Sep 4, 2011

Từ Công Phụng – 50 Năm Tình Ca, Một Lần Nhìn Lại






Từ Công Phụng – 50 Năm Tình Ca, Một Lần Nhìn Lại
Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2011-09-02

Nhạc sĩ Từ Công Phụng mới tổ chức chương trình kỷ niệm 50 năm, đánh dấu một chặng đường dài những sáng tác về chủ đề tình yêu của ông tại thành phố Portland, tiểu bang Orgeon, Hoa Kỳ.

Chiều nhạc Từ Công Phụng – 50 Năm Tình Ca, Một lần nhìn lại diễn ra đêm 28/8/2011 tại thành phố Portland, tiểu bang Orgeon, Hoa Kỳ
Trước hết tôi phải tự nhận mình là một người may mắn khi có cơ hội được trực tiếp đưa tin về chương trình nhạc thính phòng “Từ Công Phụng - 50 năm tình ca, một lần nhìn lại” của ông. Do cơn bão Irene nên tôi phải bay sớm hơn một ngày từ Washington, DC và có mặt tại thành phố Portland từ tối hôm thứ sáu. Nhà nhạc sĩ Từ Công Phụng chỉ cách sân bay khoảng hơn 10 phút đi taxi. Ra mở cửa đón tôi là bà Kim Ái, vợ nhạc sĩ Phụng.
Căn nhà của nhạc sĩ Phụng không lớn lắm nhưng rất ấm cúng, ông bà đã chọn nơi này vì đây là nơi mà 2 người đã gắn bó hơn 30 năm qua, nơi mà 10 người con của ông bà đã lớn lên và cũng là nơi mà 2 vợ chồng gắn chặt như quê hương thứ hai của mình.
Điều làm tôi khá ngạc nhiên là biết chú mới qua bạo bệnh, tôi tự nghĩ chắc ông già và ốm yếu lắm, nhưng trái lại, trước mắt tôi, nhạc sĩ Phụng trẻ hơn tuổi 70 rất nhiều và mái tóc thì rất đẹp, đen và dày. Ông cười trêu tôi, tôi phải nhuộm tóc đen để trẻ giống Vũ Hoàng chứ. Gương mặt rất hiền từ và thân thiện. Ông nói chuyện vừa phải, dí dỏm và mỗi lời ông nói, tôi tự nhận thấy như một triết lý, với sự chắt chiu của một người đã quá từng trải và mới bước qua cửa sinh tử để trở về.
Tôi được biết đến nhạc của nhạc sĩ Từ Công Phụng từ nhỏ, nhưng hồi đó chỉ biết nghe là nghe, mà không thưởng thức được hết cái hay, cái đẹp trong nhạc của ông như bây giờ.
Tôi cũng may mắn được dự một số chương trình ca nhạc trước đây, nhưng buổi nhạc thính phòng lần này là một trải nghiệm vô cùng đặc biệt.
Tạ ơn đời ...

Ajouter une image
Ajouter une vidéo

Từ trái sang: Nhạc sĩ Đăng Khánh, Nhạc sĩ Từ Công Phụng và Nhạc sĩ Nguyên Bích.
Photo by Vũ Hoàng/RFA

Đặc biệt ngoài lý do là buổi nhạc đánh dấu 50 năm, một chặng đường sáng tác nhạc của nhạc sĩ Từ Công Phụng – người đã có những đóng góp rất lớn vào dòng nhạc tình ca Việt Nam; mà đây còn được xem như một lần tri kỷ của nhạc sĩ Từ Công Phụng đến những người đã sát cánh cùng ông qua những tháng ngày bạo bệnh, lời tạ ơn của ông đến người vợ và các con cháu và hơn hết là lời cám ơn của ông đến cuộc đời, đã cho ông thêm một cơ hội, để lại tiếp tục cống hiến cho con đường nghệ thuật tình ca mà ông đã chọn từ nửa thế kỷ qua.

Buổi nhạc là dịp đoàn tụ của giới văn nghệ sĩ đến từ mọi miền Hoa Kỳ gặp mặt, như nhà thơ Du Tử Lê, nhà thơ Linh Vũ, nhạc sĩ Đăng Khánh, nhạc sĩ Nguyên Bích, nhà văn Bích Huyền…
Chương trình nhạc thính phòng bắt đầu vào lúc hơn 2 giờ chiều chủ nhật ngày 28/8, nhưng trước đó khoảng 30 phút, khán phòng hơn 600 chỗ ngồi đã chật kín khán giả, người nghe nhạc ngoài việc đến thưởng thức dòng nhạc sang trọng, tinh tế và có phần kén người nghe, thì họ còn đến để chúc mừng sự trở về của nhạc sĩ Phụng, ai cũng háo hức được gặp mặt, bắt tay, chào hỏi, cười nói rạng rỡ và rất đỗi thân thiện của cộng đồng người Việt tại khu vực Tây Bắc Hoa Kỳ. Tôi tự nghĩ đây là một ngày hội hơn là một buổi nhạc thính phòng đơn thuần.
Chương trình bắt đầu bằng lời mở màn đầy cảm động của nhà thơ Du Tử Lê, cô đọng, súc tích, và sau đó là sự xuất hiện của cô Kim Ái, với hai hàng nước mắt, cám ơn những người ủng hộ cô chú suốt một thời gian dài qua. Tôi liếc nhìn sang hai hàng ghế bên cạnh, cũng rất nhiều các bà, các cô lấy khăn xoa lau nước mắt và đâu đó khẽ vang lên yêu cầu bài hát “Tạ Ơn Em”.
Nhạc sĩ của tình ca
Trong thời lượng kéo dài hơn 5 tiếng đồng hồ, chương trình nhạc thính phòng đã đưa người nghe nhạc quay lại với những bài hát đầu tiên, ghi dấu chân của người nhạc sĩ tài hoa khi mới bước vào con đường tình ca năm 18 tuổi như: Bây Giờ Tháng Mấy qua tiếng hát bay bổng, mượt mà của cặp song ca Trần Thu Hà và Anh Tuấn, tiếp đến là hàng loạt những bài hát đã làm nên tên tuổi ông.
Chương trình đã xâu chuỗi lại một chặng đường dài nửa thế kỷ, những sáng tác bất hủ của ông từ những buổi đầu sáng tác đầy sung sức hồi những năm 1960, 1970 cho đến sau khi ông sang Hoa Kỳ định cư. Trong hơn 20 tác phẩm được chọn lọc kỹ càng, cô đọng và lột tả được gần hết dấu ấn Từ Công Phụng trong dòng tình ca Việt Nam như: Tuổi Xa Người, Kiếp Dã Tràng, Giọt Lệ Cho Ngàn Sau, Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên…người ta còn thấy một số lượng lớn những ca khúc phổ thơ, mà nhiều nhất là của thi sĩ Du Tử Lê.
Chiều nhạc thính phòng thấm đẫm một tình cảm sẻ chia, một sự đồng điệu giữa người nghe và tác giả thông những giai điệu ngọt ngào, tình tứ, lúc thâm trầm sâu lắng, lúc dữ dội cao trào. Chương trình được lồng vào qua lời dẫn của 2 MC trẻ Đại Dương và Uyển Diễm và 2 nhà thơ Linh Vũ và Bích Huyền đã làm cho khán phòng lúc nức nở tiếng cười giao lưu, nhưng cũng có lúc lặng yên đến trào nước mắt.



Phóng viên Vũ Hoàng (ngoài cùng bên trái) tại chiều nhạc hôm 28/8/2011.
RFA photo

