Mưa rơi ngoài kia hãy ngừng làm thơ người anh thi sĩ cùng mưa dại khờ. Đừng chờ mưa tạnh hãy chạy theo ngay hứng đầy hai tay mưa xưa trở lại Nhìn lên con dốc trắng xoá mưa rơi nhìn xuống chân đồi mưa bay lấp xấp Hạt mưa thuở nhỏ vẫn thế long lanh mưa trong thơ anh rất buồn và lạnh Lăn dài trên tóc ve vuốt trên da mưa qua , mưa qua vai trần ấm lạ, Mưa không vội vã không hạt sầu lo bình an thư thả thấy mình tự do
Thuyền Viễn Xứ, một bài hát vẫn để lại cho người nghe cảm xúc bâng khuâng nhớ về một nơi chốn nào xa xôi. Nhưng ít người biết rằng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ bài hát này từ một bài thơ của một thi sĩ rất trẻ và rất đẹp của thập niên 1950.
Thân mời các bạn cùng đọc bài viết " Tác giả bài thơ Thuyền Viễn Xứ là ai " cuả Nguyễn Phước Thị Liên.
Tác giả bài thơ "Thuyền Viễn Xứ" là ai ?
(Để tưởng nhớ các thầy cô Trường Trung học Phan Bội Châu-Phan Thiết, niên khóa 1954-1957).
Nguyễn Phước thị Liên
Ở đây chúng tôi không đề cập đến kỹ thuật âm nhạc và kết cấu bài thơ Thuyền Viễn Xứ, chỉ nêu một chi tiết chưa minh bạch về tác giả bài thơ.
Tạp chí Sông Hương số 273 tháng 11-2011, trang 62-69 có bài “Phạm Duy: thơ phổ nhạc“ của Đặng Tiến. Tác giả có nói đến bài thơ Thuyền Viễn Xứ của Huyền Chi nhưng chỉ với vài lời, vừa thuật, vừa trích lẫn lộn:
... " khi Phạm Duy phổ nhạc bài Thuyền Viễn Xứ, 1953, thuyền ơi viễn xứ xa khơi…sóng Đà giang…thơ của Huyền Chi, một cô hàng vải trong chợ Bến Thành không mấy ai biết đến”.
Như vậy, tác giả chứng tỏ không biết Huyền Chi là ai, lại còn có ý chê thể thơ lục bát khi ông viết :” Anh (tức Phạm Duy) đã biến nhịp lục bát đơn điệu, tẻ nhạt thành những tiết tấu sinh động, tha thiết, phong phú”.
Để bạn đọc biết thêm Huyền Chi là ai, ở đây chúng tôi xin phác họa đôi nét về tác giả: "Vào khoảng trước và sau 1954-1957, hầu hết học sinh, sinh viên miền Nam đều thích nhạc của Phạm Duy, trong đó có bài Thuyền Viễn Xứ, loại thơ phổ nhạc. Bài này được các ca sĩ nổi tiếng như Thái Thanh, Lệ Thu…thể hiện rất truyền cảm. Bọn trẻ chúng tôi lúc đó đang học Trường Trung học Phan Bội Châu - Phan Thiết. Không ai bảo ai. Đứa nào cũng “mê “, cứ lải nhải hát Thuyền Viễn Xứ, như ngầm chứng tỏ với nhau ta đây là dân…sành điệu. Dần dần, tác giả bài thơ là Huyền Chi trở thành thần tượng của tuổi trẻ trường Phan Bội Châu - Phan Thiết. Không đứa nào không biết Huyền Chi bằng xương, bằng thịt, chính là vợ của thầy giáo dạy tiếng Pháp cho mình. Và tất nhiên, chúng tôi phải gọi nhà thơ, vợ của thầy mình bằng cô. Hơn nữa, cô Huyền Chi là người phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu, dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi thầy cô sánh đôi giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến tâm hồn bao nữ sinh thời bấy giờ. Dưới mắt họ, đó là cặp đôi hoàn hảo.
