biển và thuốc hạ sốt vì Thầy sốt cao lên tới trên 40 độ. Nhiệt độ sau đó xuống còn 39 độ. Thầy ngủ thiếp đi. Bệnh viện còn ở trong mùa dịch nên không cho cô vào vì sợ lây bệnh. Cô chỉ biết ở nhà, niệm Phật xin Phật phù hộ. Cô luôn nghĩ rằng sống ở tuổi Thầy 100, cô 96 tuổi mà vẫn còn minh mẫn, tuy yếu và mệt nhưng không bị mê mệt là đã được Phật độ rồi, cô luôn có niềm tin như thế nên không quá yếm thế, đau thương mà chỉ biết mang ơn và chấp nhận.

Montreal còn bị ảnh hưởng từ đại dịch. Nhà thương cũng rất đông người nhưng may mắn là có phòng trống nên Thầy được đưa vào phòng chứ không phải nằm ngoài hành lang. Vợ chồng Hiệp ngũ luôn trong nhà thương với Thầy. Mỗi sáng khoảng 8 giờ cô gọi vào vì biết giờ đó đã có Bs. vào thăm nên biết tình trạng của Thầy ra sao. Ngày thứ nhất rồi ngày thứ hai, vợ chồng Hiệp trả lời điện thoại cho cô biết là Thầy đỡ đôi chút. Nhưng ngày thứ ba cô gọi rất nhiều lần mà không có ai trả lời, cô sốt ruột quá. Một chốc sau Hiệp về nhà cùng với cháu trai, không ai nói với ai điều gì. Yên lặng trong nặng nề. Rồi cháu trai ôm lấy cô và Hiệp nói trong tiếng nghẹn ngào:

“C’est fini”. Thế là hết!

Cô đau nhói trong tim như muốn ngất đi. Trong phút chốc cô mất người bạn đời 80 năm của mình. Người sống bên cô chăm sóc, quan tâm, chia sẻ thật nhẹ nhàng, nhưng cũng thật đằm thắm. Sống 80 năm nhưng không bao giờ cô phải lo cho những chuyện vệ sinh cá nhân của Thầy cho đến giờ cuối cùng. Thầy không chỉ sống thanh bạch của đời nhà giáo mà còn thanh sạch, nề nếp của một kẻ sĩ không phiền lụy tới ai. Buồn lắm Tước ạ!”

Tôi giật mình khi nghe cô gọi tên cúng cơm của mình trong lúc cô đau buồn nhất. Tôi thấy thương cô quá! Tôi muốn ôm lấy cô như ôm người mẹ thân yêu của mình. Cô sinh năm 1926, cũng chính là năm sinh của mẹ tôi. Mẹ tôi đã mất cách đây 7 năm. Nghe những lời chia sẻ của cô qua đường dây viễn liên từ Austin tới Montreal cách xa vạn dặm mà tôi xót xa và như thấy mình thiếu sót bổn phận với mẹ mình, người mẹ không sinh, nhưng góp phần dưỡng dục và việc tạo nên nhân cách con người của tôi.

Tôi cũng cảm nhận được rằng cô coi tôi như con gái của cô như cô hằng tâm sự:

“ Cô lập gia đình từ năm 18 tuổi lúc đó còn ở ngoài Bắc. Cô sanh một lèo 3 người con trai. Đến khi vào nam thì cô không sanh nở gì nữa dù cô cũng rất mong có được một cô con gái để hủ hỉ, nhưng trời Phật chỉ cho có thế. Ngược lại cô có hàng ngàn con gái là học trò của cô tại trường Trưng Vương. Thế là cô đã mãn nguyện rồi”.

Ở tuổi 96 giọng nói của cô vẫn còn trong và mạch lạc, nếu chỉ nghe tiếng cô thì người nghe có thể đoán tiếng nói của người 50 hoặc quá lắm là 60 tuổi. Cô nhớ tất cả mọi việc của Trưng Vương chúng tôi ngày xưa, và cả Trưng Vương từ thuở “sơ khai lập địa”. Cô kể:

Năm 1943 khi ấy chiến tranh lan tràn tại Hà Nội, mọi người chạy loạn tứ tung, bom đạn khắp nơi kinh lắm. Gia đình cô chạy về làng Mỹ Hóa tỉnh Thanh Hóa để lánh nạn. Năm 1947 tình hình khá hơn nên gia đình cô trở lại Hà Nội. Cô lo lắng lắm vì lúc đó cô đã có anh Nhân người con trai cả, cô không biết liệu mình có thể sinh sống bằng cách nào? Lúc đó có ông chú là bác sĩ thân cận của gia đình thường hay đến săn sóc sức khỏe cho ba mẹ cô có xem chỉ tay cho cô và nói cô sẽ có việc làm và nơi ăn chốn ở tại một nơi mà luôn có rất đông người. Thế mà lời tiên đoán này đã xảy ra. Chỉ vài tháng sau đó cô đi xin việc và được nhận vào trường Trưng Vương lúc đó trường chỉ mới có 4 lớp; từ đệ thất đến đệ tứ, cô được sắp cho dạy pháp văn và làm cả giám thị, là người giật chuông và làm cả việc lao công (cười).

Khi trường di cư vào nam thì nhờ Thầy Tăng Xuân An có tài giao dịch, trường được cấp dãy nhà trước đây là một bệnh viện. Rồi bà Tăng Xuân An làm Hiệu Trưởng, bà Nguyễn Thị Phú làm Giám học và cô làm Tổng Giám thị. Cô được cấp nhà ở tại lầu 3 và ở cho đến khi mất nước. Em thấy lời tiên đoán có đúng hay không? Và có phải số phận của cô được an bài hay không?

Khi nhắc đến chuyện khám guốc là chuyện độc đáo mà nữ sinh Trưng Vương nào cũng chết khiếp khi bị bắt gặp phải bỏ guốc để đi chân không vào mỗi buổi sáng thứ hai hoặc có khi khám bất chợt, cô cười và nhắc lại. Vì trường từng là bệnh viện, nên hai bên cầu thang làm bằng gỗ, khi các học sinh đi những đôi guốc hiệu Phúc Khánh đế nhọn bằng sắt mà nện trên nền gỗ thì nó đinh tai nhức óc không chịu được nên cô phải có luật cấm đi guốc và học sinh vi phạm sẽ bị phạt phải bỏ guốc mà đi chân không.

Cô còn nhớ đến những luật lệ khác mà học sinh Trưng Vương phải tuân thủ như mặc áo dài phải mặc áo lót, không được hở eo hai bên, không được đi guốc cao…Dù bị cấm nhưng mỗi khi bị khám guốc, hàng trăm những đôi guốc bị bỏ lại dưới góc sân trường và rất nhiều cô học sinh điệu, trong đó có bản thân tôi cũng có lần phải đi chân đất suốt buổi học cho nhớ đời.

Cô còn nhớ đến rất nhiều học trò với cả tên và những học sinh và các Thầy cô khác với những kỷ niệm đẹp. Cô nhắc lại năm Trưng Vương Bắc Cali làm đại hội có màn kịch có luôn cổng trường Trưng Vương trên sân khấu rồi có 3 người đóng vai Bà Hiệu Trưởng Tăng Xuân An, bà Nguyễn Thị Phú là Giám học và em Phương Quỳnh đóng vai cô Tổng Giám Thị là cô. Cô kể:

“Phương Quỳnh đã gọi điện thoại cho cô để hỏi chi tiết về màu áo, kiểu giầy, loại vải may áo dài, kiểu tóc…Năm đó vui lắm!”

Không chỉ được học sinh thương mến, kính trọng và ái mộ, các đồng nghiệp của cô cũng quý mến cô không kém. Cô Nại trong bài diễn văn của một đại hội đã ví von: “Chúng ta có bà Hiệu trưởng, bà Giám học như hai cây cổ thụ đứng hai bên, và cô Nguyệt Minh như đóa hoa tươi đứng giữa. Cô Cao Hương dạy Anh Văn thì ví cô Nguyệt Minh như là linh hồn của trường Trưng Vương vì cô sống ngay tại đó, lúc nào cũng có cô, áo dài tha thướt, thẳng tắp, không một vết nhăn, thanh nhã, sang trọng, tóc ngắn chỉnh tề như một người mẫu cho học sinh của trường”.

Nhưng tất cả chỉ còn là kỷ niệm dù là đẹp như gấm, như hoa, nhưng với cô Nguyệt Minh hôm nay cô đang phải phác họa cho những ngày dài trước mắt. Cô tâm sự:

“Cô tin là Phật sẽ độ cho cô như đã độ cho Thầy dù cô biết là những ngày tới cô sẽ rất buồn và lẻ loi, nhưng cô hiểu đời sống con người có hợp, có tan, cô phải chấp nhận và đi tới. Thứ hai ngày 2 tháng 5 này lúc 9 giờ sẽ có lễ phát tang, sau đó là cầu Siêu rồi di quan ra hỏa táng. Tro của Thầy sẽ được đặt tại chùa Quan Âm 49 ngày. Sau cùng thì tro sẽ được rắc trên núi như ý nguyện của Thầy. Cát bụi lại trở về với cát bụi em ạ.

Cô sẽ trở về căn nhà già mà cô và Thầy đã sống có nhau trong nhiều năm qua. Cô sẽ có bàn thờ của Thầy với hoa tươi. Khi đến bữa cơm cô sẽ làm đúng những gì như lúc Thầy còn sống. Cô sẽ xới 2 bát cơm, một cho cô, và một cho Thầy như vẫn còn Thầy ngồi đối diện. Thầy thích uống cà phê và sữa ensure, cô sẽ sắp lên cho Thầy. Và cô sẽ sống như thế cho đến ngày được gặp Thầy Tước ạ.”