Nhận xét về dòng nhạc tình của nhạc sĩ Từ Công Phụng, người bạn thân thiết, nhạc sĩ Đăng Khánh chia sẻ:
"Âm nhạc của Từ Công Phụng vẫn bàng bạc trong bầu không khí chúng ta hít thở hàng ngày từ gần nửa thế kỷ nay. Cho nên tất cả chúng ta, người Việt, đều yêu mến tiếng hát và dòng nhạc của Từ Công Phụng, nhất là tình ca Từ Công Phụng.
Thực tình mà nói, tôi rất quý mến Từ Công Phụng, tôi là một người viết nhạc thành ra mình hiểu được dòng nhạc Từ Công Phụng, tôi thấy đặc biệt câu nhạc rất nồng nàn, nhưng không suồng sã, rất da diết nhưng lại không lụy sầu, đăm chiêu trắc ẩn nhưng không mất đi cái tự tại trong âm nhạc của ông. Khi anh em chúng tôi ngồi phân tích giai điệu với nhau, thì tìm thấy âm nhạc Từ Công Phụng biến dạng, thể cách của giai điệu dài ngắn bất hạn kỳ, lên xuống không hề báo trước, thật ra là rất độc đáo, rất phá chiêu, chỉ riêng một mặt này thôi, trong làng nhạc Việt Nam ít người sánh kịp. Ảo diệu trong giai điệu của Từ Công Phụng nó ở chỗ đó."
Khi anh em chúng tôi ngồi phân tích giai điệu với nhau, thì tìm thấy âm nhạc Từ Công Phụng trong làng nhạc Việt Nam ít người sánh kịp.
NS Đăng Khánh
Trong chiều nhạc thính phòng, ngoài những bản tình ca quen thuộc đã đi theo nhiều thế hệ người nghe, chương trình còn giới thiệu một số bản khá mới, được phổ thơ hoặc mới được sáng tác khi nhạc sĩ Từ Công Phụng thoát khỏi căn bệnh ung thư. Người nghe nhạc không khỏi lặng người khi nghe ca khúc Mắt Em Buồn, phổ thơ Linh Vũ qua tiếng hát Y Phương. Bài hát đã được trình bày hết sức thành công và nhà thơ Linh Vũ đã nói vui, nếu chương trình nhạc này Từ Công Phụng hạnh phúc nhất, thì tôi hạnh phúc nhì vì Y Phương đã thăng hoa trong những ca từ và giai điệu cháy bỏng.
Nhận xét về dòng nhạc Từ Công Phụng, nhà thơ Linh Vũ nhận xét:
"Vâng, đối với tôi thì nhạc sĩ Từ Công Phụng là bạn, và theo tôi nghĩ, với một người nghệ sĩ, thì có những đồng cảm, đồng điệu, cái gì đó quyện lẫn vào nhau. Cho nên, với tôi một nhạc sĩ như Từ Công Phụng có những điểm rất quý mến. Thứ hai là con tim thiên phú, dạt dào tất cả những tình cảm đã làm nên khúc nhạc trầm bổng để dâng hiến cho cuộc đời, đó là một điều mà tôi rất mến phục, đáng để chúng tôi ghi nhớ và vinh danh."
Tạ ơn em...
Trước khi kết thúc, chiều nhạc thính phòng một lần nữa lên đến cao trào, khi nhạc sĩ Từ Công Phụng xuất hiện lần thứ hai với vai trò ca sĩ. Nếu nghe ông hát, ít ai nghĩ, ông mới trở về từ thế giới bên kia. Giọng hát khỏe khoắn, lúc cao vút, lúc thâm trầm, như lời tự sự, như lời tri ân. Tôi dám chắc khi hát lại bài “Tạ Ơn Em” ông đã lấy được rất nhiều nước mắt của người nghe tại khán phòng. Bài hát cuối của ông như một lời nhắn nhủ về một thứ vĩnh cửu trong cuộc sống này, nếu có gì trường tồn thì đó hẳn là tình yêu.
Chiều nhạc thính phòng của nhạc sĩ Từ Công Phụng khép lại trong một bầu không khí đầy chặt tình yêu thương, sự gắn bó, kết nối giữa người nghe và tác giả, những lời cám ơn của nhạc sĩ, những lời chào đón sự trở về của bạn bè, đồng nghiệp và khán giả hâm mộ. Và hơn hết chiều nhạc thính phòng một lần nữa đã đánh thức dậy những trái tim của những đôi lứa đã yêu, đang yêu và sẽ yêu như con đường mà nhạc sĩ Từ Công Phụng đã chọn “Tình Yêu” làm chủ đề duy nhất trong hướng đi của mình suốt 50 qua.




Sep 3, 2011

Ý NGHĨ TRONG NGÀY- NỤ CƯỜI ĐÁNG GÍA .(HÀ GHI) CÂY CÓC CHI ( BÍCH QUY)

   Ý NGHĨ TRONG NGÀY

THOUGHT OF THE DAY
09-03-2011

NỤ CƯỜI ĐÁNG GÍA
HÀ GHI


Hồi đó đọc tin trên báo thấy ở xứ kia có ngày hội thi tìm kiếm " Người Có Nụ Cười Đẹp Nhất Trong Năm "   Giải thưởng lên tới vô giá . Vì hình như nhiều lắm !  Vì nụ cười không mất tiền mua ,mà ai cũng đã có sẵn . Có nhiều khuôn mặt trông rất u sầu , nhưng khi cười lên một phát là thấy xinh đẹp hẳn lên,thay đổi hòan cảnh ngay lập tức . Ai cười thấy cũng xinh . Tôi hay hát có một câu  : Gửi trót đến cố nhân xưa nụ cười    ( Lam Phương ) và có lần tôi đã chỉ cắt có " Nụ Cười " bỏ phong bì gửi về cho các bạn ở VN , làm chúng nó nhận được phài cười quá trời !Đó cũng là một cách Thọc léc , còn gọi là cù cho cười ! 
- Hãy làm cho người ta cười lên, thế giới này có đủ truyện để khóc rồi ! 
- Xin kể câu truyện cười của chính tôi : Lúc còn học lớp Nhất trường Tiểu Học Bàn Cờ, tôi đi học và được mẹ cho đội nón lá , hôm ấy đến cổng trường , nhìn thấy em Bạch Cúc đang đứng quay lưng lại , tay cầm một cây cà rem , tôi bèn lấy cái nón lá của mình , úp lên đầu em như úp cào cào châu chấu ...làm em giật mình rớt luôn cây cà rem , lúc bỏ nón ra : Chết cha không phải là em Bạch Cúc ngồi cạnh tôi, mà là cái em nào lạ hoắc! thế có tai hại không ? 
- Dầu sao cũng chỉ cười trừ !
- Bởi vậy mỗi khi thấy hơi buồn thì cứ nghĩ đến một chuyện gì vui vui mà Cười lên đi cho dzăng dzàng sáng chói ...Nụ cười đáng giá ngàn vàng mà lị !
CÂY CÓC CHI
BÍCH QUY
Chi ơi, Tui thấy cây cóc của bà cao to, xanh tốt như cây cổ thụ. Biết bao giờ cây Cóc Chi của tui mới được như vậy, trong khi tui chỉ trồng nó trong chậu? Tui chẳng mong có quả ăn như cây của bà nhưng mỗi lần tưới tắm cho nó thì tui như thấy có bà bên cạnh và đang tưới cho tình bạn của chúng ta mỗi ngày một xanh tốt hơn. Cũng có lúc nó bị "ốm" lá vàng và rụng rất nhiều nhưng mà tui đã "cứu" được nó và bây giờ đang xanh  tốt lắm rồi. Thời gian ấy tui thấy bà cũng rất bi quan bà có nhớ không? Tui mong bà gặp nhiều chuyện vui để cho cây cóc Chi cũng được vui mà xanh tốt hơn.
  

-- 
Anh Thu


Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và mối tình đầu


- Đoàn Dự ghi chép

Thưa quý bạn, đầu tháng 06/2010, bạn bè ở nước ngoài có mail cho Đoàn Dự một bài của ông Nam Minh Bách ở Virginia, cháu gọi Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bằng bác họ. Thấy bài này có nhiều điểm đặc biệt có lẽ nhiều người chưa biết về vị Nhạc sĩ tài hoa, sáng tác những bản nhạc rất hay, bản nào cũng trở thành bất hủ nhưng rất kín tiếng đó, Đoàn Dự bèn nghiên cứu thêm rồi mạn phép ông Nam Minh Bách thuật lại để quý bạn rõ. Sau đây là lời kể của tác giả Nam Minh Bách với sự đóng góp bổ sung của Đoàn Dự. Xin mời quý bạn thưởng thức.

Dương Thiệu Tước & mối tình thời đi học
Năm 2000, tôi về thăm Hà Nội, bạn bè cho đọc một bài báo trên tờ Công An, bài này đã từng làm dư luận dân chúng Hà Nội lúc đó xôn xao. Nhân dịp năm thứ 5 kỷ niệm ngày vĩnh biệt Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, ông được ca ngợi là một Nhạc sĩ đã có công hòa hợp cổ nhạc và tân nhạc, đặt nền móng cho tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ cho tới ngày nay. Và trong mấy dòng tiểu sử, bài báo đó có nhắc tới mối tình đầu của chàng trai "con cụ Thương tá Hưng Yên Dương Tự Nhu" và nàng con gái con cụ Tổng đốc Hưng Yên Vi Văn Định. Chàng và nàng yêu nhau thắm thiết và hai gia đình đã trao đổi trầu cau, nhưng tình duyên của họ dang dở vì có một chàng trai bằng cấp đầy mình nhào vô, loại được anh chàng Nhạc sĩ tài hoa nhưng lúc đó chưa nổi tiếng này ra khỏi vòng chiến.

