Jan 16, 2021

Danh ca Lệ Thu qua đời sau thời gian chống chọi với Covid-19

Danh ca Lệ Thu qua đời sau thời gian chống chọi với Covid-19
16/01/2021

Ngọc Lễ



Lệ Thu là một ca sỹ của miền Nam Việt Nam trước 1975

Ca sỹ Lệ Thu, một trong những danh ca hàng đầu của miền Nam Việt Nam trước 1975, vừa qua đời ở miền Nam California sau gần hai tháng chống chọi với Covid-19 ở tuổi 78, VOA vừa được xác nhận.

Anh Jimmy Nhựt Hà, người dẫn chương trình truyền hình đồng thời là người gần gũi với gia đình Lệ Thu, cho VOA biết anh được con gái ca sỹ Lệ Thu thông báo mẹ cô qua đời vào lúc 7h tối ngày 15/1 tại bệnh viện Orange Coast Memorial, Quận Cam.

Bà ra đi khi đang trong tình trạng hôn mê suốt ba tuần qua kể từ khi được đặt ống thở.

“Vì cô Lệ Thu bị Covid, bệnh viện không cho đem về nhà mà để trong bệnh viện làm sạch hết virus, mấy tuần sau mới cho đưa ra nhà quàn cho thăm viếng,” anh Jimmy nói với VOA về việc chuẩn bị tang lễ.

Anh cũng cho biết là gia đình Lệ Thu đã liên lạc nhà quàn để đặt ngày làm tang lễ ‘nhưng nhà quàn không còn chỗ nữa mà phải đến cuối tháng Hai mới có’.

Miền Nam California đang trong đợt bùng phát dịch Covid-19 dữ dội với nhiều người Việt ở đây qua đời vì căn bệnh này.

Hôm 31/12, con gái lớn của ca sỹ Lệ Thu nói với VOA rằng khi nhập viện, tình hình của bà ‘rất khả quan’ và ca sỹ Lệ Thu còn chuẩn bị để xuất viện. Nhưng chỉ sau hai tuần thì tình hình bà đột ngột trở xấu, khó thở và được đặt ống thở từ hôm Giáng sinh đến nay.

Được biết, khi biết mình nhiễm Covid, ca sỹ Lệ Thu tự mình gọi cứu thương vì không muốn lây cho con cái. Kể từ khi nhập viện đến nay, các con của bà không thể vào thăm mà chỉ có thể nói chuyện và nhìn thấy mẹ qua màn hình điện thoại.

Tình cờ đi hát

Lệ Thu sinh tại Hải Phòng vào năm 1943 với tên thật là Bùi Thị Oanh. Thân phụ bà làm một chức quan nhỏ ở Hải Phòng trước 1945. Thuở nhỏ, bà sống ở Hà Đông và được gia đình cho đi học đàn piano. Đến năm 1953, khi 10 tuổi, hai mẹ con bà di cư vào Nam còn thân phụ ở lại và sau đó mất ở miền bắc.

Ở Sài Gòn, hai mẹ con Lệ Thu sống ở chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3. Bà theo học trường Pháp Les Lauriers ở Tân Định.

Lệ Thu đến với nghiệp ca hát một cách tình cờ nhưng lại hết sức suôn sẻ như bà kể lại với báo chí sau này. Vào năm 1960, khi đi dự sinh nhật một người bạn ở phòng trà Bồng Lai, bị bạn bè thúc lên hát góp vui, bà miễn cưỡng chọn hát bài Tà Áo Xanh của nhạc sỹ Đoàn Chuẩn. Tiếng hát của bà khi đó may mắn lọt vào tai ông chủ phòng trà Bồng Lai nên ông cố gắng thuyết phục bà đi hát. Trước lời đề nghị và mức cát sê hấp dẫn mà ông chủ phòng trà đưa ra, cô Bùi Thị Oanh lúc đó còn là một nữ sinh đã nhận lời hát ở phòng trà mà không cho mẹ biết, và bài hát Tà Áo Xanh là tác phẩm mở đầu sự nghiệp ca hát trải dài 60 năm của bà.

