Feb 21, 2016

Ngắn thôi 17 - Bích Quy

Hoa Iris
Tranh của cậu ấm Thạch.


CHUYỆN  Ở  CÔNG VIÊN

           1/    CHĂM CỤ GIÀ

     

Sau khi tập thể dục, tôi ngồi nghỉ mệt trên ghế công viên thì một chị luống tuổi đẩy một bà cụ ngồi trên xe lăn đến trước mặt. Chị cũng ngồi xuống bên tôi rồi lấy trong túi ra một củ khoai đã bóc sẫn đưa tận tay cho bà cụ.


Tôi cứ tưởng đó là hai mẹ con nên hỏi thăm :


- Bà bao nhiêu tuổi rồi hở chị?


- Năm nay bà tám mươi tám rồi cô ạ.


Lúc này tôi mới nhìn kỹ . Trông cụ có vẻ trẻ hơn tuổi. Tóc cắt ngắn đã muối nhiều hơn tiêu và ăn mặc tươm tất sạch sẽ. Những ngón tay cụ chụm vào nhau, giữ lấy củ khoai và đưa một cách khó nhọc lên miệng. Chị ấy bảo


- Cụ bị tai biến hồi năm ngoái. Em được người nhà cụ mượn vào đây chăm cụ.


Chồng cụ mất mấy năm nay rồi lại chẳng có con cái gì nên người trong gia đình mượn em và một chị nữa chăm sóc. Hai người chăm sóc cụ mà nhọc lắm vì đêm cụ không ngủ . Chúng em phải chia nhau mỗi người ngủ với cụ một tuần.


Cụ cứ thức suốt đêm và xoay như chong chóng , đạp cả vào người, vào đầu em. Không kể đêm nào cụ cũng kêu thấy bao nhiêu là đầu lâu đổ vào người khiến em cũng phải thức trắng với cụ.


- Sao chị không bảo người nhà đưa cụ vào bệnh viện chữa trị?

- Người nhà cụ là bác sĩ trong nước và cả ở ngước ngoài. Họ gửi thuốc về chữa trị cho cụ nên mới được thế đấy. Em còn hai đứa con đang đi học nên mới vào đây giúp cụ để có tiền gửi về quê cho chúng đi học.


- Thế quê chị ở đâu?


- Mãi Nam Định cô ạ . Từ lúc vào đây em sút mất hai ký rồi, lại thêm nhức đầu, ù tai nữa cô ạ . Có lẽ vì em thức đêm nhiều quá.


- Thế Tết này chị có về quê không?


- Em cố đến hết tháng thì về rồi lại đi làm ruộng thôi. Ở quê em chẳng đau ốm bao giờ vậy mà có mấy tháng vào thành phố em thấy tốn tiền thuốc mà người lúc nào cũng mỏi mệt quá.


- Chị nghĩ thế cũng phải, còn phải chăm lo cho các cháu và cho cả mình nữa


- Thôi bây giờ em phải đưa cụ về tắm nữa . Em chào cô nhá.




2/ ĐI KHÁM BỆNH





Mới tập được hai bài thể dục thì bà Thủy đã ngưng :


- Hôm nay tôi phải về sớm


- Chuyện gì thế?


- Anh xã nhà tôi ốm nên phải đưa ông đi bệnh viện khám.


- Anh bị sao?


- Đủ thứ, huyết áp, tiểu đường, mỡ máu . Khám bảo hiểm ấy mà .


- Lần nào bà cũng phải đưa à?


- Nhõng nhẽo lắm, không đi cùng là không chịu khám


- Thế bà bệnh thì sao?


- Thì tự kêu xe đi chứ sao .


- Ra thế .

Feb 18, 2016

TRƯNG VƯƠNG XƯA VÀ MỘT GÓC QUÊ NHÀ HÔM NAY....- Bài viết của Tăng Thị Minh Trâm


TRƯNG VƯƠNG XƯA VÀ MỘT GÓC QUÊ NHÀ HÔM NAY ...
TĂNG THỊ MINH TRÂM

“…Tấm áo nâu ! Những mẹ quê chỉ biết cần lao.
Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi…”

                          ( TÌNH CA - PHẠM DUY ) 



Hạ tuần tháng 9, đầu tháng 10 năm 2015 : Trưng Vương niên khóa 63-70 trong nước cũng như hải ngoại bàng hoàng nghe tin Trưng Vương Phương Thảo qua đời ! Vẫn biết sinh-lão-bệnh-tử là quy luật của muôn đời, nhưng phải chia tay vĩnh viễn với một người mà mình từng quen biết và thân mến thì cái cảm giác đó trong lòng bạn bè là nỗi bùi ngùi khó tả. 

 Tang lễ của Phương Thảo chỉ gói gọn trong gia đình, song vì tình bạn bè cố cựu bao năm, các Trưng Vương niên khóa 63-70 đã muốn làm một việc có ý nghĩa để tưởng nhớ bạn mình ; và tôi, Minh Trâm, Trưng Vương 63-70 tại Canada, trong dịp về thăm gia đình ở Việt Nam vào Tết Bính Thân 2016, đã vô tình mà hữu ý được hân hạnh chứng kiến việc làm ấm áp đó. 

 Ấp Thị Tường, xã Hòa Mỹ, Huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau là một ấp nghèo của một xã nghèo. Ấp có diện tích khoảng hơn 38 ngàn ki lô mét vuông và hơn 9 ngàn dân, được thành lập khá muộn vào khoảng năm 2004 sau khi tỉnh Cà Mau tách khỏi tỉnh Minh Hải ,và huyện Cái Nước trở thành một huyện của tỉnh Cà Mau vào năm 1996. Ấp Thị Tường giống như một doi đất lẻ ra của huyện thị nghèo ; đã vậy lại cách trở đò giang do kênh rạch chằng chịt, nên đời sống người dân nơi đây vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Đặc biệt là việc đến trường của các em nhỏ học trò. Trưng Vương 63-70 đã đến với địa phương để hỗ trợ làm một cây cầu bắc qua một nhánh sông khá rộng, giúp các em học trò nhỏ có phương tiện đến trường dễ dàng nói riêng ,và giúp cho sự đi lại của bà con ấp Thị Tường nói chung trở nên thuận lợi, thông suốt hơn.







Ngày 02/02/2016, tôi cùng Kim Hoa và chị Hồi , chị chồng của Phương Thảo ở Việt Nam đi xuống Thị Tường để dự lễ khánh thành cây cầu mang tên bạn mình. 

Đã là 24 tháng chạp âm lịch, ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền của đất nước đã đến rất gần mà nơi chúng tôi đến ,hai chữ " Xuân về" như còn đang ở đâu đâu. 