Theo báo Công An, con người có diễm phúc chiếm được nàng là chàng bác sĩ tây học từ Paris trở về, họ Hồ Đắc, con của một vị đại thần lớn nhất triều đình Huế.
Sau khi tờ báo tung ra, gia đình Hồ Đắc phản ứng ngay lập tức. Bà Vi Kim Phú - tức Hồ Đắc Di phu nhân, con gái của vị cựu Tổng đốc Hưng Yên và Thái Bình Vi Văn Định ngày trước - nói rằng nhà báo nói láo ăn tiền, bà không hề có chuyện nhận trầu cau, sêu tết hay đính hôn với Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bao giờ cả.
Báo Công An im lặng không trả lời, vì họ Hồ Đắc cả thời Pháp thuộc lẫn thời này vẫn rất mạnh, chính tờ báo này đã từng có bài đề cao Quận công Hồ Đắc Trung - Thượng thư bộ Lễ, "quốc trượng" (bố vợ) vua Khải Định, thân sinh của Bác sĩ Hồ Đắc Di - là nhà chí sĩ ái quốc. Bác sĩ Hồ Đắc Di trước đây là người sáng lập đồng thời cũng là Khoa trưởng Đại Y khoa Hà Nội. Còn "lệnh ái" Hồ Thể Lan - con gái của Bác sĩ Hồ Đắc Di - năm 2000 đang là Vụ trưởng Vụ Báo chí và cũng là vợ của Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng chính phủ CS Hà Nội.
Nhưng tờ báo không xin lỗi, cũng không đính chính, bởi vì họ chỉ lầm có... một nửa. Tổng đốc Vi Văn Định có hai người con gái. Người em là Vi Kim Phú, lấy Bác sĩ Hồ Đắc Di năm 1935 khi mới 17 tuổi. Người chị là Vi Kim Ngọc, lấy Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, từ Pháp về, cưới vào năm 1936, khi nàng 20 tuổi. Báo Công An lầm ở chỗ người trả lại trầu cau cho Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là bà chị, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải bà em, vợ Bác sĩ Hồ Đắc Di. Cả hai chị em đều đẹp lộng lẫy như nhau và đều nổi tiếng Bắc Hà về nhan sắc cũng như về gia thế. Đến năm 1944, một người cháu nội của ông Vi Văn Định tên Vi Nguyệt Hồ, 15 tuổi, được gả cho Bác sĩ Tôn Thất Tùng (sau này làm Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Minh). Năm 1946, khi bà Vi Nguyệt Hồ sinh con trai đầu lòng ở vùng thượng du Bắc Việt, ông Hồ đến thăm và đặt tên là Tôn Thất Bách (sau này cũng là bác sĩ, mới mất tại Hà Nội cách đây hai năm)).

Dân chúng Hà Nội không ai lạ gì ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục 30 năm của chính phủ Phạm Văn Đồng. Hồi thập niên 30, họ gọi ông Nguyễn Văn Huyên và người bạn của ông tên Nguyễn Mạnh Tường là "Nghè Huyên" và "Nghè Tường", vì hai ông đều đậu tiến sĩ bên Pháp.
Báo Công An nói lộn về người nhận trầu cau của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Bà Vi Kim Phú (bà em), phu nhân của cố Bác sĩ Hồ Đắc Di phản ứng. Thiên hạ bàn tán quá vì họ biết người trả trầu cau là bà Vi Kim Ngọc (bà chị), vợ của ông "Nghè Huyên" họ Nguyễn. Đến lượt con cháu họ Nguyễn ra tay. Chỉ con cháu thôi, bởi vì năm 2000 những người trong cuộc đã thành thiên cổ. Bà Nguyễn Kim Hạnh, con gái của ông bà Nguyễn Văn Huyên-Vi Kim Ngọc, xuất bản cuốn sách "Hồi ức về Nguyễn văn Huyên", trong đó có trích những đoạn nhật ký của thân mẫu, tức bà Kim Ngọc:
"Cha mẹ tôi làm đám cưới với nhau vào ngày 12/4/1936. Mẹ tôi ghi lại những ngày đầu quen biết giữa cha và mẹ trong nhật ký như sau:
"Em đi chơi cùng cha mẹ vào Huế, khắp Trung Kỳ rồi Lục tỉnh Cao Mên, Thái Lan... Nhiều khách quốc tế trầm trồ khen ngợi em là giai nhân".
"Đôi ta gặp nhau ở Huế, trong lễ hội Nam Giao. Sau đó em tiếc không từ biệt anh. Khi lên xe, cha đưa thư của anh do anh Toại trao giùm (tức bác Phan Kế Toại, chồng cô Mão là chị của cha tôi - K.Hạnh) cho em xem. Đó là thư cầu hôn giữa anh và em ".
"Sau đó bà ngoại mấy lần nhận điện từ Hà Nội gửi vào cầu hôn.Khi có thư trực tiếp của anh viết cho ông ngoại gửi lời thăm em "người đáng yêu nhất" thì em mới nhận lời cho nhà trai xuống Thái Bình cầu hôn".
Tác giả Kim Hạnh ghi tiếp:
"Mẹ tôi kể là năm mẹ tôi 16 tuổi, ông ngoại tôi nhận lời gả mẹ tôi cho người họ Dương Thiệu. Năm 19 tuổi, khi biết điều này, mẹ tôi nhất định đòi ông tôi phải trả lại sêu tết ba năm. Vì mẹ tôi không chấp nhận cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Mẹ tôi ghét cay ghét đắng chuyện năm thê bảy thiếp trong chế độ phong kiến".
"Năm 1977, sau khi cha tôi mất được 2 năm, mẹ tôi viết: "Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh là quyết chọn người tài đức mới trao thân. Nếu không gặp được nam nhi hào hùng đó thì ở một mình suốt đời. Thế mà em đã mãn nguyện".
Và trang sau, nhật ký nhắc tới Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước:
"Năm 1976, được tin của một người bạn cũ ở Đà Lạt nói rằng có gặp ông Dương Thiệu Tước và vợ của ông là bà Minh Trang lên chơi Đà Lạt".
Đoạn này rất sơ lược, hình như vô tình nhớ tới thì ghi nhật ký vậy thôi, không có gì quan trọng.
Trong cuốn "Hồi ức về Nguyễn văn Huyên", nói về Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, tác giả Kim Hạnh ghi: "Bác Tước là cháu nội cụ Nghè Dương Khuê, chúng tôi thường gọi là bác Cả Tước, không thể ví với người đã đậu Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, Bộ trưởng Giáo Dục 30 năm. Năm 1954, bác di cư vào trong Nam, làm chủ sự Ban Âm nhạc Đài Phát thanh Sài Gòn, cả đời sống thanh bạch và rất lương thiện".

Rất rõ, như vậy người quen biết Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là "bà chị" Vi Kim Ngọc, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải "bà em" Vi Kim Phú, vợ của Bác sĩ Hồ Đắc Di. Bây giờ chúng ta thử xem xét về vị Nhạc sĩ tác giả Đêm Tàn Bến Ngự, Ơn Nghĩa Sinh Thành..., nhất là bản Ngọc Lan được ông sáng tác với nhiều kỷ niệm. Ông thường giải thích với các ca sĩ là hai chữ Ngọc Lan viết hoa, nhưng ít người hiểu, đa số đều nghĩ rằng ông ca ngợi loài hoa ngọc lan.

Tiểu sử Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1915-1995) quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là một quận của Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học tỉnh Nam Định, tác giả bài hát nói "Hồng Hồng Tuyết Tuyết" danh tiếng, đến nay các nghệ sĩ hát ả đào vẫn còn sử dụng. Và ông cũng là bác ruột của Nhạc sĩ Dương Thụ hiện nay.
Thuở nhỏ ông học tại Hà Nội. Trong thập niên 1930, ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa Lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh... Dương Thiệu Tước cũng là người có sáng kiến soạn "nhạc Tây theo điệu ta". Những nhạc phẩm đầu tay của ông thường viết bằng tiếng Pháp. Mặc dầu theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm tinh thần dân tộc. Trong một tác phẩm viết tay, ông ngỏ ý: "Theo tôi, tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền".
Ông di cư vào Nam năm 1954. Tại Sài Gòn, ông làm chủ sự Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn, đồng thời được mời làm giáo sư dạy Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau năm 1975, nhạc của ông bị cấm và ông cũng không được dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc nữa.
Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là bà Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Đầu thập niên 1980, ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh, có một con với bà này và được bà chăm sóc chu đáo.
Ông mất ngày 01 tháng 08 năm 1995 tại Sài Gòn. Gần đây, sau thời kỳ đổi mới, nhạc của ông đã được lưu hành lại trên khắp nước Việt Nam và ông rất được ca ngợi.
Các sáng tác nổi tiếng của ông gồm: Áng Mây Chiều, Bến Xuân Xanh, Bóng Chiều Xưa, Cánh Bằng Lướt Gió, Chiều (phổ thơ Hồ Dzếnh), Đêm Tàn Bến Ngự, Kiếp Hoa, Ngọc Lan, Ôi Quê Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành, Thuyền Mơ, Tiếng Xưa, Ước Hẹn Chiều Thu.