Thời gian đầu đi hát, ngoài hát nhạc nước ngoài, những bản nhạc Việt đầu tiên Lệ Thu trình bày là của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn như Xin Mặt Trời Ngủ Yên, Lời Buồn Thánh, Diễm Xưa…

Ngoài phòng trà Bồng Lai, Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát, các vũ trường Tự Do và Ritz là những nơi ca sỹ Lệ Thu từng cộng tác. Sau này, bà trở thành ca sỹ độc quyền ở phòng trà Queen Bee. Bà được báo giới Sài Gòn khi đó đặt cho các biệt danh là ‘Nữ hoàng phòng trà’ hay ‘Giọng ca vàng mười’. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố khiến khách mộ điệu tìm đến các vũ trường và mức cát-sê của bà cũng thuộc hàng cao nhất trong giới ca sỹ lúc bấy giờ.

Bên cạnh hát ở vũ trường, Lệ Thu cũng hát trên các đài phát thanh và thu âm cho nhiều hãng dĩa. Một trong những băng nhạc nổi tiếng nhất của bà là Sơn Ca 9 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện. Bà còn được các nhạc sỹ ‘đo ni đóng giày’ viết riêng cho bà như Nước Mắt Mùa Thu của Phạm Duy, Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa hay Chiếc Lá Thu Phai của Trịnh Công Sơn.

Khán thính giả yêu mến Lệ Thu qua các bài hát: Hạ Trắng, Nước Mắt Mùa Thu, Thu Hát Cho Người, Mười Năm Tình Cũ... Ngoài các nhạc sỹ kể trên, bà hát rất thành công nhạc của Cung Tiến, Đoàn Chuẩn, Trường Sa…

Duyên tình lận đận

Mặc dù con đường sự nghiệp trải đầy hoa, nhưng trong cuộc sống riêng, bà gặp rất nhiều lận đận. Bà trải qua ba cuộc hôn nhân tan vỡ, có ba người con gái với hai đời chồng khác nhau nhưng cuối đời sống một mình ở thành phố Fountain Valley, miền Nam California khi các con gái của bà đều có cuộc sống riêng.

Trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam trước khi quân cộng sản tràn vào, Lệ Thu đã lên đường di tản. Nhưng khi đã đến phi trường chuẩn bị di tản vào ngày 28/4 năm 1975, bà quyết định quay trở lại vì còn mẹ già mà bà là người con duy nhất.

Đến năm 1979, bà vượt biên cùng con gái út, được đưa đến trại tị nạn Pulau Bidong. Đến năm 1980 bà đến Mỹ và định cư ở miền Nam California. Hai năm sau hai người con gái lớn của bà cũng vượt biên và đoàn tụ với bà.

Tại Mỹ, bà tiếp tục thâu đĩa, đi hát phục vụ cộng đồng người Việt và tham gia vào các chương trình nhạc hội của Thúy Nga, Asia… Từ năm 2007, bà cũng bắt đầu trở về nước biểu diễn. Năm 2017, Lệ Thu từng thực hiện đêm nhạc ‘Như là kỷ niệm’ cùng Tuấn Ngọc tại Việt Nam.



************************************************************************

Jan 9, 2021

Chia buồn cùng bạn Tuyết Mai và tang quyến

Nhận được tin buồn phu quân của TV6370 Tuyết Mai :




Ông Giuse PHÙNG HUY HOÀNG

qua đời ngày 07-01-2021

tại  CA. USA 




Các bạn đồng niên cùng ĐSTV6370 xin thành kính chia buồn cùng Tuyết Mai, các con  và tang quyến. Nguyện xin cho linh hồn Giuse Huy Hoàng được an nghỉ nơi cõi Vĩnh Hằng cùng Chúa và Đức Mẹ.