Tôi cố nén lòng nhưng nước mắt vẫn chảy ra. Ôi thế hệ Thầy Cô của chúng tôi sống như thế đó; Thầy sống trong sạch và êm ả như dòng sông không dợn sóng, đem nước mát và những chất bồi dưỡng cho những thế hệ cây non vươn lên xanh tươi hữu ích cho đời. Cô của chúng tôi sống đẹp và hiền hòa như vườn hoa tươi thắm, tô điểm cho đời bằng những nụ non hương sắc, hết thế hệ này, tới thế hệ khác và sẽ được tiếp nối đến ngàn sau.

Tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của nhà thơ Vũ Đình Liên đăng trên tạp chí Tinh Hoa năm 1936 mà bùi ngùi thương tiếc cho thế hệ Thầy Cô của mình; biết bao giờ Việt Nam có lại những thế hệ Thầy Cô như Thầy Cô của chúng tôi?

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

Thành Kính Phân Ưu tới cô Nguyệt Minh và Tang quyến. Kính chúc Thầy sớm về nơi Tiên cảnh và Cô Nguyệt Minh yêu thương của chúng em sớm tìm được sự bình an.

Triều Giang

(Viết thay các bạn Trưng Vương ngày 30 tháng 4, 2022)

May 3, 2022

GIẾNG HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC CHO THẦY NGUYỄN TÁ

 Các bạn thân mến,

Tâm xin gửi đến các bạn hình giếng nhóm mình làm để hồi hướng công đức cho chồng Cô Tổng Giám Thị Nguyệt Minh của chúng mình. Tâm đã nhờ bạn Như Mai in hình giếng và mua khung ảnh lồng hình vào, đại diện nhóm 6370 của chúng mình đem đến trình biếu Cô Nguyệt Minh, thay cho lời chia buồn của nhóm 6370 với Cô và gia đình.

Cầu xin cho hương linh Thầy Nguyễn Tá được sớm an sinh tịnh độ. Cũng xin ơn trên gia hộ cho Cô Nguyệt Minh được khoẻ mạnh và sớm vượt qua khỏi nỗi đau buồn, mất mát to lớn này. 

    Thành kính phân ưu.
Các học trò niên khoá 6370 của Cô.



Gia đình Trưng Vương Montreal tiễn đưa Thầy Nguyễn Tá

Toàn thể cựu nữ sinh Trưng Vương thành kính chia buồn cùng Cô Tổng Giám Thị Vũ Thị Nguyệt Minh và gia đình.


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU








Nguyện xin anh linh Thầy Nguyễn Tá an nghỉ cõi vĩnh hằng

02/05/2022

Apr 27, 2022

Hồi Ký của Hiền (bài 6-10)

Bài 6 - Ngày ra trường... và bắt đầu làm việc...




Vì tình trạng thiếu người làm việc trầm trọng trong các ngân hàng toàn miền Nam , sau khi hầu như tất cả những người làm việc trong lãnh vực ngân hàng trước 75 đã bị sa thải, và chỉ có 1 số rất ít, không có chức vụ quan trọng, được lưu dụng để tiếp tục điều hành công việc.

Và sau 3 năm học tập dưới mái trường Đại học Kinh tế của chế độ xã hội chủ nghiã, thời gian thấm thoát thoi đưa..., lật bật đã đến ngày ra trường..và chúng tôi được công nhận đã tốt nghiệp ngành ngân hàng , hệ Cao Đẳng, 3 năm,( chủ yếu các môn học là lịch sử và chính trị cuả Đảng, triết lý Mác Lê.. và 1 vài môn học khác có liên quan đến ngân hàng như kế toán, tín dụng.... trong đó điểm thi các môn chính trị và triết lý Mác Lê là yếu tố quyết định để 1 sinh viên được công nhận tốt nghiệp hay không), bọn chúng tôi được tống ra trường để đáp ứng sự thiếu hụt về nhân sự này.

.Ngày 27 tháng 10 năm 1977 , nhóm sinh viên chúng tôi , 38 đưá được phân công xuống ngân hàng tỉnh Bến Tre nhận nhiệm sở..số còn lại , đã được phân công xuống tất cả các ngân hàng các tỉnh miền Nam, và xuống tận Cà Mau.

Sự phân công này dưạ trên lý lịch của từng ngươì, và hầu như chỉ có 1 số rất ít đếm trên đầu ngón tay, là những người có liên quan đến gia đình cách mạng mới được phân công ở Saigòn, bây giờ đã được gọi là TP HCM. và những ngươì có lý lịch liên quan đến ”nguỵ quân” hay ”nguỵ quyền” ít hay nhiều, nặng hay nhẹ sẽ đươc phân công đi các tỉnh gần TP Saigon hay phải đi những nơi xa xôi hẻo lánh như Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuật...v.v...

Chính sự phân công dưạ trên lý lịch này, cũng như phải đi xa gia đình để làm việc, nên 1 số đã bỏ việc, một số ít vì hoàn cảnh gia đình, cần phải làm việc đã cố gắng đi các nơi hẻo lánh như Kon Tum, Pleiku, Ban Mê THuật để làm việc và cũng không ít 1 số đã chết vì bị sốt rét, ngã nước...., điều kiện làm việc quá tồi tàn và thiếu thốn và với đồng lương chết đói...

Gọi là tốt nghiệp, vì đã thi đậu trong các môn học và kỳ thi do trường Đại Học Kinh tế tổ chức, nhưng chẳng có giấy tờ gì cả.. Và để chúng tôi

không bỏ việc, Ban Giám hiệu nói rằng chúng tôi chỉ được chính thức công nhận và phát bằng tốt nghiệp, sau thời gian tập sự 2 năm , và được công nhận đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cuả ban lãnh đạo ngân hàng sở tại, nơi được phân công, chưa kể bị đe doạ sẽ phải bồi hoàn tiền học phí 3 năm, nếu bỏ việc... với mức lương tập sự là 85% cuả bậc lương khởi điểm cuả hệ Cao Đẳng là 55 đồng( thời bấy giờ), nghiã là vỏn vẹn có 48 đồng và 85 xu 1 tháng, sau khi hết hạn 2 năm, nếu được công nhận mới được lĩnh lương khởi điểm cuả hệ Cao Đẳng là 55 đồng.

Cũng cần nói thêm là được phân công xuống Bến Tre, thành phố cách Sài gòn chỉ khoảng 87 km để làm việc, đối với tôi là 1 sự vô cùng may mắn, nhờ sự khuyến cáo và quyết định đúng đắn cuả mẹ tôi là đã không khai cha tôi là "thiếu tá cảnh sát”... mà chỉ là khai nghề nghiệp cha tôi là "buôn bán " ngay từ những ngày đầu tiên sau năm 1975 phải kê khai lý lịch để đi học lại, và cũng nhờ sau năm 1968 bị cháy nhà, được chính phủ đền bù, mẹ tôi được bốc thăm và được cấp 2 căn nhà 1 căn lầu 1 và 1 căn lầu 2 , hoàn toàn biệt lập nhau, ở chung cư Nguyễn THiện THuật, ( vì nhà trước khi bị cháy có diện tích khá rộng, khoảng 100 m2 , chưa kể có cái sân vườn nho nhỏ, mẹ tôi đã chạy luật sư và được ưu tiên bốc 2 lần 2 căn nhà khác nhau, trong đó 1 căn là gia đình tôi, gồm bố mẹ và các em tôi trong 1 gia đình ở lầu 1, có chung sổ gia đình, nay gọi tên là hộ khẩu, và 1 mình tôi là 1 gia đình riêng ở lầu 2, với sổ gia đình riêng ( hộ khẩu riêng ) , đã giúp cho việc kê khai lý lịch của tôi, được thuận tiện và dễ dàng hơn.

Ngày đầu tiên đi xuống Bến Tre để làm việc là 1ngày buồn rười rượi với tôi, vì lần đầu tiên phải xa gia đình, chưa kể ngổn ngang 100 mối trong lòng... vì không biết cuộc sống mới sẽ ra sao và mình phải thích ứng như thế nào …

Trước năm 1956 nơi đây gọi là tỉnh Kiến Hòa, nơi đây đã là vùng xôi đậu... nghiã là ban ngày là quân " quốc gia" kiểm soát, và ban đêm là việt cộng kiểm soát, với những trận đánh vô cùng khốc liệt giưã quân đội cuả chính phủ và quân du kích việt cộng. Là quê hương của những phong trào " Đồng KHởi" nơi nổi tiếng là quê hương cuả " cách mạng" với Đại tá tình báo cuả Việt Cộng Phạm ngọc Thảo, tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre, điệp viên cao cấp cuả Việt cộng cài vào bộ máy chính quyền cho đến năm 1964...

Tỉnh Bến Tre năm 1977 gồm 1 thị xã, (hiện nay được gọi là thành phố Bến Tre) và 7 huyện, bao gồm: Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Ba tri, Bình Đại, Thạnh Phú và Chợ Lách. Hiện nay, thị xã Bến Tre được đổi là TP Bến tre và 8 huyện ( bao gồm Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc.

Đó là 1 tỉnh lỵ nhỏ, nghèo và buồn...với diện tích 2360 km2 nằm trên 3 cù lao: Cù lao An Hoá, Cù lao Bảo và cù lao Minh, bao bọc bởi 4 nhánh cuả sông Cửu Long, gồm sông Tiền, Sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. mà tài nguyên chẳng có gì ngoài chuối và dưà, chưa kể đất đai bị bỏ hoang và tàn phá bởi chiến tranh....

Dù chỉ cách tỉnh Tiền Giang , TP Mỹ Tho, 1 cái Bắc , qua Phà Rạch

Miễu, trù phú và giầu có bao nhiêu, thì Bến Tre , nghèo nàn, kiệt quệ bấy nhiêu ..Cả tỉnh năm 1977 chỉ có 1 vài cái xe đạp kéo ( xe đạp đàng trước, kéo sau là 1 xe thồ 2 bánh để chở khách)....nhưng thành phố cũng khá thơ mộng

Bến Tre, quê hương cuả xứ dưà.. với những hàng dưà xoả bóng... bên cạnh giòng sông bao quanh thành phố..và đã nổi tiếng với ông Đạo Dưà,  một tôn giáo do ông  kỹ sư NGuyễn Thành Nam.( 1910-1990) sáng lập tại Bến Tre. Đạo Dừa chủ trương hòa đồng tôn giáo, tổng hợp nhiều tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Kitô giáo.