 Cây cầu được địa phương quan tâm đôn đốc nên được xây dựng rất đẹp, chắc chắn. Chúng tôi khi được mời lên cắt băng khánh thành cầu, không ai bảo ai, đều nhìn về phía những gương mặt người dân Thị Tường cần lao, mưa nắng khắc khổ, Tết đến, Xuân về họ chỉ thờ ơ, nhưng lại bừng vui vì có được cây cầu. Nhìn tên bạn mình được trang trọng đặt cho cây cầu mà ai nấy trong dạ cùng nao nao. 











 Chỉ không ít giờ trước khi chúng tôi rời Sài Gòn, bình minh đã bắt đầu đến mà trên những con đường vẫn còn đầy những “ngọn xanh, ngọn đỏ” chớp tắt rực rỡ . Những góc phố buôn bán được trưng bày hào nhoáng vẫn nhấp nhánh thâu đêm suốt sáng, không khí lễ hội mỗi ngày như một dồn dập hơn trong hai tiếng : Tết về. Cùng trong một đất nước, cùng đồng bào nói chung một tiếng nói, chung một màu da, sao nơi đây người dân còn khổ đến thế này?
Buổi sáng giáp Tết, chúng tôi thấy lòng mình dường như nhẹ ra, thanh thản vì đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.  Nhìn ra không gian khoáng đãng nơi đồng nước mênh mông của rẻo đất cực Nam, chúng tôi tin đâu đó hiển linh  Phương Thảo hẳn sẽ mãn nguyện mỉm cười vì công việc ý nghĩa này của bạn bè mình. 

Cùng trong ý nghĩa đó, những chiếc xe đạp của Minh Tâm – Trưng Vương 63-70 trao tặng cho các em học sinh nhà ở xa trường hình như càng làm tăng thêm niềm vui ấm áp cho mọi người. Tôi cũng cố góp chút ít lòng mình vào việc trao tặng cho người dân những bao gạo nhỏ dùng Tết. Thấy họ hồ hởi nhận lãnh mà sao lòng tôi cứ ngùi ngùi: Dân xứ gạo mà giờ phải nhận gạo hỗ trợ ; ai sẽ giúp họ thoát khỏi nghịch lý này ngày mai?










An nghỉ nhé Phương Thảo. Tên của Thảo sẽ mãi nằm trong lòng tụi mình cũng như trong lòng người dân Ấp Thị Tường, xã Hòa Mỹ, Huyện Cái Nước – Cà Mau khi mỗi ngày họ xuôi ngược, đi về trên cây cầu mang tên bạn. Chúng mình sẽ mãi nhớ đến Thảo, đến những năm tháng chúng ta còn là bạn bè, cùng chung thầy, chung lớp dưới mái trường Trưng Vương cổ kính mà thơ mộng. Người dân Thị Tường sẽ nhớ đến Thảo với lòng biết ơn đã giúp họ bớt nhọc nhằn, khó khăn khi làm ăn sinh sống và sinh hoạt, khi con em họ được an toàn hơn để đến trường kiếm con chữ đổi đời mai sau… 

Hãy yên nghỉ, Phương Thảo !

Sài Gòn, Tết Hạ Nêu Bính Thân 2016

Trưng Vương Tăng Thị Minh Trâm

KHÁNH THÀNH CẦU PHƯƠNG THẢO

CẦU PHƯƠNG THẢO



Các bạn thân mến,

 Tâm đã lo xong việc xây cầu để hồi hướng công đức cho bạn Phương Thảo. Để giản tiện và dễ nhớ ,Tâm đã dùng ngay tên người bạn của chúng mình để đặt tên cầu : Cầu PHƯƠNG THẢO. Tâm đã bàn luận với anh An , chồng Phương Thảo và một số bạn trong nhóm mình trước khi quyết định việc này .

 Nhân dịp bạn Minh Trâm ở Canada về thăm cô ruột là cô Tăng Thị Hiền ,Tâm đã nhờ Minh Trâm đại diện nhóm 63~70 đi cùng với chị Hồi ,chị chồng của Phương Thảo , nhờ Kim Hoa dẫn đường để đi xuống Cà Mau lo việc khánh thành hai cây cầu ; cầu Phương Thảo là mục đích chính của chuyến đi . 

 Sau đây là hình ảnh và các chi tiết về cầu PHƯƠNG THẢO : 

  Cầu tọa lạc tại ấp Thị Tường , xã Hoà Mỹ , huyện Cái Nước,tỉnh Cà Mau . Địa điểm này đã có đơn xin trợ cấp từ lâu. Đồng bào đi lại làm ăn sinh sống rất khó khăn ; các em học sinh phải qua lại bằng phao ( vừa đứng ở trên phao,vừa đu một sợi dây đã được giăng từ bờ bên này sang bờ bên kia ) mới đến trường được.
 Cầu dài 30 mét , bề ngang 2 mét , sơn bằng sơn NIPPON của Nhật , kể cả sơn lót. Loại sơn này không có bán ở Cà Mau ; mình phải mua tại đại lý sơn NIPPON ở Sài Gòn để gửi xuống Cà Mau. Cầu đã được xây dựng rất kỹ lưỡng và chắc chắn ,kèm với ba lớp sơn ngoại thất để chịu được mưa nắng và tốt đẹp lâu bền.  

CHI PHÍ CẦU : $4,291
Trong đó Quỹ tương trợ xã hội của nhóm tài trợ $   500
Một số các bạn TV6370 đóng góp                        $1,494
Phần còn lại do anh An chồng của P. Thảo, 6 bạn ẩn danh và Tâm cùng đóng góp để hoàn thành . 

Trong buổi lễ khánh thành cầu,  Tâm cũng đã tặng thêm 30 chiếc xe đạp cho các em học sinh nghèo nhà xa trường, và Minh Trâm cũng đóng góp thêm với Tâm để phát thêm gạo, mì, tập vở, bút , bánh kẹo cho các em học sinh và bà con sinh sống ở khu vực quanh cầu vào mấy ngày Tết để họ lấy hên.





 Tâm gửi report cho cả hai groups cùng một lúc mà gửi kèm theo nhiều hình sẽ nặng , email không lết đi được vì thế Tâm chỉ gửi kèm sau đây hai tấm hình tượng trưng . Những hình ảnh còn lại Tâm sẽ gửi cho Phương Hà ( gửi cho cá nhân thì gửi nhiều hình một lúc vẫn bay đi được ) . Hà sẽ đăng giùm Tâm vào Đặc San cho các bạn xem thêm . 

 Minh Trâm có viết một bài để diễn tả những nhận xét và cảm tưởng của mình trong chuyến đi về Cà Mau để khánh thành cầu. Bài có kèm theo mấy tấm hình Minh Trâm chụp nên Tâm gửi cho cả hai group sẽ khó đi lọt được .Vì thế Tâm xin chuyển để Hà đăng vào Đặc San Trưng Vương 63~70 cho các bạn cùng xem .

 Cám ơn Minh Trâm , Kim Hoa cũng như chị Hồi đã hết lòng tiếp tay với Tâm để việc khánh thành cầu cho Phương Thảo được hoàn thành tốt đẹp và có thêm nhiều ý nghĩa.