Chúng tôi còn biết cha chồng của cô - cụ Đức Huy -, cũng là một người yêu văn thơ trong nhóm Liên Thành Thi xã, đã cùng các cụ Phú Khê, Phú Sơn, An Bình…xướng họa. Nhóm của các cụ cùng với nhóm Hương Bình Thi xã ở Huế thường trao đổi thi bài. Cô Huyền Chi tên thật là Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934, quê ở Bắc Ninh. Năm 1948-1949, cô ở Đà Lạt với người chị ruột. Năm 1950, 16 tuổi, cô về Sài Gòn ở với mẹ. Mẹ cô có sạp vải bán ở chợ Bến Thành, mỗi sáng cô thường giúp mẹ dọn hàng. Dọn hàng xong mới về đi học, có lúc vừa đi học vừa đi làm
Năm 1950-1952, cô làm thư ký tòa soạn tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương, chuyên trách mục thơ, cũng là phó nhóm Thơ-Văn-Nhạc Chim Việt. Cũng năm này, cô in tập thơ đầu tiên của mình là tập Cởi Mở tại nhà in Sống Chung của bà Đào. Theo lời cô kể: “Khi tập thơ mới hoàn thành, tôi đang giở xem bản in đầu tiên thì ông Phạm Duy đến. Có lẽ ông này quen biết với chủ nhân nhà in. Qua lời giới thiệu của bà Đào, ông biết tôi là tác giả tập thơ, ông đến bên tôi và nói: “Tôi là nhạc sĩ Phạm Duy, có thể nào cô cho tôi một quyển, nếu tôi thấy có bài nào hay, tôi sẽ phổ nhạc“. Ông còn yêu cầu tôi viết lời ký tặng. Đó là lần duy nhất tôi gặp nhạc sĩ Phạm Duy“.
Sau này, dường như năm 1953, bản nhạc Thuyền Viễn Xứ được in ra, thâu băng và phát hành ra nước ngoài. Thời ấy, cô Huyền Chi có người anh là một kỹ sư hàng không ở Pháp, có lúc ông anh gởi thơ nói với cô: “Anh không ngờ thơ em qua tận Paris”.
Năm 1954, Huyền Chi lấy chồng. Chồng cô là người Huế, dạy học ở Phan Thiết. Lúc này, cô có mở một hiệu sách mang tên Bút Hoa tại nhà và vẫn cộng tác thơ với tạp chí Tiền Phong ở Sài Gòn. Nhưng về sau, cô không còn tiếp tục nữa. Tập thơ Cởi Mở bị thất lạc vào năm 1975, khi cô dọn nhà về Sài Gòn, do cuộc mưu sinh.
Trở lại câu chuyện hiện nay. Năm 2005, chúng tôi được biết nhạc sĩ Phạm Duy về nước và qua anh bạn Linh Phương, - tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em cũng được Phạm Duy phổ nhạc - chúng tôi mới gợi ý với cô: nên chăng, cần cho Phạm Duy và bạn đọc hiện nay biết về tác giả Thuyền Viễn Xứ. Sau đó, chúng tôi và Phạm Duy trao đổi vắn gọn bằng thư. Nhạc sĩ Phạm Duy có trả lời, nhưng riêng Huyền Chi thì giữ ý không muốn gặp nhạc sĩ. Những năm gần đây, cô gởi cho chúng tôi một số bài thơ cô mới sáng tác.
Bây giờ tác giả Thuyền Viễn Xứ chẳng còn trẻ. Chồng nữ sĩ đã mất, nữ sĩ đang sống với các con ở Sài Gòn, hằng ngày dạy kèm tiếng Anh cho các cháu trong xóm. Nhạc sĩ Phạm Duy vừa ăn mừng lễ khánh thọ cửu tuần. May mắn là những người trong cuộc vẫn còn tại thế, nhưng hai người gặp nhau chỉ một lần qua tinh thần tập thơ Cởi Mở, chứng tích là bài Thuyền Viễn Xứ.
Nhắc lại chuyện này chỉ để giúp bạn đọc biết thêm đôi nét đan thanh của một tác phẩm, qua hơn nửa thế kỷ chưa nhuốm bụi thời gian.
Nhân đây chúng tôi cần xác minh: Huyền Chi và Hà Huyền Chi là hai nhà thơ riêng biệt. Người ta hay nhầm lẫn vì trong bút danh, có trùng hai chữ “Huyền Chi“. Ông Hà Huyền Chi là tác giả nhiều bài thơ trong quân đội Sài Gòn, thuộc chế độ cũ. Còn Huyền Chi, tác giả bài thơ Thuyền Viễn Xứ là phụ nữ.