Mối tình đầu
Năm đó là đầu thập niên 1930, ở tỉnh lỵ Hưng Yên, chàng 18 tuổi và nàng 17 tuổi. Chàng là con cụ Thương tá Dương Tự Nhu, sau này lên Bố chánh (coi về hành chánh; còn tổng đốc thì trông coi toàn bộ, cả dân sinh, an ninh lẫn các quan lại trong tỉnh; Bố chánh tương đương với phó tỉnh trưởng hành chánh - ĐD), và nàng là con cụ Tổng đốc Vi Văn Định. Tư dinh hai nhà gần nhau, phía trước là một chiếc hồ rộng lớn, ngăn đôi bởi một con đường nhỏ, hai bên hồ thông nhau bằng một con lạch, có một chiếc cầu gỗ vồng cao lên bắc ngang qua, sơn màu đỏ. Quang cảnh rất tĩnh mịch, rất nên thơ, nhất là khi có ánh trăng êm dịu tỏa xuống.
Chiếc cầu đỏ trên hồ là nơi trẻ con vui chơi, câu cá khi bãi trường. Chàng học ở Hà Nội. Nàng học tại tỉnh nhà. Hai dinh thự gần nhau, mỗi lần chàng về, họ gặp nhau. Nàng đang tuổi dậy thì, cực kỳ xinh đẹp, còn chàng thì khôi ngô tuấn tú, đang học trung học, cháu nội của cụ nghè Dương Khuê, sử dụng được 7 loại nhạc cụ kể cả nhạc "Tây" lẫn nhạc "ta", trong đó thông thạo nhất là Tây Ban Cầm (Guitare) và Hạ Uy Di Cầm (Guitare Hawaienne), lại hát rất hay, có tiếng ở Hà Nội.
Việc gì xảy ra là phải xảy ra, chàng và nàng yêu nhau thắm thiết với sự trong trắng và bồng bột của mối tình đầu. Họ Vi biết rõ cậu cả cháu nội cụ Dương Khuê này, gia đình quan Bố chánh Dương Tự Nhu bèn đem trầu cau sang đính ước.
Nhưng mối tình trong sáng đó có những đám mây đen kéo tới. Nhà gái dần dần biết Dương học Tú tài chỉ là phụ mà việc Dương ưa thích nhất là học âm nhạc tại trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient tại Hà Nội, cùng với Nguyễn Xuân Khoát. Khoát chuyên về Dương cầm, còn Dương chuyên về Tây Ban Cầm. Đồng thời, bà mẹ vợ tương lai với trực giác nhạy cảm của phụ nữ cũng nhận ra nguy cơ cho con gái: anh chàng này đẹp trai quá, đàn hát lại hay, sẽ là một tai họa cho con mình.
Trong khi đó, trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient sau ba năm hoạt động phải đóng cửa vì kinh tế khủng hoảng, Dương lâm vào cảnh dang dở. Phía bên nhà gái có những bà đã bắt đầu chê bai: "Cậu Tước mặt mày sáng rỡ, đẹp trai như Phan An Tống Ngọc mà chỉ có bằng Diplôme, thi rớt Tú tài".
Rồi họ Vi chuyển từ Hưng Yên sang làm Tổng đốc Thái Bình. Xa mặt cách lòng, đúng lúc ấy thì "nghè Huyên" có sự gặp gỡ. Và rồi, ngày 14-02-1936 nàng lên xe hoa về nhà chồng. Lúc ấy nàng 20 tuổi còn chàng 21 tuổi.

Chàng buồn, bèn đem tâm hồn mình viết thành bản nhạc "Ngọc Lan" bất hủ (xin nhắc lại: nàng tên Vi Kim Ngọc): Ngọc Lan, dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song... Nhưng mãi tới năm 1953 bản nhạc này mới được xuất bản và phổ biến rộng rãi với giọng ca Thái Thanh tại Hà Nội.
Nói tóm lại, chàng sinh năm 1915, yêu nhau năm 1934, tan vỡ năm 1935, nhìn người yêu đi lấy chồng năm 1936, lúc ấy chàng 21 tuổi. Còn nàng, sinh năm 1916 (kém chàng 1 tuổi), yêu nhau năm 17 tuổi và lấy chồng năm 20 tuổi.

Suy cho cùng, hôn nhân có lẽ là do duyên số nhưng một người tính tình nghệ sĩ, không coi trọng bằng cấp như Dương Thiệu Tước, giả sử nếu lọt vào làm rể gia đình ông Vi Văn Định thì cũng khó sống. Ông là người Nùng, con trai của quan Tri châu Vi Văn Lý. Đối với người dân tộc thiểu số, quan Tri châu cũng giống như "ông vua" ở vùng thượng du. Họ kính trọng ngài và tuân lời ngài răm rắp chứ không cần biết Toàn quyền Pháp hay triều đình Huế là ai cả. Ngoài ra, chức vị này có tính cha truyền con nối. Khi Vi Văn Lý qua đời, Vi Văn Định nối nghiệp và được Pháp chuẩn y cho giữ chức Tri châu. Nhưng Vi là "ông trời con", dân chúng người Tày, người Nùng cả vùng Cao Bằng, Lạng Sơn vừa sợ vừa coi ngài như ông thần. Ngài lập rất nhiều chiến công cho... thực dân Pháp: dẹp giặc nổi loạn, đánh giết nghĩa quân yêu nước chống Pháp... Công lao và uy tín mỗi ngày một lớn, người Pháp sợ nếu cứ để như thế, e rằng ngài sẽ xưng hùng xưng bá, chiếm riêng cho mình vùng thượng du hiểm trở để lập triều đình theo kiểu Nùng Trí Cao ngày trước thì rất nguy hiểm. Bởi vậy họ "điệu hổ ly sơn", thăng chức cho ngài, đưa ngài về làm tổng đốc các tỉnh đồng bằng để ngăn ngừa hậu hoạ. Bây giờ chúng ta thử xem sau khi về dưới xuôi, ngài vẫn "hét ra lửa" như thế nào và lý do tại sao sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu v.v... đều bị giết chết, còn ngài, một tên đại Việt gian, đại tàn ác như thế mà vẫn tồn tại mãi đến năm 1975, khi ngài 96 tuổi (ngài sinh năm 1879, mất cùng năm với ông con rể lớn Nguyễn Văn Huyên).

Cụ Đặng Hữu Thụ, nguyên Chánh thẩm Tòa Thượng thẩm Sài Gòn trước năm 1975, hiện định cư tại Pháp, quê ở làng Hành Thiện, Nam Định, kể:
"Vi Văn Định là người Nùng, làm Tổng đốc Hưng Yên, sau đó làm Tổng đốc Thái Bình, nổi tiếng hống hách nên dân chúng rất sợ. Vi bắt quan lại dưới quyền phải cởi giày để ở ngoài văn phòng mỗi khi vào ra mắt Vi, phạt chánh tổng, lý trưởng phải ăn bèo tây (bèo lục bình) khi Vi ra lệnh vớt mà sai thời hạn hoặc vớt không hết, vẫn còn sót lại ở các sông ngòi (bèo lục bình phát triển rất mạnh, nhất là về mùa hè, phải vớt kẻo tắc sông ngòi - ĐD). Vi cấm các hàng rong từ 12:30 đến 14:30 là giờ của Vi ngủ trưa, không được rao hàng khi quẩy gánh hàng qua dinh Vi. Có một anh hàng phở gánh, quên mất luật lệ, khi đi qua dinh, rao lớn, bị Vi ra lệnh cho lính bắt vào, nện cho một trận rồi bắt phải gánh gánh phở đi vòng chung quanh sân dinh, rao từ trưa đến tối mới cho về.
Vi có người con trai là Vi Văn Lê, đang học Luật tại Pháp, là bạn của ông Nguyễn Thế Truyền, đảng viên đảng Việt Nam Độc Lập do ông Tạ Thu Thâu lãnh đạo. Năm 1929, Lê gia nhập đảng Việt Nam Độc Lập. Cây đắng mà sinh trái ngọt chăng?
Khi Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu hưu trí, Vi Văn Định đổi qua thay thế, trong dân gian truyền tụng câu: "Hoàng trùng đi, Vi trùng lại. Suy đi xét lại, Vi hại hơn Hoàng". Hoàng trùng ám chỉ Hoàng Trọng Phu, Vi trùng ám chỉ Vi Văn Định. Hoàng Trọng Phu là con trai Tổng đốc Hoàng Cao Khải và là con rể Tổng đốc Đỗ Hữu Phương ở Nam Kỳ, toàn những tay sai khét tiếng của Pháp cả, nhưng "Vi hại hơn Hoàng" thì chúng ta đủ hiểu Tổng đốc Vi Văn Định đáng sợ như thế nào".