Anh An , chồng Phương Thảo có nhờ Tâm gửi vài lời cảm ơn đến các bạn sau đây :


Cám ơn Chị Minh Tâm và các bạn của chị ở VN thật nhiều về việc khánh thành cây cầu này cho Thảo cũng như đón tiếp chị Hồi nơi miền xa xôi đó (... "từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau"). Chị Hồi thương Thảo nhiều lắm!

  Đọc email của chị làm tôi có cảm giác như đang nghe một buổi tường trình tin tức sốt dẻo trên đài truyền thanh, truyền hình của xướng ngôn viên Mai Liên ở Sài Gòn năm nào. Thật sống động, hồi hộp mà lại pha lẫn tâm tình đau thuơng buồn vui lẫn lộn trong đó. Thoáng thấy đâu đó những xót xa cho số phận của những người thân sơ không được mấy may mắn trong đời. Xin được một an ủi nhỏ nhoi len lỏi vào cuôc đời. Mong Ơn trên phù hộ... Thật cảm kích và thán phục những tấm lòng vàng...

Cho các bạn TV của Thảo :

"Ôi, những Tấm Lòng Vàng
 Thâm tình cho bằng hữu
 Dẫu đôi bờ ngăn cách
 Soi sáng cả tâm can"

Cám ơn các Chị nhiều .

Thân,

An & Thảo 

 Xin cám ơn tất cả các bạn.

Minh Tâm 


Quốc hoa các nước ASEAN trên áo dài Việt đẹp lung linh


TTO - Những bộ áo dài có họa tiết quốc hoa các quốc gia ASEAN được trình diễn trong chương trình nghệ thuật chào mừng ngày thành lập cộng đồng ASEAN ở TP.HCM đêm 30-12.

Quốc hoa các nước trên áo dài Việt tại chương trình nghệ thuật chào mừng ngày thành lập cộng đồng Asean. Ảnh: Hữu Khoa
Quốc hoa các nước trên áo dài Việt tại chương trình nghệ thuật chào mừng ngày thành lập cộng đồng Asean. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa sim trên áo dài Việt quóc hoa của nước Brunei. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa sim trên áo dài Việt quóc hoa của nước Brunei. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Rumdul tren áo dài Việt quốc hoa của Campuchia. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Rumdul tren áo dài Việt quốc hoa của Campuchia. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa nhài, lan mặt trăng và hoa xác thối quốc hoa của Indonesia trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa nhài, lan mặt trăng và hoa xác thối quốc hoa của Indonesia trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Đại – quốc hoa của Lào trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Đại – quốc hoa của Lào trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Râm Bụt quốc hoa của Malaysia trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Râm Bụt quốc hoa của Malaysia trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa dáng hương mắt chim quốc hoa của Myanmar trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa dáng hương mắt chim quốc hoa của Myanmar trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa nhài Ả Rập quốc hoa của Philippines trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa nhài Ả Rập quốc hoa của Philippines trên áo dài Việt. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Lan quốc hoa của Singapore. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Lan quốc hoa của Singapore. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Muông hoàng yến quốc hoa của Thái Lan. Ảnh: Hữu Khoa
Hoa Muông hoàng yến quốc hoa của Thái Lan. Ảnh: Hữu Khoa


Hoa sen quốc hoa của nước Việt Nam.
Ảnh : Hữu Khoa 

PHU NHÂN TRONG ÁO LỤA

                                     


Gần đây một cuốn sách viết về bà Ngô Đình Nhu của tác giả Monique B Demery có tên là "Finding the Dragon Lady - The mystery of Vietnam's Madame Nhu "  do nhà xuất bản Public Affaires phát hành tháng 5 năm 2013, đã được dịch lại và xuất bản ờ Saigon. 

ĐSTV xin gửi đến  các bạn và độc giả bài viết của một cựu nữ sinh Trưng Vương Trần thị Vĩnh Tường viết về một chi tiết của bà Ngô Đình Nhu mà ít người nhớ đến, cùng những cảm xúc khi nhớ về tà áo lụa ngày xưa. 




                                                                                    


PHU NHÂN TRONG ÁO LỤA

Trần thị Vĩnh- Tường

(NCTG) “Từ 1963 tới nay, cái đám đàn ông học ở đâu cái thói “nói xấu đàn bà là thú vui thần thánh” cóc biết gì hùa nhau viết về bà Nhu cứ như hàng xóm. Không ai nhớ một điều vô cùng đẹp từ cô tiểu thư xuân thì 15 tuổi trở thành phu nhân quí phái: Bà Nhu mặc hàng nội hóa nhiều hơn là hàng lụa nhập cảng từ Ý, Thái, Ấn Độ, Ba Tư”.

                                 Đệ Nhất Phu Nhân Trần Lệ Xuân (1924-2011) - Ảnh tư liệu

Triều đại nào lỡ lọt vào tay các sử gia cũng sẽ thành chuyện kể nhiều kỳ dằng dặc. Lịch sử không phải lúc nào cũng cung đao bom đạn hay tướng tá mặt sắt đen sì gươm giáo leẻng keẻng làm nhân gian quên rằng trang sử đôi lúc rất êm rất tình. Thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa (1954-1963) tình êm nhất là tình ủ trong áo lụa.

Một cuốn sách về Bà Nhu vừa xuất bản ở Sài Gòn với tựa đề dịch không sát nhưng rất ngang xương là “Madam Nhu Trần Lệ Xuân - Quyền lực Bà Rồng” (nguyên tác “Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu”, tác giả Monique B Demery do Nhà xuất bản Public Affairs phát hành tháng 5-2013). Theo một bạn nhà báo người Sài Gòn xưa, Vũ Ngọc Nhạ nói ông Diệm là Bạch Long - ông Nhu là Thanh Long - nếu đúng vậy thì bà Nhu phải là Thanh Long Đại Công Nương ... Cho có mùi kiếm hiệp. Đã vậy, không phải Long thường mà là “Hỏa Long Đại Công Nương”.

Tôi vừa đặt mua qua amazon.com xem Demery viết gì. Nếu dịch, tôi sẽ dịch ý “Đì tìm Bà Nhu, Phu Nhân Bão Tố Việt Nam” hơn là sát xà bông là “Bà Rồng”. Biết dịch giả ở đâu tôi sẽ hẹn so gươm hay đấu súng sau một chầu cà phê Liégeois ai thua phải trả tiền. 
 Hay bao giờ rảnh sẽ viết “Từ Ỷ Lan Phu Nhân tới Trần Lệ Xuân Áo Lụa” để nhớ hai khuôn mặt cách nhau gần một ngàn năm, một người hái dâu tằm một người mặc áo lụa, cả hai đều để lại trang sử vô cùng độc đáo.