Vừa qua, có người nghe ca sĩ Ánh Tuyết hát bài Thuyền Viễn Xứ, mà MC giới thiệu là thơ của Hà Huyền Chi (!). Bài viết này đã được tác giả Thuyền Viễn Xứ thông qua và nhất trí. Xin cám ơn nữ sĩ Huyền Chi."
Nguyễn Phước Thị Liên- Nguồn: Nguyễn Phước Thị Liên , My.Opera.com
* * * Phạm Duy viết:
"Trước khi gần một triệu người sẽ di cư vào miền Nam và ai cũng sẽ đều nhớ tới cảnh vật, sự việc và con người của thôn quê miền Bắc, tôi làm quen với một cô em bán vải ở Chợ Bến Thành tên là Huyền Chi. Cô ''Bắc Kỳ nho nhỏ'' này có một bài thơ nhớ quê hương cũ nhan đề THUYỀN VIỄN XỨ và đưa cho tôi phổ nhạc...
Bài thơ này nói lên tâm trạng một người phải rời bỏ bến Đà Giang ở miền Bắc để đi vào miền Nam và nói lên sự hoài hương, nhớ miền viễn xứ... Bài thơ trở thành bài hát và được phổ biến trong thời gian người Bắc ùn ùn di cư vô Nam nên ai cũng muốn hát nó, muốn nghe nó..."
Thuyền Viễn Xứ Nhạc: Phạm Duy Thơ Huyền ChiTrình bày: Lệ Thu Chiều nay sương khói lên khơi Thùy dương rũ bến tơi bời Làn mây hồng pha ráng trời Sóng Đà giang, thuyền qua xứ người
Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa Một lần qua dạt bến lau thưa Hò ơi, giọng hát thiên thu Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về
Nhìn về đường cố ly, cố lý xa xôi Đời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồi Quay lại hướng làng, Đà giang lệ ướt nồng Mẹ già ngồi im bóng Nỗi tiếc thương mong con bạc lòng
Chiều nay gửi tới quê xưa Biết bao là thương nhớ cho vừa Trời cao chìm rơi xuống đời Biết là bao sầu trên xứ người
Mịt mờ sương khói lên hương Lũ thùy dương rũ bóng bên sông Chiều nay trên bến muôn phương Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường.
Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nom sạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương. Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả Phạm Duy viết như sau:
"Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ...".
Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.
Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Nguồn: Thuyền Viễn Xứ - Nhạc Phạm Duy- Tiếng hát Lệ Thu.
Durbuy là một thành phố và đô thị ở tỉnh Luxembourg. Ngày 1 tháng 1 năm 2007 đô thị này có 10.633 dân. Tổng diện tích là 156,61 km², với mật độ dân số 67,9 người trên mỗi km².
Trong thời kỳ Trung cổ, Durbuy đã là một trung tâm công thương nghiệp quan trọng. Năm 1331, thị xã được nâng thành thành phố bởi John I, Công tước Luxemburg, và vua Bohemia.
Ngành du lịch và giải trí là hoạt động chính ở đây.
Au nord de la province de Luxembourg, la commune de Durbuy jouxte la province de Liège au nord et la province de Namur à l'ouest. La commune s'étend sur quatre régions naturelles de Belgique : le Condroz, la Famenne, la Calestienne et l'Ardenne. Baignée par l'Ourthe
et logée dans un écrin naturel remarquable, le site de la vieille ville
est au diapason du paysage qui l'entoure. La parcourir à pied ou en
attelage, déambuler dans le dédale des ruelles médiévales permet d'en
saisir tout le charme.
Durbuy est sur la « ligne de l'Ourthe » des chemins de fer (gares de Bomal et Barvaux), reliant Liège à Marloie.
Relativement à l'écart des grands axes routiers, Durbuy a transformé ce
handicap potentiel en atout touristique : la commune constitue une
sorte d'îlot aux paysages préservés, favorable au développement d'un
environnement de qualité. Durbuy est accessible par trois grands axes
routiers :
Les premières traces d'occupation humaine à Durbuy remontent au Paléolithique (Magdalénien). Depuis le début du XXe siècle,
plusieurs grottes ont été fouillées : grotte du Coléoptère à Juzaine
(Bomal), grotte de la Préalle à Heyd, grotte de Hohière à
Villers-Sainte-Gertrude, grotte de Verlaine (connue sous le nom de Trou
des Nutons).