Và sau 3 năm học tập dưới mái trường Đại học Kinh tế của chế độ xã hội chủ nghiã, thời gian thấm thoát thoi đưa..., lật bật đã đến ngày ra trường..và chúng tôi được công nhận đã tốt nghiệp ngành ngân hàng , hệ Cao Đẳng, 3 năm,( chủ yếu các môn học là lịch sử và chính trị cuả Đảng, triết lý Mác Lê.. và 1 vài môn học khác có liên quan đến ngân hàng như kế toán, tín dụng.... trong đó điểm thi các môn chính trị và triết lý Mác Lê là yếu tố quyết định để 1 sinh viên được công nhận tốt nghiệp hay không), bọn chúng tôi được tống ra trường để đáp ứng sự thiếu hụt về nhân sự này.

Ngày 27 tháng 10 năm 1977 , nhóm sinh viên chúng tôi , 38 đưá được phân công xuống ngân hàng tỉnh Bến Tre nhận nhiệm sở..số còn lại , đã được phân công xuống tất cả các ngân hàng các tỉnh miền Nam, và xuống tận Cà Mau.

Sự phân công này dưạ trên lý lịch của từng ngươì, và hầu như chỉ có 1 số rất ít đếm trên đầu ngón tay, là những người có liên quan đến gia đình cách mạng mới được phân công ở Saigòn, bây giờ đã được gọi là TP HCM. và những ngươì có lý lịch liên quan đến ”nguỵ quân” hay

 ”nguỵ quyền” ít hay nhiều, nặng hay nhẹ sẽ đươc phân công đi các tỉnh gần TP Saigon hay phải đi những nơi xa xôi hẻo lánh như Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuật...v.v...Chính sự phân công dưạ trên lý lịch này, cũng như phải đi xa gia đình để làm việc, nên 1 số đã bỏ việc, một số ít vì hoàn cảnh gia đình, cần phải làm việc đã cố gắng đi các nơi hẻo lánh như Kon Tum, Pleiku, Ban Mê THuật để làm việc và cũng không ít 1 số đã chết vì bị sốt rét, ngã nước...., điều kiện làm việc quá tồi tàn và thiếu thốn và với đồng lương chết đói...

Gọi là tốt nghiệp, vì đã thi đậu trong các môn học và kỳ thi do trường Đại Học Kinh tế tổ chức, nhưng chẳng có giấy tờ gì cả.. Và để chúng tôi không bỏ việc, Ban Giám hiệu nói rằng chúng tôi chỉ được chính thức công nhận và phát bằng tốt nghiệp, sau thời gian tập sự 2 năm , và được công nhận đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cuả ban lãnh đạo ngân hàng sở tại, nơi được phân công, chưa kể bị đe doạ sẽ phải

 bồi hoàn tiền học phí 3 năm, nếu bỏ việc...với mức lương tập sự là 85% cuả bậc lương khởi điểm cuả hệ Cao Đẳng là 55 đồng( thời bấy giờ), nghiã là vỏn vẹn có 48 đồng và 85 xu 1 tháng, sau khi hết hạn 2 năm, nếu được công nhận mới được lĩnh lương khởi điểm cuả hệ Cao Đẳng là 55 đồng.

Cũng cần nói thêm là được phân công xuống Bến Tre, thành phố cách Sài gòn chỉ khoảng 87 km để làm việc, đối với tôi là 1 sự vô cùng may mắn, nhờ sự khuyến cáo và quyết định đúng đắn cuả mẹ tôi là đã không khai cha tôi là "thiếu tá cảnh sát”... mà chỉ là khai nghề nghiệp cha tôi là "buôn bán " ngay từ những ngày đầu tiên sau năm 1975 phải kê khai lý lịch để đi học lại, và cũng nhờ sau năm 1968 bị cháy nhà, được chính phủ đền bù, mẹ tôi được bốc thăm và được cấp 2 căn nhà 1 căn lầu 1 và 1 căn lầu 2 , hoàn toàn biệt lập nhau, ở chung cư Nguyễn THiện THuật, ( vì nhà trước khi bị cháy có diện tích khá rộng, khoảng 100 m2 , chưa kể có cái sân vườn nho nhỏ, mẹ tôi đã chạy luật sư và được ưu tiên bốc 2 lần 2 căn nhà khác nhau, trong đó 1 căn là gia đình tôi, gồm bố mẹ và các em tôi trong 1 gia đình ở lầu 1, có chung sổ gia đình, nay gọi tên là hộ khẩu, và 1 mình tôi là 1 gia đình riêng ở lầu 2, với sổ gia đình riêng ( hộ khẩu riêng ) , đã giúp cho việc kê khai lý lịch của tôi, được thuận tiện và dễ dàng hơn.

Ngày đầu tiên đi xuống Bến Tre để làm việc là 1ngày buồn rười rượi với tôi, vì lần đầu tiên phải xa gia đình, chưa kể ngổn ngang 100 mối trong lòng... vì không biết cuộc sống mới sẽ ra sao và mình phải thích ứng như thế nào …

Trước năm 1956 nơi đây gọi là tỉnh Kiến Hòa, nơi đây đã là vùng xôi đậu... nghiã là ban ngày là quân " quốc gia" kiểm soát, và ban đêm là việt cộng kiểm soát, với những trận đánh vô cùng khốc liệt giưã quân đội cuả chính phủ và quân du kích việt cộng. Là quê hương của những phong trào " Đồng KHởi" nơi nổi tiếng là quê hương cuả " cách mạng" với Đại tá tình báo cuả Việt Cộng Phạm ngọc Thảo, tỉnh trưởng tỉnh Bến Tre, điệp viên cao cấp cuả Việt cộng cài vào bộ máy chính quyền cho đến năm 1964...

Tỉnh Bến Tre năm 1977 gồm 1 thị xã, (hiện nay được gọi là thành phố Bến Tre) và 7 huyện, bao gồm: Châu Thành, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Ba tri, Bình Đại, Thạnh Phú và Chợ Lách.

Hiện nay, thị xã Bến Tre được đổi là TP Bến tre và 8 huyện ( bao gồm Mỏ Cày Nam và Mỏ Cày Bắc.

Đó là 1 tỉnh lỵ nhỏ, nghèo và buồn...với diện tích 2360 km2 nằm trên 3 cù lao: Cù lao An Hoá, Cù lao Bảo và cù lao Minh, bao bọc bởi 4 nhánh cuả sông Cửu Long, gồm sông Tiền, Sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên. mà tài nguyên chẳng có gì ngoài chuối và dưà, chưa kể đất đai bị bỏ hoang và tàn phá bởi chiến tranh....

Dù chỉ cách tỉnh Tiền Giang , TP Mỹ Tho, 1 cái Bắc , qua Phà Rạch Miễu, trù phú và giầu có bao nhiêu, thì Bến Tre , nghèo nàn, kiệt quệ bấy nhiêu ..Cả tỉnh năm 1977 chỉ có 1 vài cái xe đạp kéo ( xe đạp đàng trước, kéo sau là 1 xe thồ 2 bánh để chở khách)....nhưng thành phố cũng khá thơ mộng

Bến Tre, quê hương cuả xứ dưà.. với những hàng dưà xoả bóng... bên cạnh giòng sông bao quanh thành phố..và đã nổi tiếng với ông Đạo Dưà,  một tôn giáo do ông  kỹ sư NGuyễn Thành Nam.( 1910-1990) sáng lập tại Bến Tre. Đạo Dừa chủ trương hòa đồng tôn giáo, tổng hợp nhiều tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo, Kitô giáo.

 

Bài 7: Nhận nhiệm sở...

Trụ sở chính cuả ngân hàng tỉnh Bến Tre nằm trong khu dinh thự cuả Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bến tre, trước năm 75 đây là dinh tỉnh trưởng tỉnh Kiến Hoà.

Cũng cần biết thêm, dưới chế độ Việt Cộng , thì chủ tịch nhân dân tỉnh , là cơ quan đầu não cuả tỉnh, mà chủ tịch uỷ Ban nhân dân có quyền lực tối cao trên tất cả các ban ngành (như ngân hàng, tài chính, giáo dục, y tế, thuế , bệnh viện..v.v..) chỉ đạo và chi phối tất cả các ban ngành..và ngân hàng tỉnh chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp và chỉ đạo các ngân hàng cơ sở như ngân hàng thị xã và các ngân hàng huyện, mà không trực tiếp giao dịch với khách hàng...tư nhân hoặc xí nghiệp.

Được kiến trúc theo kiểu Pháp, có thể nói đây là công trình kiến trúc đẹp và cổ nhất còn sót lại của Thành phố, với kiểu kiến trúc như 1 dinh thự đồ sộ, với 2 cánh cưả sắt như dinh Độc Lập, lúc nào cũng có 2 bảo vệ mặc quân phục công an màu vàng, bồng súng đứng gác..

Trước dinh là 1 cái sân rộng mà có thể chưá hàng ngàn lính duyệt binh, và có chỗ đậu xe cho cả trăm xe hơi, chung quanh dinh sân trồng những cây dưà và cây cảnh, đàng sau dinh là 1 toà nhà 2 tầng, cũng kiến trúc theo kiểu pháp, vuông vắn và cao ráo mà 4 bề là cưả sổ, nên rất thoáng mát..., diện tích khoảng 200 m2, có lẽ trước đây là nơi cư ngụ cuả gia đình tỉnh trưởng, nay được làm trụ sở chính cuả ngân hàng tỉnh.