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Giếng hồi hướng công đức cho Anh Phùng Huy Hoàng






Jan 3, 2021

Đời Người Như Chiếc Lá

 Tác Giả: Linh Mục Nguyễn Hữu Ân

Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lưu

Em nghe không mùa thu.
Lá thu rơi xào xạc.
Con nai vàng ngơ ngác.
Đạp trên lá vàng khô. 
(Tiếng Thu)




Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách “chia tay”. Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình một cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất.

Lại có những chiếc lá ra đi một cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha, buông mình theo gió. Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.

Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống. Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành. Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu. Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc. Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách nhẹ nhàng, thanh thản. “Lá rụng về cội”. Lá rơi bên gốc cây. Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây. Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây. Đời lá ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ “bài học quét lá” mà thầy dạy thuở nào:

“Vâng lời thầy con đi quét lá,
Lá vàng rơi lả tả khắp nơi.
Lá khô rơi như kiếp một con người,
Giờ phút cuối là về cùng cát bụi…

Con vừa quét sạch một gốc cây,
Quay trở lại đã thấy đầy lá rụng.
Con hỏi : nếu như gió đừng rung động,
Thì lá kia hẳn còn ở trên cành?

Một kiếp người cũng thế: quá mong manh,
Một hơi thở nếu đi rồi không đến nữa!
Tạ ơn thầy đã cho con bài học nhỏ,
Mà thâm sâu như một triết lý khôn cùng.”
(Diệu Nhân)

Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi. Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc. Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai. Sức khỏe, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết. Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai. Nó đến bất ngờ làm ta bàng hoàng. Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng. Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng. Một chuyến đi quyết định và quan trọng. Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày… tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần… Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi? Chúng ta có nỗ lực để sắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Phật dạy: “Mạng sống con người rất mong manh, chỉ trong một hơi thở, thở ra mà không thở vào là kết thúc kiếp người”. Dù văn minh đến đâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết. Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu… ai ai rồi cũng phải chết.

Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết. Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống. Chết là một phần của sự sống bởi lẽ trong sự sống đã có sự chết. Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa dòng nước vào nguồn biển rộng. Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết. Đó là định luật chung của con người. Không ai có thể sống mãi mà không chết. Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết. Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ. Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì. Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi. Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được. Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.



Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự “hiện hữu”, đừng bao giờ là sự “sở hữu”. Ta hãy chọn phương châm “sống với” chứ đừng “sống vì”.

Thấu hiểu được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền. Như ai đó đã từng nói:

-Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc.
-Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười.

Linh mục Nguyễn Hữu An 
(Nguồn: dongcong.net)

Anh Thư sưu tầm

Dec 30, 2020

TUỔI HỌC TRÒ

 TUỔI HỌC TRÒ

image

Chủ đề của bài viết này là những hồi ức học trò ngày xưa của một người bước vào tuổi 70. Thuở học trò này rất xa và rất khác với thời đại @ ngày nay, khi mà các tiện nghi vật chất phong phú hơn, phương tiện giải trí đa dạng hơn và quan niệm về giáo dục cũng khác hơn.

 

Những nét khác nhau là hậu quả của hoàn cảnh xã hội và chính trị, cụ thể hơn là chính sách giáo dục và chế độ chính trị qua nhiều thời kỳ, từ thời Pháp thuộc đến giai đoạn 30 năm chiến tranh tương tàn.

 

 

Thuở học trò của chúng tôi chỉ có một mục đích duy nhất là… học, nhưng đôi khi cũng pha lẫn những chuyện tình cảm theo kiểu mà người Mỹ gọi là “tình chó con” (puppy love). Ngày nay, ngoài việc học còn có những tác động, xấu cũng như tốt, từ Internet, phim ảnh, báo chí cho đến những ảnh hưởng của người lớn như các bậc phụ huynh trong gia đình và sự tác động của xã hội bên ngoài.