Au début du IIIe millénaire, un ensemble de monuments mégalithiques est érigé sur les plateaux au-dessus de l'Aisne. Aux environs de Wéris, le plus riche champ mégalithique de Belgique s’étire sur environ 8 kilomètres de long et 300 mètres de large ; il est constitué de deux dolmens et allées couvertes avec des menhirs et six sites comprenant uniquement des menhirs.
Période romaine
La région de Durbuy se trouvait sur le passage de la voie romaine reliant Tongres à Arlon : la voie descendait de Tongres à travers le Condroz, devait passer l'Ourthe à Grandhan avant de s'enfoncer en Ardenne. Les traces archéologiques de cette période sont rares ; cependant, la proximité du vicus de Vervoz place la région de Durbuy dans le rayonnement d'un centre économique et religieux qui se développe à partir du Ie siècle.
Moyen âge
L'origine de la « Terre de Durbuy » est étroitement liée à la création de la paroisse primitive de Tohogne. Sur le site d'un sanctuaire sans doute antérieur, Tohogne fait partie des paroisses fondées par les Carolingiens au VIIIe siècle.
Le ressort de la paroisse de Tohogne s'étendait à une vingtaine de
villages et hameaux sur un territoire correspondant approximativement
aux limites actuelles de la commune de Durbuy. Cet ensemble important
est placée sous la titulature de saint Martin. Au IXe siècle, lorsque les paroisses sont rassemblées en doyennés, Tohogne est rattachée au doyenné d'Ouffet et dépend spirituellement du diocèse de Liège.
Vers l’an 1000, la terre de Durbuy est un alleu du duc Gothelon Ier de Lotharingie, fils de Godefroid le Captif,
descendant de la puissante famille d’Ardenne-Verdun. Sa fille Ragelinde
reçoit l’alleu de Durbuy au partage des biens allodiaux et l’apporte en
dot au comte Albert II de Namur. C'est en cette première moitié du XIe siècle qu'une importante transformation domaniale survient : le centre seigneurial est transféré de Tohogne
à Durbuy, où se construit un château, au centre du domaine, à un point
de passage sur l'Ourthe. Tohogne reste cependant la seule paroisse du
domaine, et l'église Saint-Martin est reconstruite à la même époque : le
nouvel édifice est vaste, et sa tour massive joue sans doute un rôle
défensif coordonné avec le nouveau château dans la vallée de l'Ourthe. Le fils aîné d’Albert II et Ragelinde devient en 1063 le comte Albert III de Namur ; il hérite également du comté de Laroche. Son frère cadet devient le comte Henri Ier de Durbuy et meurt après 1097. Henri Ier est cité comme Come Henricus de Dolbui castello (le comte Henri du château de Durbuy, mention écrite de 1078). Son fils devient le comte Godefoid Ier
de Durbuy. À sa mort (avant 1124), son fils devient le troisième comte
sous le nom de Henri II de Durbuy. Il meurt très jeune (vers 1147). Le comté de Durbuy passera à son cousin, Henri IV de Luxembourg, dit Henri l'Aveugle.
Durbuy, cœur de la « Terre de Durbuy » est à partir du XIIe siècle chargée de la défense du territoire des comtes de Luxembourg face aux voisins et rivaux qu'étaient la principauté épiscopale de Liège et la principauté abbatiale de Stavelot-Malmedy.
C'est ainsi qu'on y trouve un château, construit sur un promontoire
rocheux ceinturé par l'Ourthe, et une enceinte protégeant le château et
le bourg qui s'était développé au pied de celui-ci.
Au décès de Henri l'Aveugle en 1196, sa fille Ermesinde hérite des comtés de Luxembourg, de Durbuy et de Laroche. La comtesse Ermesinde meurt en 1247 : son fils aîné Henri V le Blond hérite des comtés de Luxembourg, d'Arlon et de Laroche. Son fils cadet Gérard devient comte de Durbuy. En 1304, après la mort de Gérard, ses deux filles abandonnent leurs droits sur Durbuy à leur cousin Henri VII, comte de Luxembourg. À la mort de Henri VII en 1313, son fils Jean Ier, roi de Bohême, hérite du comté de Luxembourg.