Bài viết ngắn này như lời chào gương mặt hoa trong áo lụa không chỉ xinh đẹp mà còn rất giỏi, một cái giỏi định mệnh như cụ Nguyễn Du tiên tri: “Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Đó là bà Ngô Đình Nhu tên tiểu thơ là Trần Lệ Xuân, 15 tuổi “thay áo xanh theo chồng sang sông quên mái tranh quên con đò xưa”. 

Gia đình tôi vào Nam năm 1954. Mẹ tôi mới đầu may áo dài hàng phin nõn của Pháp. Khi có hàng “Vân nội hóa” thì mừng lắm nhớ khi “Em là con gái trong khung cửi” mà thời tao loạn ở ngoài Bắc đi tới đâu Mẹ cho hai chị học nghề tới đó, nhỡ lạc bầy có nghề mà sống khỏi đi ăn mày. Tôi chưa sinh ra nên không may mắn như hai chị, không biết làm hàng vàng chẳng biết nuôi tằm dệt tơ. 
Khi trong chợ Bến Thành tha thướt những miếng vải nội hóa đủ mầu, Mẹ và các chị mỗi tuần lượn vòng trong vòng ngoài ngắm lên ngắm xuống tôi đi theo mỏi cả chân phụng phịu đòi uống nước dừa.
 Vào học trường Trưng Vương mới hay gia đình bạn có xưởng dệt ở đường Chi Lăng Phú Nhuận. Hóa ra người Bắc di cư giấu trong tay nải may quàng cả tình yêu Hà Nội lẫn nghề dệt của tổ tiên. Xưởng mua tơ sống Tân Châu dệt thành hàng Vân nội hóa pha mầu hoa cúc hoa lan đẹp nõn đẹp nường gọi là Lụa Nội Hóa. Làng Tân Châu (tỉnh An Giang) sản xuất lụa Mỹ A đen tuyền và láng bóng như satin tuyết nhung Pháp nhưng bền hơn satin hợp cho phụ nữ miền Nam đi ghe đi xuồng. Trước 1975, một buổi sáng tơ vàng ở Tân Châu tôi mê mải lạc giữa vườn dâu ràn rụa nhớ nữ sĩ Đoàn Thị Điểm “Ngàn dâu xanh ngắt một màu. Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai”.




Nguời mở đầu trang sử áo dài Lụa chính là bà Ngô Đình Nhu vào thời miền Nam hớn hở đón thế hệ học sinh sinh viên vừa lớn sau những năm dài chinh chiến. Lụa Hà Đông, cơn sốt mát rượi cháy bỏng thân hình xử nữ thanh tân nữ sinh Sài Gòn. Đúng ra phải gọi là Lụa Sài Gòn hay Lụa Tân Châu vì sau 1954 hai miền Nam-Bắc tuyệt đối không hề liên lạc ngoại trừ vài tấm card thăm hỏi gia đình một năm một lần do Ủy Hội Quốc Tế chuyển. Ông ngoại mất ở Hưng Yên năm sau mới nhận được tin, Mẹ tôi mắt đỏ cay xé vội đôi vành khăn trắng muộn màng vọng về Bắc. Sông Bến Hải chia đôi nhưng Lụa nối không gian hai miền Nam Bắc. Từ tơ tằm, Hà Đông dệt nhiều loại lượt, là, lĩnh, lụa, xuyến, lương, đoạn, vân, gấm, vóc, sa... Chị Cả Hà Đông không ngờ cô Út Sài Gòn nhớ mình dệt Lụa Hà Đông.

Trần Bích Lan tức thi sĩ Nguyên Sa học Triết ở Đại học Sorbonne bên Pháp về Sài Gòn năm 1955. Với ông mục tiêu của triết học là thông cảm là tìm ra ý nghĩa cuộc đời hơn là reo hò “giết giết nữa đi” nên thơ có nắng Sài Gòn mát anh mát ả có sông Seine bỡ ngỡ vui ả vui anh. Năm 1957 Nguyên Sa Trần Bích Lan làm bài thơ “Áo Lụa Hà Đông”:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng.

Thơ Nguyên Sa như cô tiên Giáng Kiều ở ngõ Bích Câu Hà Nội từ trong tranh bước ra say mê nhân gian không trở vào tranh nữa. “Bích Câu kỳ ngộ”, tiểu thuyết chữ Hán trong tập “Truyền Kỳ Tân Phả” của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Hà Nội hiện nay có còn phố Bích Câu không?

Nữ sinh Sài Gòn sợ thơ Nguyên Sa bay mất nên rủ nhau may áo Lụa Sài Gòn nhưng nhất định gọi là Lụa Hà Đông. Nam sinh níu áo nàng thơ giữa sân trường dúi vào tay câu thơ Nguyên Sa:
Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở xung quanh.

Từ 1963 tới nay, cái đám đàn ông học ở đâu cái thói “nói xấu đàn bà là thú vui thần thánh” cóc biết gì hùa nhau viết về bà Nhu cứ như hàng xóm. Không ai nhớ một điều vô cùng đẹp từ cô tiểu thư xuân thì 15 tuổi trở thành phu nhân quí phái: Bà Nhu mặc hàng nội hóa nhiều hơn là hàng lụa nhập cảng từ Ý, Thái, Ấn Độ, Ba Tư. 
Ngay bây giờ lụa Hermès, Mossul, Thượng Hải cũng không dệt loại Vân này. Bà Nhu có một tội lớn lắm, tội quá đẹp lại còn quá giỏi giữa một dòng sông lúc nhúc đàn ông ganh tị hơn Tấm Cám. Bà dám ăn dám nói dám vẽ ra chiếc áo khoét cổ “lăng loàn”. Bàn tay đẹp đủ mê từng ngón nhưng thời đó đố ai dám mê. Bà mang địa vị Đệ Nhất Phu Nhân vì ông anh tổng thống Ngô Đình Diệm không lập gia đình.

                                  

Trên ít nhất ba photo trên tờ “Life”, bà Nhu đều đeo chiếc broche gài trên áo đỏ đủ hiểu bà không nhiều nữ trang như địa vị bà có thể. Chọn lọc từng màu áo, từ áo lụa Vàng hoàng hậu với nữ trang nhận turquoise xanh Ba Tư...



... tới áo Trắng in hoa Cúc nên chị dẫn đi mua vải ở tiệm Hồng Hoa đường Phan Bội Châu bên hông chợ Sài Gòn tôi cũng chọn hoa cúc cho áo đồng phục trắng Trưng Vương.




Lần đầu tôi mặc áo dài không dám thở sợ rách. Bà nội dặn rách cũng phải giữ lấy lề, phải tập giữ gìn áo dài giặt bằng nước chanh không giặt xà bông, không phơi ngoài nắng lót khăn ướt mà ủi áo lụa mới bóng hoài. 

Hàng Vân hoa to như áo Hồng Vỏ Đỗ này rất hiếm, hai chị tôi bắt chước nhịn ăn sáng có tiền may áo mặc rón rén chỉ sợ áo nhàu đi đứng khoan thai điều điệu cứ tưởng mình là Giáng Kiều trong tranh tố nữ.