 

image

“Puppy Love”

 

Học trò ngày xưa là mảng đề tài được khai thác rất “kỹ” qua văn chương, âm nhạc, hội họa. Vào thập niên 70, bản nhạc “Ngày Xưa Hoàng Thị” [1] của Phạm Duy, phổ thơ Phạm Thiên Thư [2] trở thành nổi tiếng với một mối “tình học trò”. Bài hát dẫn người thưởng ngoạn đến chuyện một cô nữ sinh tên Hoàng Thị Ngọ lúc tan trường, ôm nghiêng cặp, đi trong một cơn mưa phùn và phía sau cô… lẽo đẽo một “cây si” di động: 

 

image

 

“Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ

Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay

Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ

Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ

Anh theo Ngọ về gót giầy lặng lẽ đường quê...”

 

Đó chưa phải là tình yêu theo đúng nghĩa. Chỉ là… “thích trộm, nhớ thầm” của một “cây si”.. Và chỉ cần lẽo đẽo theo một tà áo dài trắng cũng đủ thỏa lòng, dù bước chân có “nặng nề”, dù trong lòng “nức nở” để hôm sau vào lớp sẽ còn “ngẩn ngơ”:

 

image

 

“Em tan trường về

Anh theo Ngọ về

Chân anh nặng nề

Lòng anh nức nở

Mai vào lớp học

Anh còn ngẩn ngơ, ngẩn ngơ…”

 

“Ngày Xưa Hoàng Thị” là một kết hợp tuyệt vời giữa thơ Phạm Thiên Thư và nhạc Phạm Duy nhưng lại có một đoạn kết buồn cho… “mối tình câm”. Ở đoạn kết đưa ra hai hình ảnh của “ngày xưa” và “ngày nay” với câu kết “Ai mang bụi đỏ đi rồi…” khiến tôi nghĩ ngay đến Ban Mê Thuột, thị trấn đã từng gắn bó từ tuổi học trò. Chả là BMT vẫn nổi tiếng là vùng đất đỏ bazan, nắng thì BMT (Bụi Mù Trời) còn mưa thì… bùn đỏ ngập bước chân:

 

image

 

“Xưa theo Ngọ về

Mái tóc Ngọ dài

Hôm nay đường này

Cây cao hàng gầy

Đi quanh tìm hoài

Ai mang bụi đỏ đi rồi…”

 

image

Học trò Đồng Khánh trên cầu Trường Tiền

 

Trong một cuộc phỏng vấn của Đỗ Văn với Phạm Duy, nhạc sĩ cho biết trong số những bài hát cho tuổi trẻ, ông thích nhất là bài “Tuổi Ngọc”…” bài hát này ông viết cho con gái mới lớn Thái Hiền khi bước chân vào trung học. “Tuổi Ngọc” viết theo nhịp điệu nhí nhảnh với những câu được lập đi lập lại “Xin cho em…”. Những thứ cô xin là một chiếc áo dài, một mớ tóc dài và một chiếc xe đạp [3]..

 

Đó là tất cả hành trang của một cô gái khi bước vào trung học. Chiếc áo dài “thơm dáng tuổi thơ”, mớ tóc nồng “êm như nhung” và, cuối cùng:

 

“Xin cho em còn một xe đạp

Xe xinh xinh, để em đi học

Từng vòng, từng vòng xe

Là vòng đời nhỏ bé

Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe”

 

Chắc nhà gần trường nên những học trò như cô Ngọ của Phạm Thiên Thư mới cuốc bộ để “cây si” có dịp lẽo đẽo theo sau. Nếu nhà ở xa thì chắc phải đến trường bằng xe đạp. Hình ảnh nữ sinh trên chiếc xe đạp sẽ khó có thể nào quên trong kỷ niệm, nhất là đối với những người nay đã xa xứ, không còn cơ hội nhìn thấy cảnh này..