Durbuy acquiert son statut de ville en 1331, quand le roi Jean Ier de Bohême,
comte de Luxembourg, octroie aux bourgeois de Durbuy des privilèges
consignés dans une charte de franchise. Cette faveur fut accordée non
parce que Durbuy était une agglomération importante, mais parce qu'elle
était un centre de commerce et de justice. En effet, Durbuy se situait
alors à la frontière nord du Luxembourg et était à ce titre susceptible
de subir des attaques étrangères. Cependant, seule une ville pouvait
disposer d'une armée, pour cette raison et afin d'éviter de devoir
multiplier des déplacements de troupe dans le nord, le roi Jean Ier de Bohême donna à Durbuy le titre de ville. En 1332, Jean de Bohème accorde les mêmes privilèges que Durbuy à Bastogne et à Laroche. En 1342, Jean de Bohème engage le château et la terre de Durbuy à Walram de Juliers, archévêque de Cologne, et à son frère Guillaume V, comte de Juliers. Jean de Bohème meurt le 26 août 1346, à la bataille de Crécy. Son fils Charles IV,
devenu roi des Romains et de Bohême, comte de Luxembourg, hypothèque
une partie de son héritage, dont le château et la ville de Durbuy. En
1349, il vend Durbuy et son château à l'évêque de Liège, Englebert III de La Marck. En 1354, Charles IV élève son demi-frère Venceslas au titre de duc de Luxembourg. Le duc Venceslas Ier de Luxembourg rembourse la dette contractée envers le prince-évêque de Liège et récupère Durbuy et son château. Le duc Venceslas meurt à Luxembourg le 8 décembre 1383 et est inhumé dans l'abbaye d'Orval : son neveu Wenceslas Ier du Saint-Empire devient duc de Luxembourg. En 1411, le duché de Luxembourg mis en gagère comme dot à l'occasion du mariage de Elisabeth de Goerlitz, nièce de Wenceslas Ier du Saint-Empire : elle épouse Antoine de Bourgogne, le frère de Jean sans Peur, duc de Bourgogne. En 1441, Élisabeth de Goerlitz est criblée de dettes et vend le duché de Luxembourg au duc de Bourgogne Philippe le Bon, neveu de son premier mari Antoine de Bourgogne. Philippe le Bon incorpore le duché de Luxembourg dans les Pays-Bas bourguignons.
Temps Modernes : les seigneurs de Durbuy
Du XVe siècle au XVIIIe siècle, Durbuy suit le sort du duché de Luxembourg : bourguignonne, espagnole, française, autrichienne, hollandaise, la terre de Durbuy et le château sont mis en gagère par les maîtres successifs du duché de Luxembourg. La famille d'Ursel entre en possession du château au début du XVIIIe siècle et lui donne sa forme actuelle lors d'une reconstruction en 1731 et d'une importante restauration en 1880-1882.
Origine du nom
L'origine du nom Durbuy pourrait être prélatine, soit un composé celtique duro-bodion, « l'habitation près de la forteresse ».
Héraldique
La ville possède des armoiries.
Blasonnement :D’argent à cinq trangles d’azur, au lion de gueules brochant sur le tout ; l’écu timbré d’une couronne d’or à cinq fleurons.
Source du blasonnement :Lieve Viaene-Awouters et Ernest Warlop, Armoiries communales en Belgique, Communes wallonnes, bruxelloises et germanophones, t. 1 : Communes wallonnes A-L, Bruxelles, Dexia, 2002.
Monuments et sites de Durbuy
Vue d'ensemble sur la ville, le parc des topiaires et le château.
Durbuy abrite plusieurs monuments et sites qui témoignent des
différentes périodes de son histoire. Plusieurs d'entre eux ont fait
l'objet d'un classement (en tout ou en partie) par la Division du Patrimoine de la Région wallonne. Deux ensembles sont classés au Patrimoine majeur de Wallonie : l'Ancienne Halle (Halle aux blés) à Durbuy et le site archéologique du dolmen de Wéris (les Mégalithes du domaine de Wéris).
Le château de Durbuy : reconstruit en 1731 sur les ruines de
l’ancien château, l’édifice actuel est le résultat d'une reconstruction
au XVIIIe siècle puis d’une importante restauration effectuée en 1880-1882 par la comtesse d’Ursel.
L'église Saint-Nicolas : commencée en 1630 et consacrée en 1643,
l’actuelle église Saint-Nicolas de Durbuy était à l’origine l’église du
couvent des Récollets
de Durbuy, fondé en 1629 par Laurent le Jeune, chanoine puis doyen de
la collégiale Notre-Dame de Maastricht. Le couvent des Récollets est
supprimé en 1796, l’église devient paroissiale en 1810 et prend de titre
de Saint-Nicolas. Avec près de 40 mètres de long, l’église des
Récollets est le plus vaste lieu de culte de la terre de Durbuy jusqu’à
la fin du XVIIIe siècle. Elle abrite des fonts baptismaux du XVIe siècle et jouxte l'ancien couvent des Récollets.