Khi việc cướp chính quyền xảy ra năm 1945, Vi bị Việt Minh bắt nhưng ông Hồ chẳng những không giết mà còn cho tạm lánh trong một biệt thự ở Hà Nội, đãi ngộ như thượng khách chỉ vì Vi là một "ông vua Nùng" mà ông Hồ và đảng của ông vẫn còn cần đến. Cũng có người cho rằng sở dĩ ông Hồ tha chết cho Vi, vì Vi là nhạc phụ của hai nhà đại khoa bảng đang phục vụ trong chính phủ Việt Minh là Bác sĩ Hồ Đắc Di (được Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux phong giáo sư) và Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Ngoài ra, Vi còn là ông nội của tiểu thư Vi Nguyệt Hồ, vợ của Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Y tế VM nữa. Bác sĩ Tôn Thất Tùng tốt nghiệp Y khoa tại Pháp, rất nổi tiếng về môn giải phẫu tim và gan.

Những mối tình sau

- Bà Lương Thị Thuần: Sau khi mối tình đầu tan vỡ, Dương rất buồn. Rồi phụ thân Dương Tự Nhu cũng mất sớm, gia đình có bề sa sút. Sau khi hết tang và Dương cũng tạm có công ăn việc làm tại Hà Nội (điều khiển ban nhạc trong các tiệm khiêu vũ và cộng tác với Đài Pháp Á cùng Nguyễn Xuân Khoát), gia đình bèn cưới cho ông người vợ chính thức là bà Lương Thị Thuần, nhưng người ta ít biết về bà này và cũng không hiểu nguyên nhân của sự ly tán. Hiện nay các con của bà đang sống tại Đức và Hoa Kỳ.

- Bà Minh Trang: Tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1921 (kém Dương 6 tuổi) tại Huế. Thân phụ bà là ông Nguyễn Hy, một công chức cao cấp trong Bộ Lại (tương đương với Bộ Nội vụ) của triều đình Huế. Thân mẫu bà là con gái của công chúa Mỹ Lương (thường gọi là Bà Chúa Nhứt), chị cả của Vua Thành Thái.
Trong nhà Bà Chúa Nhứt có riêng một ban nhạc (loại nhạc cung đình) tới mấy chục người và một ban ca Huế. Vì thân phụ thường phải đi công cán xa trong thời gian lâu, có khi đem cả gia đình đi theo nên cô bé Ngọc Trâm thường ở nhà bà ngoại. Nhờ vậy, ảnh hưởng của ca nhạc đã thấm sâu vào tâm hồn cô bé từ thời thơ ấu. Mới bảy tuôåi cô đã thuộc lòng những đoạn ca Huế trong các tiết điệu Nam Ai, Nam Bình, Kim Tiền, Lưu Thủy...
Tuy thân phụ là người Quảng Ngãi nhưng thân mẫu là người Huế, dòng dõi hoàng tộc, nên "tính chất Huế " và "giọng nói Huế" hoàn toàn chiếm hữu con người cô bé Ngọc Trâm. (Chúng ta nên nhớ Dương Thiệu Tước là người Bắc nhưng nhiều tác phẩm của ông, như bản Đêm Tàn Bến Ngự chẳng hạn, mang đặc tính chất Huế thì đủ hiểu ông yêu "người vợ Huế" đó như thế nào).
Thuở nhỏ, Ngọc Trâm theo học tại trường Jeanne d' Arc, một trường dòng danh tiếng ở Huế và bắt đầu làm quen với những phím đàn dương cầm do các sơ dạy đồng thời cũng học hát nữa. Lên trung học, cô theo gia đình ra Hà Nội. Vào khoảng năm 1941, thân phụ trở về nhậm chức tại Bộ Lại ở Huế, cô lại theo về Huế và học tại Lycée Khải Định (sau này, từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, đổi tên là trường Quốc học Huế).
Tại Lycée Khải Định, cô gặp Giáo sư Ưng Quả - thầy dạy môn Văn chương Việt Nam và cũng là người dạy tiếng Việt cho Thái tử Bảo Long. Hai thầy trò tâm đầu ý hợp. Mặc dầu Giáo sư Ưng Quả là người góa vợ, đã có hai con trai, nhưng hai gia đình rất môn đăng hộ đối: cha của Giáo sư Ưng Quả là con trai của Tuy Lý Vương; cha của Ngọc Trâm là con của Diên Lộc Quận công. Hai bên tiến tới hôn nhân và sinh được hai người con, một trai, một gái. Người con trai tên Bửu Minh (vai chú của Vua Bảo Đại) người con gái tên Công tằng Tôn nữ Đoan Trang (tức ca sĩ Quỳnh Giao sau này). Bà Ngọc Trâm dùng tên hai người con ghép lại làm tên trong ngành âm nhạc của mình.
Năm 1951, Giáo sư Ưng Quả đang làm Giám đốc Nha Học chánh Trung Phần thì đột nhiên bị bệnh, qua đời. Bà Minh Trang đem hai con vào Sài Gòn sinh sống và kiếm được chân vừa làm xướng ngôn viên vừa làm biên tập viên tin tức (tiếng Pháp) trong Đài Pháp Á (France-Asie).
Sự việc sau đó bà Minh Trang trở thành ca sĩ hết sức tình cờ. Trong một chương trình ca nhạc hằng tuần của Nhạc sĩ Đức Quỳnh trên Đài Pháp Á, ca sĩ chính không đến hát được, bắt buộc Minh Trang phải "hát giùm" thế chỗ. Bà chỉ thuộc có mỗi một bản nhạc Đêm Đông của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương là tiếng Việt, còn ngoài ra là thuộc tiếng Pháp (bà rất giỏi tiếng Pháp). Mà chương trình của Đức Quỳnh lại là tiếng Việt, vậy là Minh Trang bèn hát "Đêm Đông".
Nhờ giọng ca thiên phú và cái "duyên" bất ngờ nói trên, dần dần Minh Trang trở thành một ca sĩ chính của Đài Pháp Á (sau này là Đài Phát Thanh Quốc Gia tức Đài Sài Gòn). Từ đấy, Minh Trang còn đi hát phụ diễn trên các sân khấu, một dạng trình diễn rất thịnh hành hồi đó tại các rạp chiếu bóng trước khi cuốn phim chính được trình chiếu.
Tiếng hát của Minh Trang bay ra Hà Nội và được các Nhạc sĩ đương thời ngoài đó, như Vũ Thành, Hoàng Giác, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Thiện Tơ v.v... yêu mến và họ thường gởi tác phẩm vào cho Minh Trang hát mặc dầu chưa biết mặt.
Trong một lần Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí tổ chức hội chợ tại Hà Nội, ông mời Minh Trang và nhiều nghệ sĩ khác ra hát với phần nhạc đệm của Ban Việt Nhạc. Người đứng đầu Ban Việt Nhạc là Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, người mà Minh Trang rất ngưỡng mộ. Họ gặp nhau và tiến tới hôn nhân.
Hai nghệ sĩ Minh Trang-Dương Thiệu Tước kết hôn năm 1951 tại Sài Gòn nhưng vẫn sống cách xa nhau cho đến năm 1954, khi ông Dương Thiệu Tước di cư vào Nam, họ sống với nhau. Họ sinh được năm người con, một trai, bốn gái: Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh, Vân Khanh, Vân Hòa, Vân Dung. Cũng như Bửu Minh và Đoan Trang, các con của ông bà đều được theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc với sự dìu dắt của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Sau này, Quỳnh Giao và Vân Quỳnh trở thành ca sĩ. Dương Hồng Phong tốt nghiệp vĩ cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc còn, Bửu Minh thì du học tại Pháp năm 1961 và nay giữ địa vị pianiste chính trong ban đại hòa tấu "Staatsphihlarmonic Rheinland Plalz" của Đức.

Sau biến cố tháng 04-1975, hai cô con gái lớn đã lập gia đình thì theo gia đình nhà chồng ra đi. Ông bà Dương Thiệu Tước và hai cô nhỏ bị kẹt ở lại. Ngoài ra, người con trai duy nhất của ông bà là ông Dương Hồng Phong - được gọi đi sĩ quan Thủ Đức năm 1972 - bị bắt tại mặt trận và cũng đang kẹt trong tù tại Chu Lai. Cùng lúc đó, với số lương 64 đồng/tháng nhưng Giáo sư Dương Thiệu Tước dạy Guitare classique trong trường Âm nhạc-Kịch nghệ (trường QGAN ở đường Nguyễn Du, mới đổi tên) cũng không được dạy nữa, nhạc thì bị cấm, cuộc sống vô cùng khó khăn.