 

image

 

Hồi xưa nữ sinh còn đội nón lá đến trường, ít có những kiểu mũ “mô đen” như ngày nay. Mỗi lúc tan học là cả một đàn bướm trắng bay ra rồi tỏa đi khắp các con đường. Nhà gần thì ôm cặp đi bộ để các anh như Phạm Thiên Thư đưa vào thơ. Nhà xa thì đạp xe theo từng nhóm như trong bức hình dưới đây trước Tòa Đô Chánh.

 

image

Nữ sinh trên xe đạp trước Tòa Đô Chánh

 

Gia đình khá giả thì có thể tậu một chiếc Velo Solex chạy bằng xăng, có cần khởi động máy ở phía trước và khi hết xăng có thể đạp như một chiếc xe đạp. Nhà thơ Nguyên Sa trong bài thơ "Tám phố Sài Gòn " [4] có một đoạn viết về chiếc Solex và cô học trò như sau:

 

“Sài Gòn phóng solex rất nhanh

Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants

Có nghe hơi thở cài vương miện

Lên tóc đen mềm nhung rất nhung”

 

Ngày xưa, đã có nhiều nhà văn, nhà thơ không tiếc lời ca tụng hình ảnh nữ sinh trên chiếc Solex hoặc xe đạp. Ngày nay, họa hoằn lắm mới gặp những lời có cánh về những chiếc xe “tay ga” phóng vù vù trên đường… Ôi, thời thơ mộng của tuổi học trò nay còn đâu! 

 

 image

Nữ sinh với chiếc Velo Solex

 

Thuở học trò của tôi cũng có một chuyện tình thuộc loại “puppy love” như trong bài thơ của Phạm Thiên Thư. Tôi không có ý “thấy người sang bắt quàng làm họ” nhưng quả thật cả hai đều có nhiều điểm rất giống nhau.

 

Thứ nhất, tên “người trong mộng” của nhà thơ Phạm Thiên Thư là Hoàng Thị Ngọ, một cái tên không được đẹp cho lắm, còn người tôi “mê” lại có một cái tên “không thể xấu hơn”: Phan Thị Lụng. Cả hai cô Ngọ và cô Lụng tuy có xấu tên nhưng ngược lại, hai cô lại là những nữ sinh rất xinh.

 

Thứ nhì, Phạm Thiên Thư tả cô Ngọ “vai nhỏ tóc dài” còn cô Lụng “của tôi” thì tóc cũng dài nhưng lại cột theo kiểu “đuôi gà” mà người Pháp gọi là “queue de cheval”, tức… “đuôi ngựa”. Ở đây có thêm một sự trùng hợp, “ngựa” còn được gọi bằng cái tên “ngọ”!

 

image

Kiểu tóc đuôi gà đã hớp hồn tôi thuở học trò.

 

Trong thơ Phạm Thiên Thư có cảnh nên thơ giữa hai học trò “trao vội chùm hoa, ép vào cuốn vở” còn tôi thì chơi trội hơn, viết luôn một cánh thiệp hồng báo hỷ bằng tiếng Pháp. Tôi không giỏi Pháp văn đến độ viết được thiệp hồng mà chỉ copy từ cuốn “Cours de Langue et de Civilisation Française” của Mauger đang học.

 

“Thiệp báo hỉ” mang tên Nguyễn Ngọc Chính và Phan Thị Lụng được để trên yên xe đạp của Lụng trong giờ ra chơi vì không đủ can đảm đưa tận tay nàng. Cho dù có đủ can đảm nhưng chắc cũng không dám đưa vì cái lối “tỏ tình” quá đường đột này.

 

Chắc chắn nàng đã đọc, không những thế, ngoài hai đứa còn có người thứ ba cũng đã đọc, đó là thầy tổng giám thị. Ông “tế nhị” gặp riêng tôi và cảnh cáo cần phải chấm dứt trò chơi “nguy hiểm” này, nếu tái phạm tôi sẽ bị “cấm túc” và thông báo về gia đình.