La Halle aux blés : mentionnée dès 1380, la halle date dans son état actuel du XVIe siècle
(vers 1530-1540). Parmi un ensemble homogène et pittoresque de maisons
anciennes, la halle se distingue par son pignon à colombage. Elle
témoigne de la prospérité de Durbuy à cette époque, grâce au
développement de la métallurgie. Tout à la fois marché couvert et maison
de la magistrature, elle tenait le rôle de « maison communale » : la
Haute Cour, la Cour féodale et la Cour d’échevinage de Durbuy s’y
réunissaient. Le bâtiment actuel (classé le 23/11/1976) est superbement
restauré et accueille des expositions culturelles.
Kayaks sur l'Ourthe à Durbuy et église Saint-Nicolas de l'ancien couvent des Récollets
Moteur de l'économie locale au XIXe siècle et au début du XXe siècle,
l'agriculture et l'artisanat conservent une place importante en termes
d'emplois indépendants. Cependant, la qualité des terres ne permettant
pas le développement d'une agriculture de haut rendement, Durbuy s'est
tourné depuis quelques dizaines d'années vers le secteur tertiaire, et
plus particulièrement le tourisme. Aujourd'hui, le pôle Durbuy-Barvaux
est devenu la première destination touristique de Wallonie : en saison,
la population temporaire de la commune peut atteindre 30,000 personnes.
Ce succès est lié au patrimoine naturel et culturel des villages de la
commune, à la remarquable qualité du paysage (resté à l'abri des grands
axes routiers), à une infrastructure d'accueil adaptée (hôtels,
campings, centres de tourisme social, gîtes et chambres d'hôtes). Deux
attractions touristiques à Durbuy connaissent un succès remarquable : le Labyrinthe de Barvaux
(environ 70,000 visiteurs par été) et la société Durbuy Adventure
(environ 100,000 personnes par an, vacanciers mais aussi incentives pour
entreprises). L'importance de ce pôle d'attraction touristique est
manifeste : Barvaux accueille la Maison du Tourisme du Pays d'Ourthe et
Aisne, qui regroupe les communes de Durbuy, Érezée, Hotton, Manhay et Rendeux.
L'activité commerciale de la commune est regroupée dans les trois centres urbains : Barvaux, Bomal et Durbuy concentrent la plus grande partie des activités tertiaires.
Le Golf de Durbuy est en fait situé sur la section de Barvaux-sur-Ourthe.
Une bière artisanale, la Durboyse, est commercialisée à Durbuy et aux alentours. Une autre, la Marckloff est produite et vendue exclusivement à la microbrasserie La Ferme au Chêne située au centre de Durbuy.
Rob Vanoudenhoven,
ancien présentateur à la télévision néerlandophone, a produit une
chanson consacrée à la ville et sa région wallonne lors d’une des
émissions humoristique De XII Werken van Vanoudenhoven, la vidéo de celle-ci a été rediffusée et popularisée sur internet.
En octobre 2007, la Commission européenne
a désigné la commune de Durbuy « Destination touristique rurale
européenne d'excellence 2007-2008 », récompensant ses efforts en matière
de développement touristique durable
Gérald Tron, aquarelliste français spécialisé en hyperréalisme a
vécu 18 ans sur la commune de Durbuy (à Bomal, ensuite à Barvaux, et
finalement à Warre Tohogne). Sa rencontre avec le peintre Roger Hanotiau
fut déterminante dans le choix de son style.
↑Jean Germain, Guide des gentilés : Les noms des habitants en Communauté française de Belgique, Bruxelles, Ministère de la Communauté française, 2008 (lire en ligne [archive]), p. 64.
Terre de Durbuy, catalogue d'exposition, Durbuy, Halle aux
Blés, 20 août–26 septembre 1982, Ministère de la Communauté française,
Direction générale des Arts et des Lettres, Administration du Patrimoine
Culturel.
Votre commune à la loupe. Profil socio-économique de la province de Luxembourg, Idelux, Association intercommunale pour le Développement économique durable de la province de Luxembourg, Édition no 2, 2009.