Ngôi nhà tuy đã cũ nhưng vẫn giữ nguyên được vẻ đẹp và cổ kính cuả nó, nếu không bị những căn nhà phụ cấp 4 được xây dựng thêm ngang dọc chung quanh nhà, mà trước đó là vườn cây với những bãi cỏ xanh mát và được trồng cây và hoa chung quanh , nay đã được thay thế làm chỗ làm việc và nơi ở tập thể cho cán bộ, nhân viên ngân hàng tỉnh,đã làm mất đi vẻ đẹp cuả nó, vì công trình chính đã bị che chắn và án hướng...

Toà nhà có 2 tầng, tầng dưới là phòng làm việc cuả giám đốc, phòng kế hoạch và tiền tệ, phòng kho quỹ dự trữ tiền mặt để giao cho ngân hàng thị xã và các huyện. Đó cũng là lý do tại sao ngân hàng tỉnh đã ở trong khuôn viên toà dinh thự cuả Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh, vì lý do an toàn...

Riêng phòng hành chính, căn tin và nhà bếp được xây dựng thêm bên cạnh , lúp xúp để có chỗ làm việc và nấu ăn cho nhân viên .

Cạnh nhà bếp là nhà tắm cho nhân viên ở tập thể và chỉ có 1 phòng duy nhất. Gọi là nhà tắm nhưng không có cưả gì cả , mà được chắn ngang bởi 1 bức tường cao tới cổ để che thân , ngươì đứng ngoài có thể thấy ai đang tắm ở bên trong, bên trong có 1 hồ nước nhỏ và 1 vòi nước chảy vào hồ. không có vòi hoa sen hay douche tắm gì cả.

Nhà bếp thì bụi bậm, và khói đen vây kín, vì đun củi, cùng màng nhện tứ tung mà chắc rằng không được làm vệ sinh bao giờ, ngoại trừ cái nền được quét dọn qua loa mỗi ngày để có chỗ nấu ăn.

Bên hông toà nhà là 4 căn nhà cấp 4 được xây dựng thêm để có chỗ ở cho nhân viên ở tập thể, trong đó 1 căn là nhà ở cuả phó giám đốc Bùi văn Sắn, còn gọi là Tư Sắn, và 1 căn là chỗ ở cuả gia đình trưởng phòng hành chính, và 2 căn nhà còn lại là chỗ ở cuả nhân viên, trong đó có 2 người bạn cuả tôi.Mỗi căn nhà khoảng 20 m2 và không có toilet hay nhà tắm gì cả . Tất cả nhân viên , kể cả giám đốc ngân hàng tỉnh khoảng 30, 40 người, và khoảng 20 người ở tập thể, dùng chung 1 nhà tắm và 3 nhà vệ sinh chung .

Trên lầu có 2 phòng : 1 phòng với diện tích khoảng 30 m2 , là chỗ ở tập thể cuả 6 ngươì, trong đó có tôi, và 1 phòng nữa là nơi làm việc cuả phòng tổ chức khoảng 3, 4 ngươì.

Sở dĩ tôi mô tả nơi làm việc cũng như chỗ ở để tất cả các bạn có thể hình dung ra điều kiện làm việc và sinh sống như thế nào.. cũng như có 1 sự kiện xảy ra sau này...mà cũng nhờ toà nhà được thiết kế theo kiểu pháp, thành cửa sổ được xây dựng cao đến ngực ... mà tôi đã thoát chết ..hay nhẹ nhất cũng bị tàn tật....

Tiếp chúng tôi ngày 27-10-1977 là ông Đỗ hiếu Liêm giám đốc ngân hàng tỉnh Bến tre, phó giám đốc phụ trách tổ chức là ông Tám Thọ , kế toán trưởng ngân hàng tỉnh là anh Hoàng Tục, cán bộ miền Bắc được chi viện vào Nam năm 1976 để giúp ngân hàng miền Nam trong buổi giao thời.và 8 trưởng ngân hàng, gọi tắt là trưởng hàng ( tương đương giám đốc) của ngân hàng thị xã và 7 ngân hàng huyện.

38 đưá chúng tôi được tập trung ở căn tin, cạnh nhà bếp, nơi có những chiếc bàn dài và ghế dài gắn liền nhau để cho nhân viên ở tập thể có chỗ ăn uống. Trên mặt bàn chúng ta vẫn có thể ngửi thấy mùi thức ăn hay nước mắm vây ra bàn, mà đã không được lau chùi sạch sẽ.

Sau vài lời xã giao là rất vui được tiếp nhận chúng tôi là người cuả Ngân hàng Trung ương phân bổ về để làm việc ở tỉnh Bến Tre, ông Tám Thọ thay mặt Giám đốc đọc quyết định phân công từng người... và chỉ có 3 người làm việc ở ngân hàng tỉnh, trong số đó có tôi làm phòng kế toán và 2 anh bạn khá thân là Trần Minh Tuấn và Nguyễn văn Thống được phân công về trường nghiệp vụ sơ cấp ngân hàng tỉnh, mà Tám Thọ kiêm nhiệm làm hiệu trưởng. Gọi là trường... nhưng thực tế chỉ là 1 lớp học, diện tích khoảng 20 m2, được xây dựng thêm bằng mái tôn , bên cạnh phòng kế toán cuả ngân hàng tỉnh mà thôi.

Số còn lại 35 người được phân công về ngân hàng thị xã và các ngân hàng huyện.và được các trưởng ngân hàng huyện dẫn về các huyện....

Sau khi nhận quyết định phân công xong, thì anh Hoàng Tục dẫn tôi về phòng kế toán. Đó là 1 cơ sở ngân hàng phát triển nông thôn cũ trước năm 1975, cách trụ sở chính cuả ngân hàng và Uỷ Ban nhân dân tỉnh khoảng 200m, nằm biệt lập và khá khang trang và tương đối tiện nghi.

Tôi được giao làm kế toán tổng hợp ở ngân hàng tỉnh, với nhiệm vụ là lập kế hoạch kinh doanh cho toàn ngân hàng tỉnh.( Phần thu chủ yếu là thu lãi .. và phần chi là các khoản chi phí để điều hành 1 ngân hàng như chi lương, văn phòng phẩm, vật dụng linh tinh v.v... chênh lệch giưã kế hoạch thu và kế hoạch chi là kế hoạch lãi cuả ngân hàng , hàng quý và gởi về ngân hàng TRung Ương ở Hà nội để xét duyệt cũng như xin kinh phí, và sau đó sẽ phân bổ kế hoạch kinh doanh này cho ngân hàng thị xã và các ngân hàng huyện,để thực hiện kế hoạch đã giao.( bao gồm thu lãi cũng như kinh phí chi tiêu cho các ngân hàng cơ sở..)

Ngoài ra, vì thiếu ngươì làm việc, nên tôi phụ trách thêm các công trình sưả chưã lớn và xây dựng cơ bản, thực chất là xây dựng thêm các phòng giao dịch ở thị xã và các huyện để mở rộng các hoạt động dịch vụ như huy động tiết kiệm ...như những chân rết cuả ngân hàng .

Công việc cũng không có gì khó khăn, chỉ cần lập kế hoạch thu chi và tập hợp cho toàn tỉnh, cũng như tính tóan các định mức theo đầu ngươì mà ngân hàng Trung Uuơng đã quy định như văn phòng phẩm..cũng như các khoản thu chi khác..., kèm theo là bản thuyết minh về kế hoạch kinh doanh đó.

Công việc cũng tạm ổn và nghề dạy nghề ... nên tôi trở nên thuần thục hơn, thay vì buổi đầu hơi bỡ ngỡ.... thì có 1 sự việc xảy ra....

 

Bài 8: Ngược gió.... và hội nghị các trưởng hàng lần thứ nhất....

Thời thế tạo anh hùng..., thời thế tạo bần cùng...Một buổi chiều ngày thứ ba... giữa tháng tư ( đầu quý 2 hàng năm ) năm 1978...sau khi ra trường vưà 6 tháng, một cú điện thoại từ văn phòng giám đốc, ông Sáu Liêm, gọi cho Hồ Thanh Trung, còn gọi là Ba Trung, phó phòng kế toán ngân hàng tỉnh Bến Tre,không biết 2 người đã trao đổi nhau những gì và sau đó Ba Trung cho biết Hiền phải quay về trụ sở ngân hàng tỉnh Bến Tre, để gặp ông Sáu Liêm, Giám đốc ngân hàng tỉnh Bến Tre, gấp...

(Như đã thuật trong bài viết kỳ trước, phòng kế toán cuả ngân hàng tỉnh Bến Tre nằm biệt lập ở ngoài dinh chủ tịch ủy Ban Nhân Dân Tỉnh và trụ sở chính cuả ngân hàng tỉnh và cách đó khoảng 300 m)

Thời gian này anh Hoàng Tục là trưởng phòng kế toán đi phép ở Vĩnh Phú (Bắc Việt Nam) để thăm gia đình, nên Ba TRung tạm thay thế điều hành công việc kế toán cuả ngân hàng..

Không biết chuyện gì đã xẩy ra..., nhưng khá bất thường....

Đến nơi, tôi nhận thấy ông Sáu Liêm có vẻ bức xúc, và đang đi lại ... trong phòng.

Khi thấy tôi, ông bảo tôi ngồi xuống và nói luôn: " Bây làm ăn làm sao mà anh em Trưởng hàng nó phản ảnh " Ngân hàng tỉnh không sâu sát ngân hàng cơ sở.”..,

Ngân hàng Mỏ Cày nó nói với tao, khả năng thu lãi cuả nó có 50.000 $, bây duyệt 70.000 $, trong khi nhu cầu chi cuả nó là 100.000$, bây duyệt 60.000$ , ngân hàng Ba Tri, Ngân hàng Chợ Lách ... nó đều than phiền... ” khả năng thu cuả nó ít, Bây duyệt thu nhiều, trong khi khả năng chi cuả nó nhiều, Bây duyệt ít, mà không căn cứ vào tình hình thực tế cuả ngân hàng huyện..."