Năm 1978, Thiếu úy Dương Hồng Phong được ra tù, bà nghĩ đến việc phải rời đất nước. Tới chuyến, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước lúc ấy đang ốm nên không thể đi. Tiền bạc có bao nhiêu thì đặt cọc hết rồi, ông đành hy sinh ở lại.
Bà Minh Trang cùng ba con đến Thái Lan vào cuối năm 1979, sau đó được định cư tại Virginia.
Hiện nay, bà và các con ở Quận Cam, riêng Bửu Minh ở Đức và Dương Hồng Phong ở New York.
Năm nay, bà đã 89 tuổi (bà sinh năm 1921) nhưng tương đối vẫn còn khỏe mạnh. Bà nói: "Tôi thích nghe nhạc và theo dõi tin tức thời sự, không cần nấu nướng gì cả, vì các con ở gần "có bát canh cần nó cũng đem cho".
Năm 1995, khi ông mất, bà và mấy người con - kể cả ca sĩ Quỳnh Giao - có về dự đám tang.

- Bà Nguyễn Thị Nga
Năm 1982, trong một cuộc nói chuyện về âm nhạc ở Sài Gòn, ông Dương Thiệu Tước gặp lại bà Nguyễn Thị Nga, một học viên cũ tại trường QGAN ngày trước, người vẫn hâm mộ và thầm yêu "thầy". Nay bà Nga đã có một cơ sở buôn bán rất tốt về các sản phẩm âm nhạc nhưng vẫn còn độc thân. Ông về sống với bà và có với nhau được một con trai.
Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước mất ngày 01 tháng 08 năm 1995, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Các tác phẩm của ông vẫn còn tồn tại và sẽ mãi mãi bất hủ với thời gian, trong đó có bản Ngọc Lan. <

Thanh Lam trình bày



Nguồn:http://thoibao-online.com/index.php?option=com_content&view=article&id=3715:nhc-s-dng-thiu-tc-va-mi-tinh-u&catid=31:vn-ngh&Itemid=35
Wednesday, 31 August 2011 10:12 tuanhoang

NGÀY BUỒN - BICH QUY



Ý NGHĨ TRONG NGÀY
THOUGHT OF THE DAY
9-2-2011


CÁC BẠN ĐẠI DIỆN TV6370
N G À Y         B U Ồ N

                                    BÍCH    QUY

   Hôm nay là ngày lễ 2 tháng 9 , mọi người được nghỉ cộng thêm với hai ngày cuối tuần là được nghỉ ba ngày. Thế nhưng các hãng du lịch vẫn kêu còn chỗ đến giờ chót. Có nghĩa là người ta đi du lịch ít  hơn mọi năm. Hình như mọi người cũng sợ ra đường nhiều. Đường cao tốc thì có cả ổ gà lẫn ổ voi. Không ngày nào mở báo mà không thấy tai nạn xe. Khi thì xe hơi đâm xe khách, khi thì xe lửa húc xe máy chỉ vì muốn vượt qua rào chắn, lúc lại xe buýt mất thắng leo lề.....Thật là khủng khiếp. Thời buổi thứ gì cũng tăng giá, chỉ có lương là đứng giá nên  mọi người phải ra sức tiết kiệm, thắt lưng buộc bụng...Vả lại đi du lịch vào ngày lễ thì bao giờ ăn uống cũng đắt đỏ hơn ngày thường

    Lễ hội cũng được mở ra đó đây nhưng chẳng có gì vui. Buổi tối pháo bông cũng được bắn đ́ì đùng một lúc nhưng nhà cao tầng che chắn hết nên cũng chẳng nhìn thấy gì
.
    Hôm nay lại là ngày đi phúng điếu thầy Lân dạy toán năm xưa của trường Trưng Vương.  Hồi ấy thầy còn trẻ nên trò cũng hay trêu ghẹo thầy. Thầy chỉ cười hiền lành và có nhiều câu trả lời cũng dí dỏm làm thầy trò đều cười. Sau này tôi mới biết gia cảnh của thầy, tuy đông con và chỉ đủ ăn nhưng gia đình thầy rất đầm ấm. Đã có lúc thầy được làm Hiệu trưởng của một trường cấp hai. Điều mà tôi cảm phục là thầy dạy toán nhưng lại giỏi cả tiếng Anh, tiếng Pháp và từng là dịch giả của  nhiều sách   Trung quốc nữa. Trong số các sách đã xuất bản như  Liêu trai chí dị toàn tập,  Phong thần diễn nghĩa,  Bát tiên đắc đạo, Tây thi Đệ nhất mỹ nhân v...v....Tôi đã vinh hạnh được thầy đề tặng vào cuốn Tây thi Dệ nhất mỹ nhân mà tôi rất thích đọc. Sách thì còn đây, chữ viết của thầy còn đây, vậy mà thầy đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nước mắt lặn cả vào trong, con gái thầy kể rằng thầy chỉ bỏ ăn có ba ngày và ra đi một cách nhẹ nhàng êm ả . Thầy đã chọn ngày nghỉ ra đi để cho tất cả con cháu được tụ về lo tang lễ cho thầy một cách thong thả trọn vẹn.  

     Một cái lá đã rời cành chao nghiêng xuống bãi cỏ xanh không tiếc nuối nhưng đã để lại bao quả ngọt cho đời. Mọi người đều khóc trong lòng nhưng thầy đã được mỉm cười .Một nén nhang thắp lên tưởng nhớ công lao của thầy. Cầu chúc hương hồn thầy sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc.

   






Sep 2, 2011

Thành kính phân ưu




Nhận được tin buồn:

Thầy Nguyễn Đức Lân



Vừa từ trần tại : Sàigòn VN
Ngày mồng 4 tháng 8 năm Tân Mão(tức 1/9/2011)

Hưởng thọ 76 tuổi

Toàn thể cựu nữ sinh Trưng Vương 63-70 xin chân thành chia buồn cùng Cô và tang quyến.

Nguyện xin hương linh thầy sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc
ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Đọc thơ Nguyễn Trãi -Đề Yên Tử Sơn.

Đọc Thơ Nguyễn Trãi
Đề Yên Tử Sơn, Hoa Yên Tự     
Pham Thảo Nguyên                                                        
Ngày xuân chúng ta hãy theo Nguyễn Trãi lên núi thiêng Yên Tử lễ chùa Hoa Yên:


Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải thạch châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng



Chùa Hoa Yên, Núi Yên Tử

Trên đỉnh núi Yên cao tót vời
Canh năm vừa tới, trời hồng tươi
Mắt nhìn vũ trụ ngoài tầm biển
Người đứng giữa mây nói nói cười
Bọc cửa măng nhô nghìn mẫu trúc
Đá treo châu chảy nửa lưng trời
Nhân Tôn di miếu còn ngay đó
Trong ánh hào quang mắt Bụt ngời
           
Bình chú:

Khi được đọc bài thơ này của Nguyễn Trãi, câu thơ thứ tư đã thu hút tôi lạ lùng:   
 Tiêú đàm nhân tại bích vân trung.
(Nói cười người ở trong đám mây xanh)
Một câu thơ ung dung tự tại, thanh thoát, chữ dùng rất giản dị nhẹ nhàng, mà sao ta thấy chan hoà một tư cách cao vòi vọị của người thơ. Và bài thơ dich chỉ viết xong khi tôi tạm bằng lòng câu:
Người đứng giữa mây nói nói cười.
Nhưng thật ra để nói lên tâm tình Nguyễn Trãi, thì phải có đủ cả hai câu 3, 4:
Mắt nhìn vũ trụ ngoài tầm biển
Người đứng giữa mây nói nói cười.
Không phải là vẻ kiêu hãnh tự hào, lời thơ nhẹ như không, nhưng đầy nức sự thoả lòng vì công cuộc giải phóng đất nước do Lê Lợi cầm đầu, vừa đánh đuổi xong giặc Minh, kẻ xâm lược hỗn sược phương bắc, Nguyễn Trãi, người có công đầu, sác nhận rằng:
 “Giữa vũ trụ này, đây là đất của tổ tiên ta, dân ta đã oai hùng dành lại được, là nơi ta đặt chân đứng lên làm chủ, cười cười nói nói hiên ngang giữa mây trời”.
(Đó cũng chính là tấm lòng đầy xúc động của một người dân Việt thời nay, đứng tại đỉnh núi thiêng Yên Tử phủ mây, vào lúc tang tảng sáng, chứng kiến tận mắt cảnh trời núi ửng hồng. Với tầm mắt vượt ngoài vịnh Hạ Long diễm lệ dưới kia, người đó nhìn ra vũ trụ, thấy mình đang đứng giữa mây núi quê hương, lo lắng cho đất nước trước hoạ xâm lăng).
Sau đó, trong khoảng trời mây núi mênh mông, rừng trúc bạt ngàn, suối, thác, uốn lượn của Yên Tử Sơn, Nguyễn Trãi tới lễ trình miếu thờ vua Trần Nhân Tôn. Ngài là chủ nhân đất nước này, người chỉ huy tối cao của quốc dân trong hai lần cuối cùng phá giặc Nguyên Mông xâm lấn vừa mới hơn một thế kỷ trước (1385, 1388), mà cũng là tổ tiên dòng họ ngoại, của mẹ ông. Khi ngửng lên chiêm bái, ông thấy tượng một vị sa môn đầu đà tu khổ hạnh, nét mặt thanh thản không vướng chút bụi trần. Ông thấy cốt cách nhà vua đắc đạo của Đại Việt, người được con dân thời đó gọi rất thân thương là “vua Bụt”, hiện lên trong ánh hào quang, với đôi mắt có hai con ngươi nhìn ông như chan hoà hồn thiêng sông núi.