 

image

Nữ sinh miền thùy dương cát trắng Nha Trang

 

Thế là bao mộng đẹp bỗng tan thành mây khói, mái tóc “đuôi ngựa” mà trước đây tôi chết mê chết mệt bỗng nhiên biến mất khỏi tâm hồn tôi, còn tụi bạn trong lớp đã sửa một câu ca dao quen thuộc thành:

 

“Muốn người ta mà người ta không muốn,

Xách… ‘thiệp hồng’ chạy xuống chạy lên!”

 

image

Học trò xứ BMT

 

Thuở học trò ngày xưa của tôi là thế đấy. Học cũng nhiều và “nghịch tinh nghịch ngầm” cũng không ít. Chẳng thế mà người ta thường nói: “Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò”. Đã mấy chục năm nay tôi chưa một lần gặp lại Phan Thị Lụng kể từ hồi học Đệ Ngũ.

 

Giờ này chắc nàng đã trở thành bà nội, bà ngoại… còn tôi thì đã là một ông già móm mén bên con đàn cháu đống. Ước gì cô học trò năm xưa đọc được những dòng chữ này để cùng cười cái thuở học trò rắn mắt ngày nào tại xứ Buồn Muôn Thuở…

 

image

Học trò tỉnh lẻ

 

Đặc điểm của nền giáo dục VNCH là có sự tách biệt giữa trường nam và trường nữ tại các thành phố lớn, một phần có lẽ là để tránh những “phiền phức” xảy ra trong tuổi học trò mới lớn. Những địa phương nhỏ như BMT thì học trò học chung, và đó cũng là lý do có những chuyện “mới nứt mắt” mà đã biết… tán tỉnh bạn gái cùng lớp như trường hợp của tôi!

 

Ngôi trường trung học đầu tiên tại miền Nam là Collège Chasseloup-Laubat, thành lập năm 1874 sau này đổi thành trường Lê Quý Đôn, tiếp đến là Collège de My Tho (1879), sau đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu. Ở Huế có trường  Quốc Học dành cho nam sinh được thành lập từ năm 1896 và trường Đồng Khánh được dành cho nữ, thành lập từ năm 1917.

 

Thoạt đầu trường Đồng Khánh chỉ có cấp  tiểu học với với đồng phục màu tím nên còn được gọi là “Trường Áo Tím”. Dưới thời Pháp thuộc đồng phục đổi sang màu xanh nước biển và bắt đầu từ Đệ nhất Cộng hòa có đồng phục màu trắng.

 

image

Nữ sinh Đồng Khánh (năm 1931)

 

Nổi bật nhất tại Sài Gòn là hai trường Gia Long và Trưng Vương, những địa chỉ được các “cây si” thường xuyên lui tới. Gia Long còn được gọi là trường “Nữ sinh Áo Tím” ngày nay là trường Nguyễn Thị Minh Khai, được thành lập từ năm 1915 và thuộc loại “lão làng” trong hệ thống giáo dục của Hòn ngọc Viễn đông.

 

Xét về tuổi tác thì trường Trưng Vương là em vì phải từ Hà Nội “di cư” vào Nam năm 1954 sau Hiệp định Genève. Năm học đầu tiên Trưng Vương còn phải học nhờ Gia Long vào buổi chiều. Mãi đến năm 1957, trường Trưng Vương mới chính thức xây dựng xong trường ốc gần Sở thú cùng với Võ Trường Toản.

 

Gia Long và Trưng Vương tượng trưng hai chị em xuất xứ từ hai miền Nam – Bắc trong suốt thời kỳ VNCH. Sau năm 1975, hai trường mở cửa tiếp nhận cả nam lẫn nữ sinh. Và có lẽ những chuyện như cô Ngọ, cô Lụng lại tiếp diễn nhưng chắc ở mức độ “hiện đại” hơn thuở chúng tôi còn đi học.

 

image

Xe hoa của trường Trưng Vương nhân ngày Phụ nữ Việt Nam năm 1960

Nguyễn Ngọc Chính