Hơi bất ngờ nhưng tôi bình tĩnh nói: ”Bác Sáu, con muốn bác Sáu ngày mai triệu tập ngân hàng thị xã và 7 ngân hàng huyện, để con làm việc với họ."

Đến bây giờ nghĩ lại.. tôi không khỏi tự hỏi: làm sao tôi có thể quyết định nhanh chóng và phản ứng ngay lập tức như thế?

và tuy chỉ có 3 hay 4 ngân hàng phản ảnh về công việc cuả tôi, mà tôi đòi yêu cầu triệu tập tất cả 8 ngân hàng như vậy..., vì tôi biết rằng các ngân hàng còn lại, tuy chưa nói ra trực tiếp , nhưng họ cũng ngấm ngầm phản đối và bất mãn ở trong lòng..., nên tôi cần giải thích và chận đứng ngay..

Ông Sáu tỏ ra trấn tĩnh hơn, và nói: " Bây nói Ba Trung gọi điện thoại cho Trưởng hàng ngân hàng thị xã và 7 ngân hàng huyện , kêu ngày mai 10 giờ lên gặp tao."

Đến bây giờ nghĩ lại, tôi cảm thấy sao mình có thể cả gan và bạo dạn đến như vậy...?

vì tôi chỉ là 1 sinh viên mới ra trường, chân ướt, chân ráo... và đang trong thời gian tập sự, chưa có 1 chức vụ gì ,việc này nếu quả đúng như vậy, thì đó là trách nhiệm trưởng phòng kế toán, hay phó phòng, là lãnh đạo với nhau và cùng vai vế với họ, phải giải thích và làm việc với họ, vì con dại cái mang... rồi sau đó, nếu cần, sẽ khiển trách tôi sau....chứ …!

Xin nói thêm về các chef cuả tôi...     

Hồ Thanh Trung, còn gọi là Ba Trung, là phó phòng kế toán ngân hàng tỉnh Bến Tre, ngươì điạ phương.

Ba Trung bằng tuổi với tôi, khá thông minh, tuy chỉ có bằng trung cấp ngân hàng , nhưng là cán bộ nằm vùng, lại có tuổi đảng, nên được phân công làm phó phòng kế toán.

Đối với tôi, Ba Trung có vẻ hơi kính nể , vì tôi có bằng đại học hơn Ba Trung , và hơn nữa, Ba Trung biết rằng tôi không có ý định cắm dùi nơi này, mà chỉ mong được về thành phố làm việc, gần gia đình, nên tôi không phải là địch thủ để tranh dành ảnh hưởng với Ba Trung.

Ngoài ra, những công việc cần thuyết trình trước công chúng hay thuyết minh bằng văn bản lên ngân hàng Trung ương, hoặc là anh Hoàng Tục hay tôi đảm nhiệm. Ba Trung không có khả năng này.

Ông Đỗ hiếu Liêm, hay chúng tôi gọi là bác Sáu Liêm, năm đó ông cũng khoảng 58 tuổi rồi, là Giám đốc ngân hàng tỉnh Bến Tre.

Ông Sáu xuất thân là nông dân, nên có phong cách cuả 1 người bình dân., vì bất mãn với chính quyền đệ nhất cộng hoà bắt dân vào ấp chiến lược , và được quân đội giải phóng, giáo dục và giác ngộ, nên ông đã vào bưng để hoạt động cách mạng.

Phải nói thêm là bác Sáu , tuy là giám đốc, nhưng hầu như không qua 1 trường lớp đào tạo chuyên môn nào, ông được bổ nhiệm làm giám đốc, vì có công với cách mạng, nghe nói là trước năm 75, ông trốn vào mật khu, còn gọi là Cục R hoạt động ( cục Rờ, là tổ chức đại diện cho Mặt trận giải phóng Miền Nam) để hoạt động kinh tài cho họ, nuôi tổ chức kháng chiến … , và vợ ông là bác Sáu gái, rất đảm đang, chịu thương , chịu khó, buôn bán , làm ruộng và gánh gạo vào nuôi chồng và tiếp tế cho Mặt trận cũng như tạo điều kiện cho ông hoạt động.

Nay tuy đã hoà bình, bà Sáu như bao nhiêu ngươì phụ nữ Việt Nam khác, vẫn ở quê và tận tuỵ hy sinh cho chồng . Thỉnh thoảng bà Sáu vẫn ra thăm ông ở ngân hàng, và đem thức ăn cho ông bồi dưỡng thêm.

Ngoài ra thì 1 số trưởng hàng huyện, người Bến Tre, cũng có hoàn cảnh tương tự như ông, và có vài ba trưởng hàng là người miền Bắc chi viện vào.

Họ tương đối có trình độ tương đương trung cấp ngân hàng, nhưng có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ ngân hàng hơn , vì đã nhiều năm làm việc trong các ngân hàng tỉnh miền bắc , nên họ có lý luận khá vững chắc theo đường lối chính trị cuả đảng. Đa số họ cũng khá lớn tuổi và đáng cha, chú hay anh cuả Hiền.

Trong tất cả cán bộ chi viện từ miền Bắc vào, anh Hoàng Tục, Trưởng phòng kế toán ngân hàng tỉnh Bến Tre, ngươì Vĩnh Phú (Miền Bắc) là người có trình độ cao nhất. Anh có bằng đại học tại chức và có nhiều năm kinh nghiệm trong lãnh vực ngân hàng, nên tương đối được kính nể hơn các cán bộ miền Bắc khác.

Hơn nưã, biết thân phận mình lép vế trước cán bộ miền Nam, nhất là tại quê hương cuả họ, nên anh không đấu đá gì với họ để tranh quyền, nên tạm yên thân cũng như mong sớm trở về với gia đình ở quê hương miền Bắc.

Tuy là cùng cán bộ cách mạng với nhau, giữa cán bộ Miền Nam , (người điạ phương) , và cán bộ miền Bắc họ luôn có sự tranh dành quyền lực ngấm ngầm với nhau. Cán bộ miền Bắc thì cho mình giỏi hơn, có trình độ chuyên môn cao hơn, lại có kinh nghiệm nhiều hơn, nên muốn có vai trò làm chef, làm lãnh đạo như giám đốc ngân hàng hay kế toán trưởng, thay vì chỉ làm phó..

Họ lý luận khá vững vàng, trong khi cán bộ miền Nam thườngít học hơn, và không có trình độ , hoặc kinh nghiệm chuyên môn gì cả , nhưng có ưu thế là ở trên quê hương cuả họ, nên thường là các vai trò lãnh đạo như Trưởng hàng hay kế toán trưởng thường rơi vào tay họ, trong khi cán bộ miền Bắc cho mình là giỏi hơn , chỉ làm phó ngân hàng hay kế toán phó mà thôi.

 

Trở lại cuộc họp....

Ngày hôm sau, đúng giờ đã hẹn, mỗi ngân hàng gồm trưởng ngân hàng và kế toán trưởng cuả ngân hàng Thị xã cùng với 7 ngân hàng huyện, tất cả là 16 người, đã lục tục kéo đến và tập trung đầy đủ ở Căn tin (vì ngân hàng không có phòng họp riêng ).

Ngoài ra còn kê thêm 1 cái bàn nhỏ để bác Sáu ngồi chủ toạ phiên họp ...tôi không có ghế gì cả và đứng cạnh ông Sáu.

Ba Trung, phó phòng kế toán, không tham dự, lấy lý do bận công việc điều hành phòng kế toán. Hơn nưã, ngay từ ngày hôm trước, khi ông Sáu Liêm nói tình hình các ngân hàng huyện phản ứng về kế hoạch kinh doanh cuả ngân hàng , bây giờ đối phó ra sao?

Ba Trung đã khéo léo nói rằng: Anh Tục chỉ phân công Ba Trung chịu trách nhiệm về kho quỹ và thanh toán liên hàng (nghiã là dịch vụ thanh toán bù trừ lẫn nhau giưã các ngân hàng qua hệ thống swift) nên anh không nắm rõ về việc này, mà chị Hiền phụ trách và chịu trách nhiệm, nên để cho chị Hiền làm việc này...

Sau khi bác Sáu nói chào mừng các Trưởng hàng lên tỉnh làm việc, và sau khi tất cả đã yên vị ngồi vào chỗ cuả mình, tôi thay mặt bác Sáu điều khiển phiên họp...

Tôi lần lượt mời từng ngân hàng lên phát biểu ý kiến, từng trưởng hàng lên phát biểu ý kiến về tình hình kinh doanh cuả huyện mình, kể cả những ngân hàng không phàn nàn với bác Sáu về việc phê duyệt kế hoạch kinh doanh hàng quý, hôm nay được dịp, họ cũng tranh nhau nói, nhất là các cán bộ Trưởng hàng miền Bắc, họ nói rất bài bản và "nghe có lý lắm"..

Ông Sáu ngồi yên..., gương mặt lộ vẻ bối rối...

Không biết vì trời nóng, ngồi họp dưới mái tôn, nên tôi thấy ông đổ mồ hôi trán... và gương mặt cuả ông đỏ hồng,.. vì ông có bệnh huyết áp.., hay ông thấy các ngân hàng huyện phản ứng khá mạnh, và không biết trả lời họ ra sao...?

Để cho tất cả các trưởng hàng nói xong, tôi bắt đầu phát biểu:

" Tôi thay mặt bác Sáu , xin cám ơn tất cả các trưởng hàng đã đóng góp ý kiến, nhưng tôi phải nói rằng ngân hàng là 1 đơn vị hạch toán độc lập, nghiã là lấy thu bù chi và đảm bảo kinh doanh có lãi...