Ngô Đình Lệ Thủy ăn mặc đơn giản chọn màu nhã nhặn rõ là con nhà sang từ trong trứng. Mặt dây chuyền hạt trai cũng theo bà Nhu xuất hiện ít nhất trong ba lần khác nhau. Thời đó chuỗi hạt trai mắc lắm nên chỉ đeo một hạt. Lời đồn đoán về gia tài đồ sộ của bà Nhu có thể không phản ảnh trên nữ trang có vẻ khiêm nhường.


Trăm quan mua lấy miệng cười. Hai miệng cười không thắm được lâu. Lệ Thủy mất trong một tai nạn xe hơi ở Pháp khi mới 22 tuổi. Tôi không tin đó là tai nạn. Một thế lực bắt bà Nhu phải im miệng suốt đời để giữ bí mật nào đó? Bao giờ rảnh tôi sẽ tuốt kiếm tìm cho ra manh mối có phải loài người ác tới theo đuổi một gia đình cô độc mẹ góa con côi quá nhiều cái chết thảm khốc. Tôi cũng tuốt kiếm hầm hầm nếu ai dám chê bai đàn bà con gái chúng tôi ăn nhiều nói lắm không chịu thương ít chịu khó hiếm nhịn nhục kém hy sinh, thỉnh thoảng còn xúi nhau: “Ái chà chà! Con vợ mày đoảng! Mày tát nó một cái vỡ mặt cho tao”...
Nói vậy cho ngon chứ kiếm đâu mà tuốt! Tuốt làm gì cho phí cho hoài!

Nếu ngộ ra trong thơ Nguyên Sa rằng:
 Cuộc đời dẫu có phù vân.
Ở trong mây nổi có phần thiên thu.

Cả thi sĩ lẫn bao người Áo Lụa đều đã qua đời. Phần thiên thu để lại, phải chăng là mùa thu tóc ngắn nhờ nhân gian giữ hộ mầu áo lụa Hà Đông
 Có ai cùng tôi vẫn yêu màu áo ấy vô cùng? Hay chỉ đi qua mà không bảo gì nhau?
(Viết cho linh hồn chị, thích Áo Lụa và thơ Nguyên Sa)
Trần Thị Vĩnh-Tường, từ California - Ngày 15-2-2016

Nguồn từ:
http://nhipcauthegioi.hu/Van-hoa/PHU-NHAN-TRONG-AO-LUA-5034.html


Feb 16, 2016

Sự khác biệt thức ăn Việt và Tàu !