Hình như đối với phần lớn người Việt chúng ta, danh xưng “Vua Bụt” như còn xa lạ. Đó chính là do âm mưu thâm độc của giặc Minh, chỉ trong hơn một chục năm chiếm đóng đất nước ta: Chúng muốn xoá tận hết văn hoá dân ta, chúng đã phân chia nước ta thành quận huyện của Tàu, tất cả tài liệu về văn minh Đại Việt xưa, nhất là chữ Nôm, quốc ngữ của dân ta, đã bị chúng cố tình huỷ diệt. Cho nên hiện nay, ta gần như chỉ còn lại bốn bài phú chữ Nôm hiếm hoi của thời đó, còn cất dấu trong các chùa chiền xưa cũ, trong đó có bài Vịnh Vân Yên Tự Phú viết bởi Tam Tổ Huyền Quang, còn có danh hiệu này:
 …   nhèn chi vua Bụt tu hành…
Ngoài ra danh xưng Bụt dành cho Phật còn có rất nhiều trong những thư tịch đời xưa, ngay trong ca dao:
 Gần chùa gọi bụt bằng anh
Thấy bụt hiền lành cõng bụt đi chơi. 
cũng như trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, và nhiều tư liệu đời Trần, Lê khác:
..Thân đà hết luỵ thân nên nhẹ
Bụt ấy là lòng, bụt há cầu…(Mạn Thuật, bài 5)
…Dù bụt dù tiên ai kẻ hỏi
Ông này đã có thú ông này..(Mạn Thuật, bài 6)…

                                                          Phạm Thảo Nguyên

Bạt Hậu:

Tôi nhân được lời phê bình của một người bạn thâm nho như sau:
Trong bài thơ Đường luật này của Nguyễn Trãi, hai câu thơ 3, 4 :
Vũ trụ nhãn, cùng thương hải ngoại,
Tiếu đàm nhân, tại bích vân trung
Là hai câu luận, phải được hiểu theo luật đối chọi gắt gao như sau:
 Mắt nhìn cảnh vũ trụ, ra tận ngoài biển xanh (với sự thay đổi của thương hải biến vi tang điền)
Nghe tiếng người chê trách (đàm tiếu) , ở trong làn mây xanh biếc .
 Sống trong vũ trụ lúc nào cũng đổi thay này, ta coi vô thường, đàm tiếu như những việc tự nhiên, không cần để ý, theo tư cách rất cao thượng của bậc đại nho.

Đó là một lối đọc cổ điển mà nhiều bài thơ dịch khác đã theo gần gần như vậy. Nhưng ở đây, chúng tôi không muốn theo đường đó, mà đi tìm một cách đọc khác, với ngắt câu ở chữ thứ hai :

Vũ trụ, nhãn cùng thương hải ngoại

Mắt nhìn tới cùng tới vũ trụ bao la ngoài biển xanh (Vịnh Hạ Long) dưới kia,

Tiếu đàm, nhân tại bích vân trung

Nói cười hiên ngang, ta đứng giữa mây trời xanh biếc,( trên đất nước của dân ta),
Hai câu thơ dịch là:
Mắt nhìn vũ trụ ngoài tầm biển
Người đứng giữa mây nói nói cười.
.

Và nghĩ rằng trước cảnh núi mây linh thiêng này, ai mà không cảm thấy ngút ngàn tình sông núi?
Nguyễn Trãi dù đang bị dèm pha, búa dìu khốn khổ với triều đình nhà Hậu Lê lúc sơ khai, toàn kẻ vũ dũng, đã phải “xin về”, chắc cũng thấy những chuyện đó mờ đi trước đất nước mênh mông vừa đánh đuổi được giặc, như lời  cha dặn:
Trãi con ơi, tương lai đầy ánh sáng
Ta đứng đây trông suốt được ngàn thu…( Lời Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi, trong Hận Nam Quan, của Hoàng Cầm)
Còn người đọc ngày hôm nay, ai là người không nghĩ đến thời sự?

                                                                                    PTN

Sep 1, 2011

Ý NGHĨ TRONG NGÀY- vĩnh biệt thầy Lân( TUL) mười sáu trăng tròn( Hà ghi)

Ý Nghĩ Trong Ngày
thought of the day
Sep 1-2011
Sáng nay vào lúc 5 AM lại có một trận đông đất nữa xảy ra ở các tiểu bang miền Đông nước Mỹ . Trận này được gọi là aftershock, chưa tới 4 độ Richter. TUL hoàn toàn không cảm thấy gì hết vì lúc đó đang còn say ngủ. Đến khi vào chỗ làm nghe mọi người nói mới biết và một chút bâng khuâng , sợ thì không hẳn nhưng quả thật bây giờ chẳng còn nơi đâu gọi là an toàn nữa. Miền Đông rất hiếm khi động đất , cả mấy trăm năm lịch sử chỉ chừng vài trận là cùng , không đáng kể , nhưng hơn một tuần nay đã xảy ra 3 trận rồi, miền Đông bây giờ mới thấm và thương cảm CaLi.
Chiều nay được tin thầy Lân đã ra đi, biết rằng sẽ có một ngày tuần tự tất cả sẽ ra đi nhưng cái chết luôn làm hụt hẫng. Nhớ lại hình ảnh thầy hiền lành chân chất ...đến tội nghiệp , đứa nào cũng thi nhau chọc phá Thầy. Gần Tết thầy vào lớp không đứa nào chịu học , bằng đó cái miệng gào lên "chơi thầy, chơi thầy" ý lũ học trò xin thầy cho chơi, làm văn nghệ. Nhớ Tết năm đệ Tam , không biết sao đứa nào cũng nhao nhao đòi thầy xem bói, lúc đó thầy còn độc thân vậy mà lũ học trò con gái thi nhau xếp hàng , rồi bu quanh thầy , mấy chục bàn tay chìa ra xin được thầy coi xem chừng nào con có người yêu ? chừng nào con lên xe bông hở thày? số con sau này giàu nghèo ra sao? Tội nghiệp thầy cũng phải cầm những bàn tay rồi phán rằng:
- cái cô này lười học thì sau này chả ai thương , có lấy chồng cũng vẫn khổ!
thế là cả lũ lại gào lên '' con, thầy, con đâu có lười học đâu thầ y vậy con có được ai thương không?
Nhớ thầy coi bói cho Bùi thị Mỹ lâu nhất , thầy phán rằng " cô này công danh sự nghiệp tư mình tạo ra nhưng khổ tâm vv....có đúng không mợ BTM?
Hôm nay thầy đã ra đi , chúng con mất đi hình bóng hiền hòa của thầy ngày nào . nguyện cầu cho vong linh thầy được an nghỉ siêu thoát trong cõi Phật.


HÀ ghi 
MƯỜI SÁU TRĂNG TRÒN
SEP 1


Hôm nay mồng một , ngòai kia có trăng hay không ?Hình như Trăng mỗi ngày đều có tên gọi riêng       Mồng một lưỡi trai
           Mồng hai lá lúa ( lá mạ ) 
           Mồng ba câu liêm 
           Mồng bốn lưỡi liềm 
           Mồng năm liềm gặt 
           Mồng sáu thật trăng
           Mười rằm trăng náu
           Mười sáu trăng tròn....

 Trăng trên trời mà người dưới đất cứ ví von . Có phải vì trăng thân cận và rất gần để hàng ngày tôi ra đứng ngóng, rồi tự hỏi :  Trăng ơi từ đâu đến ? 
Bữa nay có người đến cắt cỏ dọn vườn , khỏang vườn rộng với nhiều hoa trăng và tím , hoa cúc trắng đơn sơ như tình tôi một thời yêu dấu, hoa lan tím sầu muộn , nhiều nhất là Huệ , tím đầu cành và nay đã kết trái non . Một ngày nữa trôi qua , biết rằng thiên nhiên vẫn gởi tặng nắng gió, mây trời và sự bình yên một cõi... Sao linh hồn tôi vẫn đói khát một chốn trở về ! 
Có biết đâu rằng vẫn đi loanh quanh cho đời mỏi mệt ! Thèm một ngày vui ,gặp lại những người mình thân thiết  cùng ăn một món ngon cùng đàm luận dưới trăng . Sẽ chơi bản nhạc Cung Đàn Lữ Thứ. Chắc người sẽ hiểu lòng ta...Đàn ơi ta với ngươi cùng đi...  
                         