Sở dĩ tôi duyệt kế hoạch thu lãi cuả ngân hàng Mỏ cày và 1 số ngân hàng khác cao, trong khi kế hoạch chi cuả quý vị thấp, đó không phải là tôi không sâu sát ngân hàng cơ sở, không nắm được tình hình thực tế cuả ngân hàng quý vị, mà tôi muốn cho quý vị phấn đấu. ...

Nhà nước có kế hoạch bù lổ cho ngành giáo dục, y tế.., quốc phòng... nhưng không có kế hoạch bù lỗ cho ngân hàng... Do đó , nếu ngân hàng nào làm ăn bị lỗ lã lâu dài , chi nhiều hơn thu, thì chắc chắn rằng trong tương lai sẽ bị đóng cửa..."

(Tôi phán...chắc như đanh đóng cột..., mà không biết chính sách cuả Đảng và Nhà nước ...có như lời tôi nói không nữa...)

Khi tôi nói vưà xong, tất cả đều im lặng như tờ.., không nhao nhao tranh dành phát biểu như trước... Ông Sáu ngồi kế bên cũng thở ra nhẹ nhõm...

Sau đó, bác Sáu hỏi có ai muốn phát biểu gì thêm nưã không. Tất cả đều im lặng và nhất trí....và hội nghị được giải tán, ai về huyện nấy...

Sau khi các trưởng hàng về hết, bác Sáu gọi tôi vào phòng làm việc cuả ông và bảo: Hiền, từ rày về sau, có gì bây báo cáo cho tao biết, để tao nghe lời mấy thằng Trưởng hàng này, có ngày ngân hàng bị đóng cưả hoặc tao phải đi tù vì chúng cũng nên..."

Gương mặt tỏ ra rất vui... và hài lòng ...vì tôi..

Từ đó về sau, bất cứ đi công tác nơi nào , ông cũng cho tôi theo, nhất là hàng năm phải đi họp hội nghị quyêt toán cuả ngân hàng Trung Ương, cơ sở 2, Bến Chương Dương ở TP HCM hay ngân hàng TRung Ương ở Hà nội, về những chính sách mới cuả ngân hàng Trung Ương , về triển khai lại cho ngân hàng huyện để thi hành, ông đều cho tôi theo, để ghi chép thay ông và về truyền đạt lại cho các ngân hàng huyện.

Đó cũng là mở ra những cơ hội cho tôi được gặp gỡ những nhân vật chóp bu cuả ngân hàng Trung Ương như Tổng giám đốc ngân hàng Trung Ương, Vụ Trưởng vụ kế toán ngân hàng Trung Ương hay Vụ Trưởng Vụ Tổ Chức cuả NGân hàng Trung Ương, Võ văn Khẩn....v.v..., người đã giúp đỡ tôi được chuyển công tác về TP Hồ Chí Minh, sau 3 năm làm việc ở Bến Tre.

Bài 9 : Ngày 8 tháng 3 năm 1979 ….và cái kết....

Ngày 6 tháng 3 năm 1979 ông Tám THọ, mà chúng tôi thường gọi là chú Tám( xin lỗi các bạn, lâu ngày quá rồi tôi đã quên mất tên họ cuả ông)

là phó giám đốc phụ trách tổ chức kiêm hiệu trưởng trường sơ cấp ngân hàng tỉnh Bến tre, ngỏ ý muốn tôi sẽ tổ chức ngày Lễ Phụ Nữ Quốc tế ngày 8 tháng 3 cho tất cả chị em phụ nữ là cán bộ và nhân viên ngân hàng tỉnh Bến Tre và ngân hàng THị xã, (cách phòng kế toán cuả chúng tôi khoảng 500 m, gần chợ Bến Tre.) tại trường sơ cấp ngân hàng...

(Cán bộ là những người đảng viên, để phân biệt với chúng tôi là nhân viên, không thuộc đảng hay đoàn gì hết)

Trong hàng ngũ Ban Giám đốc ngân hàng, ông Tám Thọ là người được xem là học thức nhất.

Trước năm 1975 ông là giáo viên, con cuả 1 đại điền chủ ở Giồng Trôm , có vườn trái cây, trồng quýt, rất là nổi tiếng. Sau khi tham gia cách mạng ông tập kết ra Bắc và được đưa sang Liên Xô để học 2 năm. Tôi không rõ ông đã học cái gì ở Liên xô.... Nhưng tôi có thể thấy ông ngầm bất mãn... vì không được làm giám đốc như ông Sáu Liêm mà chỉ làm phó giám đốc phụ trách tổ chức kiêm hiệu trưởng trường Sơ Cấp ngân hàng tỉnh Bến Tre.

Phải nói thêm là dưới chế độ xã hội chủ nghiã thì Vụ trưởng Vụ tổ chức, hay Trưởng phòng tổ chức ...có quyền hành rất lớn, họ có thể phân công, bổ nhiệm, thuyên chuyển hay đề bạt cán bộ, nhân viên ngân hàng.

Với mái tóc hớt cao, cặp mắt trắng dã và làn môi thâm sì.., vì những ngày tháng bị sốt rét ở trong rừng, cũng như làn da sạm đen ... đã tạo cho ông 1 vẻ thâm nho và bí hiểm...

Ông gợi ý tôi sẽ viết 1 bài nói về ý nghiã ngày 8-3 và phương hướng sắp tới cuả phụ nữ ngân hàng tỉnh Bến Tre cũng như tổ chức và điều hành kỷ niệm ngày "trọng đại"này này..và chỉ vỏn vẹn có thế...và không có gì cụ thể ...phải nói và làm những gì..?

Đây là điều hoàn toàn mới mẻ với tôi, và ngày đó cũng chưa có anh Google như bây giờ để tìm tài liệu...nói về lịch sử ngày 8 tháng 3, chỉ biết đại khái đó là ngày kỷ niệm phụ nữ quốc tế, nên tôi chỉ có thể viết về ý nghiã cuả ngày này đối với chị em phụ nữ trên toàn thế giới, nói riêng và nữ cán bộ, nhân viên ngân hàng tỉnh nói riêng... cũng như đề ra phương hướng sắp tới cuả chị em phụ nữ ngân hàng phải làm gì trong tình hình đất nước hiện tại...

Sau khi trao đổi với anh Hoàng Tục là trưởng phòng kế toán và cũng là chef cuả tôi, kể cả 5,6 người, những chị em phụ nữ làm việc chung phòng kế toán với tôi, cũng được nghỉ buổi sáng ngày hôm đó để kỷ niệm ngày trọng đại này, trong khuôn viên hội trường cuả lớp học, ngay đằng sau phòng kế toán.

Đến ngày 8 tháng 3 tất cả chị em phụ nữ ngân hàng tỉnh và cán bộ, nhân viên phụ nữ ngân hàng THị xã già có , trẻ có, đảng viên, đoàn viên có...phụ nữ có gia đình cũng như độc thân như tôi cũng có, tất cả khoảng 50 chục người lục tục kéo đến....

Tôi đứng trên bục giảng, đàng sau tôi là tấm bảng đen, hôm nay được trang trọng phủ lên 1 lá cờ đỏ sao vàng với buá liềm .. đại diện cho giai cấp công nông... Bên cạnh tôi là cái bàn cuả thầy giáo hàng ngày, hôm nay được trang trí thêm 1 bình bông lay ơn màu đỏ, và trước mặt tôi là các dãy ghế cho các chị em phụ nữ ngồi họp. Bàn trên cùng là ông Tám THọ ngồi chủ trì....

Khai mạc buổi họp là màn chào quốc kỳ.. ..

Tôi hô "nghiêm" 1 tiếng thật to.

Tất cả đứng bật dậy như lò xo.. 1 cách ngay ngắn và nghiêm túc... Thú thật với các bạn, giờ phút đó tôi đã phải cắn răng vào lưỡi thật đau để khỏi phì cười, khi nghĩ đến... hằng ngày các bà, các bác , các cô kia, trong số họ đã là đảng viên, đoàn viên...trưởng phòng, phó phòng có.., tôi đã phải gọi họ và xem họ như cô, bác hay chị cuả mình, thì tất cả hôm nay đều dưới quyền điều khiển cuả tôi...đang chào tôi một cách thành khẩn....kể cả ông Tám Thọ, chef cao cấp cuả tôi và cả ngân hàng.

Họ đứng dậy 1 cách nghiêm túc để chào tôi. ..Tôi đã cắn lưỡi gần như bật máu.. để có thể nói tiếp: ” CHào cờ, chào... ”

Tất cả đứng yên 1 phút im lặng, và không cử hành quốc ca gì cả, vì hồi đó mọi phương tiện đều thiếu thốn và tôi chắc rằng chẳng có ai thuộc bài quốc ca cuả việt cộng, kể cả các chị em phụ nữ gọi là cán bộ đảng viên và cả tôi, cũng không biết bài đó ra sao.

Sau 1 phút im lặng, tôi mời tất cả bọn họ ngồi xuống và tôi bắt đầu giới thiệu nội dung bài nói chuyện cuả tôi với tất cả cử toạ và đọc bài nói về ngày phụ nữ 8 tháng 3. Bài nói chuyện cuả tôi khoảng 3 phút... Vưà đọc tôi vưà đưa mắt nhìn mọi người...

Sau khi bài nói chuyện chấm dứt, tất cả đều vỗ tay ...và một đại diện trong số cử toạ đứng lên ngỏ lời cám ơn về bài phát biểu cuả tôi và đại diện cho chị em phụ nữ ngân hàng tỉnh Bến Tre hưá sẽ ”hoàn thành nhiệm vụ được giao”: "giỏi việc nước, đảm việc nhà " để xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam" như trong bài phát biểu cuả tôi đã đề cập đến...và sau đó mọi ngươì giải tán và trở về chỗ làm cuả mình.