Sự khác biệt thức ăn Việt và Tàu 
GS Trần văn Khê

Thật ra, tôi rất ngại khi cầm viết ghi lại những câu hỏi đã trả lời cho những bạn bè người nước ngoài khi họ hỏi tôi : Người Việt Nam ăn uống thế nào ? Hay là cách nấu ăn của người Việt có khác người Trung Quốc hay chăng ? Vì đó chỉ là những phần nhận xét đã được nhanh chóng đúc kết để đưa ra những câu giải đáp kịp thời chớ không phải do một sự sưu tầm có tính cách khoa học. Trong câu chuyện, một vài bạn trong báo Tuổi Trẻ thấy nhận sét sơ bộ của tôi có phần nào lý thú, nghe vui tai nên nhờ tôi ghi ra thành văn bản. Nể lời các bạn, tôi xin gởi đến các bạn đọc vài mẩu chuyện có thật về cách ăn và nấu ăn của người Việt chúng ta, và xin các tay nghề nấu ăn trong nước đừng cười tôi dốt hay nói chữ, dám múa búa trước cửa Lỗ Ban, đánh trống trước cửa nhà Sấm.
Trong một buổi tiệc, một anh bạn Pháp hỏi tôi: – Chẳng biết người Pháp và người Việt Nam ăn uống khác nhau như thế nàỏ – Tôi rất ngại so sánh . . . tôi trả lời . . . vì so sánh là biết rõ rành mạch cả hai yếu tố để so sánh. Thỉnh thoảng tôi có ăn uống theo người Pháp nhưng làm sao biết cách ăn của người Pháp bằng người Pháp chính cống như anh. Tôi thì có thể nói qua cách ăn uống của người Việt chúng tôi. Để cho anh dễ nhớ, tôi chỉ đưa ra ba cách nấu ăn của người Việt, rồi anh xem người Pháp có ăn như vậy chăng ? Người chúng tôi ăn toàn diện, ăn khoa học, ăn dân chủ.
1- Ăn toàn diện: Chúng tôi không chỉ ăn bằng miệng, nếm bằng lưỡi, mà bằng ngũ quan. Trước hết ăn bằng con mắt, và do đó có nhiều món đem dọn lên, nhiều màu sắc chen nhau như món gỏi sứa chúng tôi chẳng hạn: có giá màu trắng, các loại rau thơm màu xanh, ớt màu đỏ, tép màu hồng, thịt luộc và sứa màu sữa đục, đậu phộng rang màu vàng nâu v. v. . . Có khi lại tạo ra hình con rồng, con phụng, trong những món ăn nấu đãi đám hỏi, đám cưới. Sau khi nhìn cái đẹp của món ăn, chúng tôi thưởng thức bằng mũi, mùi thơm của các loại rau thơm như húng quế, ngò, hoặc các mùi đặc biệt của nước mắm, của cà cuống. Răng và nứu đụng chạm với cái mềm của bún, cái dai của thịt luộc và sứa, cái giòn của đậu phộng rang để cho xúc cảm tham gia vào việc thưởng thức món ăn sau thị giác và khứu giác. Rồi lỗ tai nghe tiếng lốc cốc của đậu phộng rang, hay tiếng rào rào của bánh phồng tôm, hay tiếng bánh tráng nướng nghe rôm rốp. Sau cùng lưỡi mới nếm những vị khác nhau, hòa hợp trong món ăn: lạt, chua, mặn, ngọt, chát, the, cay v. v. Chúng tôi ăn uống bằng năm giác quan, về cái ăn như thế gọi là ăn toàn diện.
2- Ăn khoa học : Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở Nhật Bổn thường hay sắp các thức ăn theo “âm” và “dương” Nói một cách tổng quát thì những món nào mặn thuộc về dương, còn chua và ngọt thuộc về âm. Người Việt thường trộn mặn với ngọt làm nước mắm, kho thịt, kho cá, rang tép, ướp thịt nướng, luôn luôn có pha một chút đường; mà ăn ngọt quá như chè, ăn dưa hấu hay uống nước dừa xiêm thì cho một chút muối cho âm dương tương xứng. Người Tây khi ăn bưởi thật chua lại cho thêm đường, đã âm lại thêm âm thì âm thịnh dương suy, không đúng theo khoa học ăn uống. Người Việt phần đông không nghiên cứu về thức ăn, nhưng theo truyền thống của cha ông để lại thành ra ăn uống rất khoa học. Người Việt chẳng những để ý đến quân bình âm dương giữa các thức ăn mà còn để ý đến quân bình âm dương giữa người ăn và thức ăn.
Khi có người bị cảm, người nấu cháo hỏi: cảm lạnh (bị mắc mưa, đêm ra ngoài bị cảm sương) thì nấu cháo gừng vì cảm lạnh (âm) vào người phải đem gừng (dương) vào chế ngự. Nếu cảm nắng (bị mặt trời làm cho sốt) thì dương đã vào người phải nấu cháo hành (âm) . Lại nghĩ đến âm dương giữa người ăn và môi trường; mùa hè thời tiết có dương nhiều nên khi ăn có canh chua (âm) hoặc hải sâm (âm) ; mùa đông thời tiết có âm nhiều nên ăn thịt nướng. Ta có câu : “mùa hè ăn cá sông, mùa đông ăn cá biển” Quân bình trong âm dương còn thể hiện qua điếu thuốc lào, thuốc lá phơi và đóm lửa (dương) hít một hơi cho khói qua nước lã trong bình (âm) để hơi khói thuốc vào cơ thể, nguồn hút có cả dương và âm, không kể nước đã lọc bớt chất nicotine có hại cho buồng phổi. Chẳng những cân đối về âm dương mà còn hàn nhiệt nữa: thịt vịt hay thịt cá trê – hàn – thì chấm với nước mắm gừng – nhiệt. Cách ăn của người Việt Nam khoa học vì phù hợp với nguyên tắc âm dương tương xứng hành nhiệt điều hòa. Ngoài ra trong một món ăn thường đã có chất bột, chất thịt, chất rau làm cho sự tiêu hóa được dễ dàng.
3- Ăn dân chủ : Trên bàn dọn bao nhiêu thức ăn, nhưng chúng tôi có thể dùng những món chúng tôi thích, hoặc phù hợp với vấn đề bảo vệ sức khỏe của chúng tôi. Ăn ít hay ăn nhiều thì tùy theo sức chứa bao tử của chúng tôi, chớ không phải ăn những món không ăn được, hay là ăn không nổi. Như vậy cách của người Việt Nam rất dân chủ. Anh bạn người Pháp thích chí cười to : ăn toàn diện, chúng tôi chưa nghĩ đến là về thính giác, ăn mà nghe tiếng động là vô phép nên ăn bớt ngon. Ăn khoa học, thì chúng tôi chỉ nghĩ đến calory mà không biết âm dương và hàn nhiệt. Còn ăn dân chủ, thì hoàn toàn thiếu sót vì đến nhà chúng tôi có một thực đơn mà mỗi người một đĩa, ăn không hết sợ vô phép nên nhiều khi không ngon lắm hoặc quá no cũng phải cố gắng ăn cho hết. Tôi xin hoàn toàn hoan nghinh cách ăn của người Việt Nam. Về cách ăn uống Việt Nam lại có thêm :
4- Ăn cộng đồng : Thức ăn đầy bàn mà có một nồi cơm, một tô nước mắm để mọi người cùng xới cơm và chan nước mắm ở một nơi.
5- Ăn lễ phép : Con lớn lên đã theo học ăn, học nói, học gói, học mở. Học ăn là trước nhứt, khi ăn phải coi nồi, ngồi coi hướng.
6- Ăn tế nhị : Ăn ớt cử cách cắn trái ớt, có khi phải ăn ớt xắt từng khoanh, ớt bằm, ớt làm tương. Nước chấm nhứt là ở miền Trung rất tinh tế ăn món chi phải có nước chấm đặc biệt : bánh bèo, bánh lá, bánh khoái đều có nước chấm khác.
7- Ăn đa vị : Một miếng nem nướng đã có vị thịt, riềng, muối, tỏi, hành cuốn vào bánh tráng lạt lạt, có chút bún, rau thơm, ớt (cay), chuối sống (chát), khế (chua), tương (ngọt, mặn cay) có pha hột điều hay đậu phộng xay (béo). Ăn có năm vị chánh : ngọt, mặn, chua, cay, béo, có cả ngũ sắc đen (tương), đỏ (ớt), xanh (rau), vàng (khế chín), trắng (bánh tráng, bún). Ăn một miếng mà thấy 5 màu, lưỡi nếm 5 vị và có khi hơn thế nữa.
Một lần khác, một anh bạn của tôi khai trương một tiệm ăn lớn tại Paris. Anh có mời đài phát thanh và báo chí đến để cho biết rằng tiệm của anh có cả thức ăn Trung Quốc và Việt Nam. Các phóng viên muốn biết Việt Nam và Trung Quốc nấu ăn có khác nhau như thế nào Hai đầu bếp Việt Nam và Trung Quốc được mời ra để báo chí hỏi thì hai người đều khẳng định là cách nấu ăn rất khác, nhưng phải xuống bếp coi mới thấy. Nhà bếp nhỏ không chứa được mấy chục phóng viên, và ai cũng ngại hôi dầu hôi mỡ nên ông chủ tiệm nhờ tôi tìm câu trả lời cho các nhà báo. Tuy không phải là một chuyên gia về nghệ thuật nấu bếp, nhưng tôi cũng phải tìm câu trả lời thế nào để cho các nhà báo bằng lòng. Tôi mới nói rằng, tôi không đi vào chi tiết nhưng chỉ đưa ra ba điểm khác nhau trong cơ bản.
1/- Cách dùng bột: Người Việt Nam thường dùng bột gạo trong khi người Trung Quốc thích dùng bột mì, cho nên Việt Nam có phở, hủ tiếu, bún thang, bún bò, bún riêu; mà người Trung Quốc thì chuyên về mì nước, mì khô, mì sợi nhỏ, mì sợi lớn, mì vịt tiềm. Người Việt làm bánh đùm, bánh xếp, bánh cuốn, bánh hỏi; người Trung Quốc thì bánh bao. Chả giò người Việt Nam cuốn bằng bánh tráng bột gạo; còn người Trung Quốc thì cuốn tép trong bánh bằng bột mì.
2/- Nước chấm cơ bản của người Việt nam là nước mắm là bằng cá; còn nước chấm của người Trung Quốc là xì dầu làm bằng đậu nành.