Chợ Ấm





Tranh Bùi Xuân Phái
BICH QUY CHỢ ẤM
Sáng nay tôi xách giỏ ra chợ Vườn Chuối. Cái chợ đã có từ khi tôi còn bé xíu lon ton theo mẹ ra chợ. Hơn nửa thế kỷ mà nó vẫn còn đó, qua bao lần thời thế thay đổi , bao lần sắp xếp lại sạp. Ngày ấy nhà tôi ở gần chợ , lại đi học ở trường tiểu học Bàn cờ nên hay đi qua chợ. Tên là Vườn Chuối nhưng rất ít hàng bán chuối. Muốn mua lại phải len lỏi vào sâu trong chợ mới thấy. Cái chợ nhỏ thôi. Ngoài khu chính giữa với nhiều dãy bán hàng, chung quanh là nhà dân mà mặt tiền nhà họ lại trông vào chợ . Chẳng nói thì ai cũng biết những dãy nhà ấy cũng biến thành cửa hàng, san sát nhau và bán đủ thứ tạp hoá từ cây tăm đến cây chổi, từ túi nylon đến giẻ lau nhà hay cái hốt rác hoặc bát đĩa , nồi soong..... Mặt tiền của chợ nằm trên đường Phan đình Phùng mà bây giờ được đổi tên thành Nguyễn đình Chiểu với cái bãi gửi xe to tướng trước chợ. Sau đó khách sẽ thấy những hàng vàng sáng chói , với những tủ kính lấp lánh đồ trang sức : Bông tai, dây chuyền, nhẫn , vòng...đủ kiểu, mời gọi người mua lắm tiền. Sau hàng vàng là những hàng vải vóc quần áo, mỹ phẩm, rồi mới đến dãy hàng thịt cá, tôm cua... Có rất nhiều con hẻm dẫn vào chợ rất thuận tiện để người ta có thể đi xuyên qua chợ mà không phải ra cổng chính. Trước kia chợ Vườn chuối nổi tiếng với bà bán bún ốc rất ngon. Bà bán bún đeo nhẫn kim cương lấp lánh. Khách hàng ngồi ăn chen kín hàng bún của bà. Sau biến cố thay đổi đất nước, chẳng còn thấy bà nữa. Người ta đồn rằng nhà bà đã "di tản" rồi. Cũng có cả hàng bún ốc nhưng không ngon nên hay bị ế. Rải rác cũng có hàng bánh bột lọc, bánh ít trần,bánh canh, bánh cuốn, phở hay các loại bánh ngọt như bánh bông lan, bánh bò, bánh chuối v...v... hoặc các loại chè như đậu đỏ bánh lọt, chè khoai môn, chè bà ba.... Chợ nhỏ nên không có khu hàng ăn như chợ Bến Thành. Muốn ăn thì cứ việc đi tìm ắt sẽ thấy và quen rồi thì cứ chỗ ấy mà đến. Tôi thích cái chợ này không chỉ vì nó quá quen thuộc với tôi mà ở đó còn có cả những người bán hàng rất thân thiện. Tôi có thể mua một món hàng mà không cần phải đủ tiền. Họ sẵn sàng cho mình thiếu năm, mười đồng mà chẳng thắc mắc là khi nào mới trả. Thật ra tôi chẳng bao giờ muốn mua thiếu của họ , nếu phải mua thiếu thì trong lòng cứ áy náy và phải ghi nhớ để mai sớm đem đi trả. Lời lãi có bao nhiêu mà lỡ ra mình quên thì thật là phải tội. Còn nhớ có lần ra đến chợ, tôi bị hạ huyết áp, xây xẩm, chóng mặt, muốn té, thế là các bà xúm lại, người nhường cái ghế con cho ngồi, người đưa lọ dầu gió xoa vào thái dương lại còn hỏi có cần đánh gió không? Thật là cảm động. Ở chợ còn có bà bán cua đồng rất ngon. Cua của bà để trong cái chậu nhôm to, những con cua vàng ươm, tim tím bò lổm nhổm trông thật thích mắt. Bà đưa cho tôi cái gắp và cái xô nhỏ để lựa từng con mà bỏ vào đấy. Xong bà cân lên và rửa thật sạch rồi gỡ mai ra để lấy gạch và thịt cua thì cho vào cái máy xay.Tôi chỉ việc đem về , lọc lấy nước và thế là hôm ấy cả nhà xì xụp món bún riêu cua nóng hổi, béo ngậy với váng gạch vàng óng. Sau này bà mất thì anh con trai lại thế vào bán thay mẹ. Anh làm nhanh và cũng rửa sạch sẽ như mẹ nên cửa hàng lúc nào cũng đông người đứng chờ mặc dù ai cũng biết anh bán giá có hơi đắt hơn các hàng khác một chút. Anh khoe mới có thằng con chín tháng mà đã lẫm chẫm biết đi, có lẽ mẹ nó được ăn nhiều cua đồng nên có thừa canxi mà con cứng cáp như thế. Chợ này có bà cụ người miền Bắc, chít khăn mỏ quạ. Bà đã già lắm rồi, ngồi nhiều nên không đứng thẳng được nữa . Lưng bà còng xuống như chữ C. Bà bán đậu hũ miếng, bánh giò, bánh gai và sàng giá nữa. Tay bà cầm cái mẹt to thoăn thoắt sàng những vỏ hột đậu xanh để chỉ còn những cọng giá trắng phau, mập mạp trên sàng. Đặc biệt hơn cà là bà còn bán cả rượu nếp nữa. Rượu nếp của bà rất ngon. Những hột nếp lức vàng óng, nhai bụp bụp trong miệng quyện với vị ngon ngọt của rượu tươm ra từ những hột nếp lức ấy làm cho bạn tôi ở xa về ăn rồi nhớ mãi không quên.. Mấy lúc sau này đi chợ chẳng thấy bà đâu, lại thấy anh con trai ngồi bán thế. Hỏi thăm mới hay bà bệnh và con trai không cho bà đi bán nữa. Anh kể có ra ngồi bán mới thấy mẹ cháu vất vả quá, xoay như chong chóng với đủ thứ mặt hàng. Dù sao bà cũng hạnh phúc vì có được con trai biết thương mẹ. Tôi hay mua trái cây của cô hàng có cái má lúm đồng tiền rất duyên. Cô bán hàng nhanh nhẹn , tháo vát và không nói thách nên khách hàng mua đông. Bẵng đi một thời gian tôi không thấy cô bán nữa. Gần đây, tôi lại thấy cô ra ngồi mới hay cô bận về quê lấy chồng , rồi ruộng vườn , rồi vất vả sinh con đẻ cái. Tám năm trời, đủ để cho cô có ba mặt con và người thì đẫy đà ra. Vậy nhưng tôi vẫn nhận ra cô và cô cũng không quên tôi , đủ để chúng tôi chuyện trò như những người thân xa nhau gặp lại. . Hiện nay có rất nhiều siêu thị được mở ra : Sạch sẽ, quầy bán ngăn nắp, hàng hóa dồi dào, chẳng phải mặc cả. Không khí mát lạnh vì có máy lạnh , mưa chẳng đến mặt, nắng chẳng đến đầu , nên tôi còn gọi nó là " chợ lạnh" Ở đó , tôi chỉ việc "lạnh lùng" nhặt hàng bỏ vào xe, đẩy ra chỗ tính tiền và "lạnh lùng" ra về, chẳng cần nói một câu. Tiện lợi như vậy nhưng sao tôi vẫn cứ thích đi chợ . Cái chợ trời mưa thì lầy lội, trời nắng thì bụi bậm nhưng ở đó tôi cảm nhận được rất nhiều tình người. Giữa những người bán với nhau và cả giữa người mua với người bán nữa. Cũng có lúc họ xích mích với nhau nhưng giữa chợ đông người, họ lại cũng ngại mà nhường nhau. Tôi đã từng thấy nhiều lần có những gian hàng bầy la liệt mà người bán có việc bỏ đi đâu đấy một lúc thì người ngổi cạnh coi hàng dùm, thậm chí bán hàng dùm nữa. Chợ Vườn Chuối của tôi chỉ là một trong số rất nhiều chợ ở Saigon này. Với tôi , đó đúng là cái "chợ ấm" . Ấm áp tình người, ấm áp nụ cười.