Tám Thọ là người ra về cuối cùng trong buổi họp và trong lúc tôi đang lui cui xếp dọn cờ và lọ hoa ở trên bàn, ông cười và nói với tôi: Khá lắm, buổi họp rất thành công và đúng nghi lễ cũng như bài viết rất có ý nghiã...

Ông nói thêm : "Hiền biết không, ngày hôm kia chú đã bảo Bình, là chi đoàn trưởng ngân hàng tỉnh Bến Tre làm chủ toạ và làm lễ kỷ niệm.., nhưng nó bảo, nó không biết viết thế nào, hơn nữa nó cũng chưa chủ trì 1 buổi lễ như vậy bao giờ, nên nó không dám làm, phải thấy đây là1 vinh dự cho Hiền đã được chọn "

Vinh dự hay không thì chưa biết, nhưng vô tình ông đã tạo cho tôi thành 1 cái gai trong mắt Bình... vì ghen tị...

Ngày tháng trôi qua, sau cuộc họp triệu tập các trưởng ngân hàng và chủ trì lễ kỷ niệm ngày phụ nữ 8 tháng 3, mọi người đều biết mặt, biết tên tôi , từ ngân hàng tỉnh cho đến các ngân hàng huyện ..và nhất là những người trẻ làm chung với tôi và những phòng ban khác rất yêu thích và quý mến vì tính bạo dạn cuả tôi và lối nói chuyện thẳng thắn, cởi mở, vui vẻ và rất hoà đồng với họ.

Họ là những cô gái mối lớn, chừng 17, 18, 19 tuổi , là con em cuả gia đình cách mạng, và cũng rất khá giả ở xứ quê, được thâu nhân vào làm việc ở phòng kế tóan cũng như các phòng ban khác, , vưà học, vưà làm và được đi học bổ túc ngắn ngày tại trường sơ cấp, mà đôi khi tôi đã là cô giáo cuả họ.

Những cô gái quê mới lớn ấy, chuyên làm ruộng, làm vườn, bây giờ được ra tỉnh làm việc, họ rất thích và cũng rất tò mò, cũng như bắt đầu học ăn diện... Họ thường nhờ tôi mua hộ son, phấn, vải vóc mỗi khi tôi trở về thành phố vào dịp cuối tuần cũng như cố vấn cho họ may các kiểu quần áo mới mẻ đối với họ.

Tôi nhớ thời trang lúc đó là may quần vải xéo, với ống loa rất được ưa chuộng vào thời đó, mặc dù loại quần này rất tốn vải... Họ mượn quần cuả tôi để đi may... và tôi cũng cố vấn cho họ cách trang điểm như vẽ mắt...và do đó tôi đã rất gần gũi với họ như 1 người chị gái...

Một hôm, trong một buổi họp đoàn viên, Bình, bí thư chi đoàn ngân hàng tỉnh Bến Tre, đã mời tôi tham dự cùng với họ, mặc dù tôi chẳng phải là đoàn viên gì cả.

Tôi hơi ngạc nhiên nhưng vẫn chấp nhận họp với họ. Trong buổi họp, Bình phê bình tôi: : ”từ khi tôi về đây đã lôi kéo chị em đoàn viên học thói tiểu tư sản, trang điểm xa hoa.. và xa rời quần chúng...”

Bọn trẻ ngồi yên, không ai dám lên tiếng phản đối, vì Bình là chi đoàn trưởng cuả họ.

Đợi cho Bình nói xong, và không ai phát biểu gì, tôi bắt đầu phát biểu ý kiến cuả mình , tôi nói:

Lý tưởng cuả chủ nghiã cộng sản là gì? theo tôi biết..là làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, và nhu cầu là vô hạn... nhu cầu đó ở mức độ thấp có thể là ăn ngon và mặc đẹp và cao hơn cùng với sự tiến triển cuả xã hội sẽ có rất nhiều nhu cầu cao hơn nữa..mà trong tình hình "quá độ" hiện nay, chưa cho phép chúng ta hình dung ra được.."Đó là cái đích cuối cùng mà tất cả chúng ta đều nhắm tới. không phải là bần cùng hoá hay phải ép mình làm xấu xí mới là yêu nước, mới là người cộng sản. .”.

Chắc các bạn còn nhớ ... thời kỳ sau 75, Việt cộng hay dùng từ " quá độ" để giải thích cho tình trạng tụt hậu cuả VN và ca ngợi lý tưởng cuả chủ nghiã cộng sản là " Làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu..." là thiên đường phải tiến đến. Và tôi đã dùng chính những văn từ tuyên truyền cuả nhà nước việt cộng mà tôi đã được học ở trường Kinh tế để phản bác lại ý kiến cuả Bình

Tôi nói xong thì bọn trẻ cũng nhao nhao nói:" Em thấy chị Hiền nói đúng..." Tụi em sưả soạn 1 chút cũng đâu có gì làm hại tới ai đâu mà biểu là tiểu tư sản , này nọ..."

Thực sự thì ngay cả chị Bình , đoàn trưởng cũng như bọn họ cũng không biết ý nghiả cuả tiểu tư sản là gì, bọn họ chỉ nói như 1 con vẹt mà thôi, nên sau khi tôi giải thích về triết lý cuả Karl Marx và lý tưởng cuả chủ nghiã cộng sản... thì mặt Bính đờ ra mà không biết đối đáp ra sao, nên đành im lặng. ..

Phát biểu xong tôi nói "xin lỗi, tôi không phải là đoàn viên gì cả”, và đứng dậy đi ra khỏi phòng.

Kết quả là tôi sẽ không bao giờ tôi trở thành đoàn viên, hay được kết nạp thành đoàn viên cộng sản, vì đã dại dột phản bác cũng như làm mất mặt " đồng chí" chi đoàn trưởng ngân hàng nhà nước tỉnh Bến Tre, thay vì thành khẩn nhận khuyết điểm và hưá phấn đấu để trở thành đoàn viên cộng sản.

 

Bài 10: Cuộc sống ở tập thể...

Như đã nói trong những bài trước, để làm việc ở ngân hàng Bến Tre, tôi đã ở tập thể chung phòng với 5 nhân viên ngân hàng khác, trong đó có 3 người ở Saigon là tôi, Nguyễn thị L. H. và Nguyễn Thị Tỵ, L. H. và Tỵ tốt nghiệp sơ cấp ngân hàng và đã xuống đây làm việc trước tôi một năm. .. L. H. cũng bằng tuổi tôi...

Còn lại là 3 người khác, trong đó có chị Khơi, một nữ tu công giáo người Bến Tre trước năm 75, nhưng đã xuất thế sau năm 75 và làm việc ở quỹ tiết kiệm, ngân hàng tỉnh Bến Tre.

CHị là người lớn tuổi nhất trong phòng, khoảng 45, 46 tuổi, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ và đã là sơ trước năm 75. CHị rất kín đáo, tính tình sạch sẽ và rất ít nói chuyện với mọi người, ngoại trừ tôi, thỉnh thoảng nói chuyện với chị., và có lẽ tôi cũng là người thân nhất với chị trong phòng và biết nhiều về chị, qua những lần đi vận động tiết kiệm với chị.

Chị không qua 1 trường lớp chuyên môn nào và cũng chỉ học hết lớp 7 hoạc lớp 8, nhưng nhờ có có ông chú dượng là tỉnh uỷ tỉnh Bến Tre, nên đã được vào làm ở quỹ tiết kiệm, nơi mà không đòi hỏi nghiệp vụ chuyên môn về ngân hàng nhiều lắm...

Sau năm 75 với 3 lần đổi tiền và với chính sách quốc hữu hoá ngân hàng, người dân đã mất tin tưởng vào ngân hàng nhiều lắm, hầu như không ai muốn gởi tiền vào ngân hàng, sau khi chứng kiến đã mất tất cả tiền gởi vào ngân hàng trước năm 75.

Nhà nước việt cộng cũng không thể in tiền ra để cho vay mãi , mà không thể huy động số tiền nhàn rỗi trong dân chúng. Hơn nưã, tất cả đều dùng tiền mặt, từ việc chi trả lương cho đến việc thu mua, hay kinh doanh sản xuất đều cần tiền mặt.. đã áp lực và đòi hỏi 1 lượng tiền trong lưu thông rất lớn, chưa kể chi phí đếm tiền cũng như bảo quản và vận chuyển tiền khổng lồ, vì những rủi ro cướp bóc cũng như lạm phát...

Vì thiếu người chuyên môn làm việc ở khâu tiết kiệm, tín dụng, hành chính, xây dựng, giảng dạy.... nên ông Tám Thọ cũng như ban GIám đốc yêu cần tôi kiêm nhiệm thêm những trọng trách trên khi cần thiết, chẳng hạn như đi vận động tiết kiệm , để huy động tiền nhàn rỗi trong dân chúng. ...

Đây là 1 công việc khá khó khăn và mới mẻ đối với tôi, vì tôi chỉ được học và làm về kế toán..., vì mình phải giải thích về những lợi ích gởi tiền tiết kiệm cũng như khôi phục lại niềm tin nơi dân chúng đã mất ... vì một nguyên tắc căn bản cho mọi hoạt động về ngân hàng là sự tín nhiệm và lòng tin cuả công chúng. Và toàn bộ hệ thống ngân hàng ở VN cũng như trên toàn thế giới chỉ có thể tồn tại và hoạt động khi người dân đặt tín nhiệm và lòng tin nơi ngân hàng. ….

Người thứ hai là Kim Cúc, cũng bằng tuổi tôi, xinh đẹp và rất khôn ngoan ... . Cha cuả Kim Cúc trước năm 1975 là quận trưởng quận CHâu THành và đã phải đi học tập sau 1975.

Trước năm 75 Kim Cúc làm việc ở ngân hàng phát triển nông thôn, 1 ngân hàng tư ở tỉnh Bến Tre, và sau năm 1975 Cúc được lưu dụng ở lại làm việc ở phòng kế toán , chung với tôi ở ngân hàng nhà nước tỉnh Bến Tre...