3/- Người Việt thì thường pha mặn ngọt; người Trung Quốc thích chua ngọt. Chỉ nói đại khái như vậy mà các phóng viên đã hài lòng về viết bài tường thuật nêu lên những điểm khác nhau ấy. Ông giám đốc tạp chí Đông Nam Á, sau lời nhận xét đó, cho phóng viên đến phỏng vấn tôi thêm và hỏi tôi có biết yếu tố nào khác đáng kể khi nói về cách nấu ăn của người Việt khác người Trung Quốc ở chỗ nào. Tôi trả lời cho phóng viên trong 40 phút. Hôm nay tôi chỉ tóm tắt cho các bạn những điểm chính sau đây.


a/- Về rau : người Việt tuy có ăn rau luộc, hay xào; nhưng thích ăn rau sống, rau thơm, mà người Trung Quốc không ưa ăn rau sống, cải sống, giá sống.
b-/ Về cá : Người Trung Quốc biết kho, chưng, chiên như người Việt Nam. Nhưng người Trung Quốc có cá mặn không làm mắm như người Việt. Có rất nhiều cách làm mắm và ăn mắm: mắm thái, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm v. v. . . Các nước Đông Nam Á cũng có làm mắm nhưng không có nước nào biết làm nhiều loại mắm như người Việt.
c/- Về thịt : Người Trung Quốc biết quay, kho, luộc xào, hầm như người Việt, mà không biết làm nem, bì và các loại chả như chả lụa, chả quế v. v. . .
d/- Người Trung Quốc ít có phối hợp nhiều vị trong một món ăn như người Việt. Khi chúng ta ăn một món ăn như nem nướng thì có biết bao nhiêu vị: lạt lạt của bánh tráng, bún, hơi mát mát ngọt ngọt như dưa leo, và đặc biệt của giá sống trộn với khế chua, chuối chát, ớt cay, đậu phộng cà bùi bùi, và có tương mặn và ngọt. Người Việt trong nghệ thuật nấu ăn rất thích lối đa vị và tất cả các vị ấy bổ sung cho nhau, tạo ra một vị tổng hợp rất phong phú. Cái ăn chiếm phần khá quan trọng trong đời sống của chúng ta.
Khi dạy dỗ một trẻ em thì phải cho nó học ăn, học nói, học gói, học mở để biết ăn, nói với người ta. Ra đường phải biết “ăn bận” hay “ăn mặc” cho phải cách phải thế. Đối với mọi người không nên “ăn thua” làm chi cho bận lòng. Làm việc gì phải cẩn thận “ăn cây nào, rào cây nấy”. Trong việc tiêu tiền phải biết “liệu cơm, gắp mắm” và dẫu cho nghèo đi nữa “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Không nên ham ăn quá độ vì ” no mất ngon, giận mất khôn”. Ra làm ăn phải quyết tâm đừng ” cà lơ xích xụi” chạy theo ” ăn có” người khác. Phải biết ” ăn chịu” với người làm việc nghiêm túc thì công việc khỏi bị “ăn trớt”. Không nên “ăn gian, ăn lận” hay bỏ lỡ cơ hội thì “ăn năn” cũng muộn. Trong cuộc sống nên tìm việc làm hữu ích cho gia đình, cho xã hội, cho đất nước đừng để mang tiếng “ăn hại” “ăn bám” người khác. Khi đàn chơi phải biết lên dây đàn cho” ăn” với giọng ca, hòa đàn cũng phải “ăn” với nhau, “ăn ý” , “ăn rơ” thì mới haỵ
Các bạn thấy chăng ? Cái “ăn” cũng khá quan trọng nên mới lọt vào một số từ ngữ của tiếng nói Việt Nam. Tuy chúng ta không như người Trung Quốc ”dĩ thực vi tiên” nhưng phải có ăn mới làm nên việc vì có “thực mới vực được đạo”.
Giáo sư Trần Văn Khê

-------
Xì dầu và Nước Mắm




Thời thơ ấu, tôi lớn lên trong một thành phố nhỏ miền Trung, một thành phố nghèo nàn, quanh quẩn có mấy con phố chính, “đi dăm phút đã trở về chốn cũ.” Những nhân vật của thành phố này, trong ký ức bề bộn của gần 70 năm qua, tôi còn nhớ rõ, lạ lùng đối với tôi là những nhân vật người Hoa. Trên con đường ra chợ, tôi ít khi dám nhìn thẳng vào những ngôi nhà người người Hoa, với bàn ghế chất đầy, những khung ảnh treo la liệt trên tường và nhân vật làm tôi sợ hãi nhất là một bà già, chân bó những lớp vải dày, khuôn mặt quắt queo như xác ướp, với những móng tay dài, cong vút thường ngồi bất động trên một chiếc ghế, nhìn ra đường.
Trong thành phố này, hình như tất cả việc buôn bán đều tập trung vào những gia đình người Hoa, có lẽ đã đến đây cả trăm năm trước khi tôi ra đời. Ở đây tôi không thấy những nhân vật những người Hoa nghèo khó như người Hoa bán lạc rang hay đẩy xe mì gõ như sau này khi lớn lên, tôi thấy ở Sài Gòn và Chợ Lớn. Trong thành phố này có một tiệm thuốc Bắc với bảng hiệu mang theo chữ “Ðường,” đại khái như Tế Sinh Ðường hay Thiên Lương Ðường, mà tôi thường lãnh nhiệm vụ mang cái phái thuốc của ông cụ tôi đến “bổ” mấy thang.
Có hai tiệm ăn nằm ở hai con đường khác nhau, mang chữ “Ký” ở đàng sau, tôi không còn nhớ rõ là Nhuận Ký hay Minh Ký, trông cũng tối tăm, với những chiếc bàn ghế xỉn màu, mà tôi nghĩ chỉ có những người sang trọng mới đủ tiền để vào ăn! Tôi vẫn ao ước có dịp đến đó, như để ăn một bát mì hay được sở hữu một cái bánh bao, nhưng không bao giờ có dịp, cho đến lúc tôi chưa lên được lớp ba, thì cha tôi đổi việc làm, gia đình dời đi thành phố khác.
Hầu hết tiệm buôn trong chiếc chợ nhỏ đều do người Hoa làm chủ. Hai đại lý gạo, một hai tiệm bán dầu hỏa, một đại bài rượu, những tiệp “chạp phô” bán đủ thứ gia dụng, từ đường, muối, mè, đậu, bột… mà tôi thường thấy những nông dân mang lên thành phố bán cho họ, cũng như những tiệm buôn nhỏ ở nhà quê, hay người tiêu dùng thường xếp hàng dài trước các tiệm buôn này để “cất” hàng.
Trong ngôi chợ nhỏ này, tôi chỉ nhớ người Việt có một cái chợ cá, ồn ào, hối hả, một khu khác bán rau cỏ, những tiệm bán nồi niêu bằng đất, đồ nhôm, than củi, hai tiệm bán vải vóc, chăn chiếu. Nhưng những món cần thiết khác cho đời sống như gạo, muối, đường thì chỉ có thể tìm thấy ở những tiệm buôn người Hoa.