Cúc tâm sự riêng với tôi, trước năm 1975 Cúc đã có người yêu là trung úy hải quân thuộc quân lực VNCH, hai người yêu nhau và đã hưá hôn lấy nhau thì biến cố 1975 xẩy ra, Phát, người yêu cuả Kim Cúc phải đi học tập và 2 người đã hưá với nhau CÚc sẽ chờ anh Phát 5 năm, nếu Phát không trở về, thì Cúc sẽ lập gia đình với 1 người khác, vì giưã chúng tôi có nhiều điểm chung , nên chúng tôi khá thân với nhau.

 

1 người nữa là Tiêu Mỹ Lợi, còn trẻ khoảng 20 tuổi, ngươì ở huyện THạnh Phú, Bến Tre, tốt nghiệp sơ cấp ngân hàng và làm việc sau tôi vài tháng...

Phòng ngủ tập thể cuả 6 đưá chúng tôi ở trên lầu ngân hàng tỉnh, có 2 phòng, phòng trong là chỗ ngủ cho Hoa và Tỵ, có 1 cưả sổ lớn , diện tích khoảng 10 m2, và phòng ngoài là phòng ngủ cuả tôi và 3 người khác.

Hai phòng ngăn cách nhau bởi 1 cưả cái có 2 cánh to và rộng, diện tích khoảng 20 m2 cho 4 người, có 1 cưả sổ to và rộng với mái vòm hình vòng cung, 1 lối kiến trúc thời trung cổ cuả Pháp. vì toà nhà được kiến trúc thời Pháp thuộc, nên ngôi nhà vuông vắn, cao ráo, sáng suả..., và nhờ đó rất thoáng mát, tuy không có máy lạnh, về muà hè, chỉ cần 1 cái quạt trần cho cả phòng là đủ, và ban đêm ngủ... không cần phải mắc màn...

Có 4 cái giường gỗ cá nhân được trải chiếu, là cuả ngân hàng cho mượn, còn gối và chăn mền.. thì tự mình đem xuống để dùng...

Sát với bức tường ngăn cách với phòng ngủ cuả HOa và Tỵ là giường cuả chị Khơi, 3 giường còn lại được kê song song với nhau là giường cuả tôi ở ngay ra cưả ra vào, giường ở giưã là cuả Mỹ Lợi và 1 cái giường kê ở cạnh cửa sổ, sát tường là cuả Kim Cúc...

Trong phòng chẳng có đồ đạc gì nhiều, ngoại trừ chị Khơi và Kim Cúc có thêm 1 cái tủ nhỏ, table de nuit đã cũ kỹ,riêng MỸ Lợi có thêm cái bếp điện nhỏ đường kính khoảng 20,22 cm, thô sơ chạy bằng dây lò xo, thỉnh thoảng Mỹ Lợi nấu chè hay làm bánh bột lọc với tôm và mời bọn tôi ăn...

Quần áo chúng tôi được để vào va li hay túi xách để ở đầu giường hay cuối giường.., dưới gầm giường là hộp xà bông giặt quần áo, và hộp xà bông cục để tắm, và được đặt vào 1 cái thau giặt. và tất cả gia tài cuả chúng tôi vỏn vẹn chỉ có thế...

Thời đó, mỗi ngày chúng tôi làm việc 8 tiếng, buổi sáng từ 7 giờ rưỡi đến 11 giờ rưỡi, về ăn cơm tập thể và nghỉ trưa 1 giờ rưỡi và bắt đầu làm việc từ 1 giờ trưa đến 5 giờ chiều, 1 tuần làm việc 6 ngày, kể cả ngày thứ bẩy..

Tất cả những người làm việc ở ngân hàng tỉnh Bến Tre đều ăn cơm tập thể, mỗi tháng 18 $, những năm đó đói kém lắm, vì bị mất muà, lại thêm Mỹ cấm vận, cả nước phải ăn độn bo bo hay bột mì, bột mì thì làm bánh canh nấu với tôm khô, thức ăn thì bưã nào cũng có 1 chén ăn cơm canh nhạt nhẽo.., lõng bõng nước, nấu với muối, vài lá rau dền hay mùng tơi hoặc vài cọng rau muống... mà chỉ có 1 gắp là hết, không có thịt và bột ngọt gì cả, mà chúng tôi thường nói đuà là canh không người lái và thức ăn mặn thường là cá khô hay cá linh, nếu đến muà nước nổi …. vài con cá kho bằng ngón tay út với 1 chút nước và rất hiếm khi được ăn thịt, vì thịt là tiêu chuẩn, mỗi tháng công nhân viên như chúng tôi được mua 300 gram hay 400 gram thịt tuỳ theo tháng, 50 gram bột ngọt và 300 gram đường, trưởng phòng hoặc giám đốc thì tiêu chuẩn cao hơn nên được mua nhiều hơn, tuỳ theo mức lương. Như tiêu chuẩn giám đốc được mua 1 tháng 1,2 kg thịt, 1kg đường và 200 gram bột ngọt.

Tiêu chuẩn cuả cán bộ công nhân viên là 13 kg lương thực 1 tháng , kể cả bo bo hay bột mì, nhưng vì chúng tôi đã ăn cơm tập thể , nên phải đóng góp phần gạo cuả mình cho bếp ăn tập thể, và chỉ được mua thịt, đường và bột ngọt mà thôi.

Cứ mỗi trưa thứ bẩy, sau khi hết giờ làm việc buổi sáng vào lúc 11 giờ rưỡi, là tôi đã có mặt tại phòng Giám đôc cuả ông Sáu Liêm để xin ông về TP trong dịp cuối tuần, vì lần đầu tiên tôi xin anh Hoàng Tục, là chef trực tiếp cuả tôi để về TP vào dịp cuối tuần, thì anh bảo tôi hãy xin phép ông Sáu Liêm, vì anh không có quyền cho quyết định nghỉ làm vào chiều thứ bẩy,và gần như cả buổi sáng thứ hai.

Do đó, theo thông lệ, những tuần sau đó mỗi khi về Saigon tôi đều xin phép ông, hay đúng ra để báo cho ông biết..

Tôi chỉ nói: ”Bác Sáu, con về TP.”.. và không đợi ông trả lời đồng ý hay không, là tôi đã nhanh chóng xách túi xách, ba chân bốn cẳng ra bến xe để xếp hàng mua vé, nếu may mắn tôi sẽ mua được giá vé chính thức chỉ có 5$, còn nếu không, khi số vé có hạn đã bán hết, tôi phải mua với giá chợ đen 10 $ hoặc 15$ hoặc thậm chí 20$ , nhất là trong dịp gần tết... ,để có vé về TP.

và trở lại Bến Tre vào sáng thứ hai để làm việc vào khoảng 10 giờ hay 10:30, mặc dù thức dậy rất sớm vào 4 giờ sáng, nhưng từ nhà phải đi xe bus ra xa cảng miền Tây, đứng sắp hàng mua vé xe đò và qua phà Rạch Miễu, cái phà lớn nhất miền Nam, so với Bắc Cần Thơ và Bắc Mỹ Thuận...qua phà Rạch Miễu rồi, tiếp tục đi xe đò đến chợ Bến Tre , cách ngân hàng khoảng 500m và đi bộ đến ngân hàng... nên rất mất thời gian và rất lâu lắc...

Đôi khi 4, 5 người bạn cuả tôi gồm 2 người nam ở ngân hàng Tỉnh và 2 người nữ ở ngân hàng THị xã gần đó, cũng ăn theo... tôi để về Saigon..

Bọn họ rất nhút nhát... tôi đứng trước..., 4,5 người bọn họ, khăn gói quả mướp... đứng xếp hàng sau lưng tôi như rồng rắn, và chỉ đợi tôi nói với bác Sáu: ”Bác Sáu tụi con về TP.”.. và tôi quay lưng đi để chuẩn bị ra bến xe, là họ cũng đi theo tôi ngay lập tức...

Tôi là người hầu như về TP mỗi tuần, trừ phi không mua được vé, vì vé chợ đen cũng đã bán hết...một phần vì nhớ nhà..., nhớ gia đình... về nhà ăn cơm không phải ăn độn như bếp ăn tập thể , vì mẹ tôi đã khéo xoay sở ...và đã bán phần độn bobo đi để mua gạo. Thức ăn tuy không ngon và nhiều như trước, nhưng cũng có chút thịt, chút cá hay một ít trứng.

Hơn nưã, chiều thứ bẩy và ngày chủ nhật, chị nuôi không nấu ăn, vì có rất ít người ăn cơm tập thể,những ngươì ở đia phương sau 5 giờ chiều họ về với gia đình ở thị xã hay các huyện lân cận để ăn cơm với gia đình cuả họ.

Do đó nếu ở lại là chúng tôi phải ăn cơm hàng, cháo chợ... chưa kể phải nằm chèo queo nơi căn lầu heo hút, vắng lặng hơn thường ngày, mà không có 1 phương tiện giải trí nào như TV, radio hay rạp hát chiếu phim....gì cả...

Nhưng tôi cũng phải trả giá đắt cho việc về TP cuối tuần, vì lương có 48, 75 $ xu, đã trả tiền ăn cơm tập thể mỗi tháng mất 18 đồng, vỏn vẹn còn có 30$ 75 xu phải ăn quà sáng, nếu nhịn ăn điểm tâm, thì tôi có 30,75 xu để chi vào tiền xe cuối tuần về TP, mặc dù giá vé chính thức là 5$ nhưng rất hiếm khi mua được vé chính thức, mà thường phải mua 10$ hay 15$ hoặc có khi 20$, nhất là trong dịp tết... mới có vé. Do đó, mà cuối tuần về nhà cũng là dịp xin mẹ chút tiền còm để có tiền mua vé tầu xe về lần tới....