Trong ý nghĩ của một đứa trẻ, tôi nghĩ trong thành phố này, nếu không có người Hoa, gia đình tôi sẽ không có cơm, chén nước mắm, hạt muối hay ly chè hay chén xôi để ăn hay một chai rượu cho cha tôi và bạn bè. Trong thành phố này tôi không thấy người Hoa nào làm nghề kéo xe, đi làm thuê hay ngồi xin ăn bên vệ đường.
Mẹ tôi thường khen người Hoa buôn bán thật thà, không nói thách, không lừa dối khách hàng, trọng chữ tín và có tinh thần tương trợ, giúp đỡ nhau tận tình. Tôi không biết rõ những người Hoa trong cái thành phố nhỏ năm xưa ấy thuộc người Quảng Ðông, Tiều (Triều Châu), Hải Nam, Phúc Kiến, hay là người Hẹ (Hạ Phương), nhưng thấy họ có trường học, chùa miếu và nghĩa trang riêng.
Tuy người Việt từ xưa đã từng có thời gian lệ thuộc Trung Hoa nhưng vẫn có cái nhìn miệt thị đối với dân họ, ngoài cách gọi riêng theo gốc gác như người Quảng, người Tiều, người Hẹ, người Hán, người Ngô, còn thì chung chung người Hoa được gọi là Khách Trú, Ba Tàu, Các Chú, Chú Chệt, Chú Khách, Tàu Khựa, Tàu Phù, Tàu Ô…
Người Hoa ít khi gả con gái họ cho người Việt, nhưng trong thành phố nhỏ ngày xưa đó và cả sau này, tôi thấy nhiều cô gái Việt lấy chồng người Hoa. Ngày nay gần như người Hoa đã bị đồng hóa, có chăng chỉ còn lại những cái tên, khuôn mặt và giọng nói.



Chợ lớn nay
Thời Pháp thuộc cho mãi đến năm 1954, vùng Chợ Lớn được xem như lãnh địa của Hoa kiều, phố xá, bảng hiệu chằng chịt chữ Hán. Dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, Hoa kiều muốn sinh sống làm ăn phải nhập tịch Việt Nam, hoặc ra khỏi nơi đây. Các bảng hiệu, tên họ phải viết lại bằng tiếng Việt. Tuy vậy, hầu hết trong các nước Ðông Nam Á, người Hoa thao túng nền kinh tế, các mặt hàng trọng yếu, mua chuộc các giới chức chính quyền từ trên xuống dưới. Ngay ở miền Nam trước đây, mùa Trung Thu, đường trở nên khan hiếm. Gạo, sữa và các nhu yếu phẩm đều nằm trong tay các chủ nhân Hoa kiều. Người Hoa nổi tiếng là hối lộ giỏi, kín đáo. Những chức vụ quận trưởng, cảnh sát trưởng các địa phương đông người Hoa đều là những chức vụ béo bở, không phải là họ hàng thân tín, thì cũng phải chạy bằng tiền.
Vụ “trở cờ” lớn nhất của Hoa kiều tại Việt Nam là sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, khi quân Bắc Việt tràn vào Sài Gòn, Chợ Lớn đồng loạt treo cờ Trung Cộng đỏ rực cả một vùng, nhưng sau đó là cờ này phải hạ xuống và khi việc đánh tư sản bắt đầu, Hoa kiều là những nạn nhân đầu tiên. Cuối cùng một số người Hoa trở về cố quốc qua biên giới phía Bắc, phần bỏ nước Việt ra đi tị nạn, vượt biển, tăng con số Hoa kiều ở Châu Mỹ lên cao, trong khi đó gần đây qua các doanh nghiệp và công trình được ký kết giữa Việt Cộng và Trung Cộng, một số người Hoa lại tràn sang Việt Nam. Cuối cùng đi đâu cũng thấy người Hoa!

Nhiều khi tôi tự hỏi, ngày xưa, không biết người Hoa rời đất nước họ bằng phương tiện gì và cái bản năng sinh tồn, ý chí kiếm sống của họ mạnh đến mức nào mà trên trái đất này không có chỗ nào là không có mặt họ? Từ thế kỷ 16, 17 người Hoa đã bỏ nước ra đi, để ngày nay họ có 40 triệu người ở hải ngoại, Châu Á có 31 triệu ở Singapore, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Malaysia, Cambodia, Lào, Việt Nam, và ngay tại Mỹ cũng có trên 3.5 triệu người Hoa sinh sống.
Người Hoa bỏ xứ ra đi vào những năm cuối thế kỷ 17 cho đến đầu thế kỷ 18 để tránh sự đàn áp của chế độ nhà Thanh (phản Thanh phục Minh) nhưng thực tế là những đợt di dân ồ ạt vì sinh kế. Câu chuyện ông Hui Bon Hoa ở Sài Gòn, lập nghiệp từ một gánh ve chai trở thành tỉ phú, đã nói lên khả năng cần cù, chịu khó và làm thương mãi giỏi của người Hoa trên thế giới.
Khi lớn lên, ra đời, đi xa, ở đâu tôi cũng thấy có sự hiện diện của người Hoa như câu nói “Ở đâu có khói là có người Tàu!” Móng Cáy, Lào Cai… là biên giới cực Bắc đã đành, vì sao tận cùng phía Nam của nước Việt, Cà Mau, Châu Ðốc, Hà Tiên đi đâu cũng đụng người Hoa, đến nỗi xứ Bạc Liêu có câu ca dao được truyền tụng: “Bạc Liêu nước chảy lờ đờ, dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu!”





China Town Los Angeles 

Bây giờ ở Mỹ, đi thành phố nào cũng thấy “China Town,” xứ nào phát triển thương mãi nhiều thì xứ đó có nhiều người Hoa như San Francisco, Los Angeles, New York… mà không phải ở Châu Mỹ, cả đến những xứ xa xuôi như Ghana, Haiti, Thổ Nhĩ Kỳ, Romania… cũng có người Hoa.
Ít khi thấy người Hoa mang ơn đất nước đã cho họ đời sống mới, chỉ thấy gián điệp Trung Cộng có mặt khắp nơi, trong các địa hạt chính trị, quốc phòng, thương mãi… Nói chung nước nào cũng sợ người Hoa!

Bị lệ thuộc Tây Ban Nha trong vòng 300 năm, gia tài văn hóa truyền thống của Mexico đã bị phá hủy, ngày nay đất nước này có số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha cao nhất trên thế giới và tôn giáo chủ yếu tại đây là Công Giáo La Mã. May mắn, với gần 1,000 năm lệ thuộc, người Việt chưa ai nói tiếng Hoa, có chữ viết, phong tục riêng, chiếc áo dài có thể gài bên tay phải thay vì gài nút bên tay trái, nhưng rõ ràng là chúng ta chưa “mất gốc.”
Tuy trong đời sống của mỗi người Việt Nam hình như đều có một chút văn hóa người Hoa, một ấm trà, một câu thơ, một bức tranh thủy mạc, coi tuồng Hồ Quảng, hương khói, nhang đèn mù mịt, ngày nay người ta đem cả đoàn lân vào trong chánh điện nhà chùa, nhưng rồi cuối cùng trong bữa cơm cũng phải có một chén nước mắm thay vì… xì dầu.


Nancy Quách sưu tầm