Apr 13, 2025

BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN -Tác giả: Trịnh Cung.

 BI KỊCH TRỊNH CÔNG SƠN

Tác giả: Trịnh Cung. 

FB_IMG_1743831441530.jpg

 LGT: Trịnh Cung, hoạ sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn, tên thật là Nguyễn Văn Liễu, sinh năm 1938 tại thành phố Nha Trang. Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1962, dạy học tại các trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế và Gia Định từ năm 1970 đến năm 1973 và đã từng là sĩ quan Quân lực VNCH. Hiện ông sống tại Sài Gòn cùng vợ là nhà thơ Phương Lan và con trai.

Năm 1994 ông có triển lãm cá nhân tại Paris, năm 1996 tham gia thỉnh giảng về mỹ thuật tại Đại học San Francisco State University. Năm 1997 ông tổ chức triển lãm cá nhân tại Orange County và Washington DC, năm 1998 có triển lãm cá nhân tại Los Angeles. Năm 1999 ông thỉnh giảng về mỹ thuật tại Đại học Indiana. Năm 2007, ông đọc tham luận Hội hoạ Việt Nam từ chiến tranh đến hoà bình tại Đại học Bang Massachusette, Hoa Kỳ. Năm 2008, đọc tham luận Mỹ thuật Việt Nam thời chiến tranh và hậu quả tại Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia Singapore (Singapore Art Museum). Đầu năm 2009 Trịnh Cung đưa ra công chúng một bài viết về người bạn thân là nhạc sĩ quá cố Trịnh Công Sơn - Trịnh Công Sơn & tham vọng chính trị, gây nhiều tranh cãi trong giới văn nghệ sĩ.
Xin giới thiệu một bài viết của Trịnh Cung về nhạc sĩ quá cố Trịnh Công Sơn để chúng ta có thể hiểu thêm những góc khuất trong cuộc đời của một người nghệ sĩ tài hoa, được đại đa số công chúng đón nhận nhưng cũng không ít người chê bai phê phán – Đó là “Bi kịch” của Trịnh Công Sơn…
Hoài Nguyễn – 16/3/2017

----------------------------------

Tôi gặp Trịnh Công Sơn vào năm 1958 tại Huế; lúc đó Sơn khoảng 17 tuổi và tôi 18 tuổi. Chúng tôi chơi với nhau vì cùng tâm hồn thi ca, và bởi vì lúc đó tôi chưa hề là họa sĩ.
Sơn thích thơ của tôi và đã phổ bài "Cuối cùng cho một tình yêu" năm đó. Trước đó, Trịnh Công Sơn đã viết "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi". Ngôn ngữ của "Ướt Mi", "Thương một người" và "Nhìn những mùa Thu đi" còn nhẹ nhàng, và còn có gì đó ảnh hưởng của Ðặng Thế Phong trong "Giọt Mưa Thu" hoặc "Buồn Tàn Thu" của Văn Cao - nhưng đến khi Sơn phổ nhạc bài thơ của tôi, nhạc của Sơn bắt đầu một chương khác, do ngôn ngữ của bài thơ lúc đó rất là mới. Tôi đã dùng những chữ "đói", "mỏi" trong thơ, mà lúc này Sơn lại thích bài thơ đó.
Tuy nhiên theo tôi, bài Diễm Xưa của Sơn mới là mở đầu của một TCS hoàn toàn mới lạ và cực kỳ hấp dẫn trong nhạc trẻ, giới trẻ hồi đó.

 

Cuộc đời của Sơn là một bi kịch. Ba Sơn mất lúc anh đang học ở Chasseloup-Laubat (Jean-Jacques Rousseau) - một trường dạy chương trình Pháp - và đang chuẩn bị thi «bac» thì Sơn phải bỏ học để về chịu tang ba.
Sơn rất giỏi thể thao. Anh tập 10 môn phối hợp rất được chú ý ở trường học. Sơn cũng giỏi về NhuÐạo và Boxing. Trong một buổi dợt với người em là Trịnh Quang Hà - anh đã bị một cú choàng vai, và bị tổn thương phổi rất nặng, nên phải bỏ cuộc, và nằm dưỡng bệnh hai năm. Nếu Sơn không bị những sự kiện đó, tôi nghĩ là Sơn sẽ đi học ở Paris và sẽ trở thành một tiến sĩ, một bác sĩ, một kỹ sư ... chớ không phải là một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Tôi cho biến cố đó đã đặt Trịnh Công Sơn vào tình trạng cô đơn, tuyệt vọng. Sơn tập chơi guitare, tự học guitare với một người bạn, rồi sau đó viết ca khúc "Ướt Mi", "Nhìn Những Mùa Thu Ði".
Khi tôi gặp Sơn, thì anh đã bình phục - Sơn không có điều kiện trở lại Sài Gòn để học tiếp ở Chasseloup Laubat vì gia đình anh bị phá sản,
Sau đó - để tránh cho Sơn khỏi phải đi quân dịch, một số bạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha đã giúp Sơn thi vào trường Sư phạm Quy Nhơn.
Ca khúc Biển Nhớ đã ra đời tại trường sư phạm Quy Nhơn - trong thời gian này. Và nhân vật để Sơn viết bài Biển Nhớ là một người bạn gái có tên là Khê, nên có cái câu "Ngày mai nối bước Sơn Khê."
Sau đó Sơn lên B'Lao nhận chức trưởng giáo của một trường Thượng có hai lớp, cách nhà trọ khoảng năm bảy cây số. Sơn phải đạp xe vào làng để dạy. Tôi lên thăm Sơn, và đưa Sơn ra Ðà Lạt để chơi cuối tuần - một căn phòng trọ với bốn bức vách đầy chim và bao thuốc lá Bastos - ở đó Sơn đã bắt đầu sự nghiệp âm nhạc của anh với những bài như Ðàn Bò Vào Thành Phố, như Khi Mặt Trời Ngủ Yên, như Tiếng Hát Dạ Lan. Và đó cũng là thời gian anh viết những ca khúc về thân phận, và những tình khúc. Ðó chính là thời điểm tôi và Sơn gặp Khánh Ly tại một phòng trà ca nhạc nhỏ ở Ðà Lạt.
Thật ra, người hát đầu tiên nhạc Trịnh Công Sơn và làm cho công chúng yêu nhạc Sài Gòn biết đến Sơn không phải là Khánh Ly mà là Thanh Thúy. Sau đó Trịnh Công Sơn viết bài Thương Một Người để tặng cho chị với câu: "thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi vai..."
Tuy nhiên, theo tôi, người giữ lái con đò âm nhạc của TCS trên dòng sông của đất nước chính là Khánh Ly kể từ khi Diễm Xưa ra đời. Cuộc gặp gỡ một cô ca sĩ bé nhỏ trông rất là nhếch nhác ở Ðà Lạt lại là một định mệnh. Sơn đi tìm một người ca sĩ trẻ - hoàn toàn vô danh và Sơn bắt đầu từ giọng hát của người ấy với sự tập luyện của chính anh, bởi vì lúc đó Sơn không quen biết những ca sĩ nổi tiếng của Sài Gòn. Và anh nghĩ dễ hơn là đi tìm một ca sĩ vô danh như Khánh Ly lúc đó. Ánh sáng của định mệnh đã chỉ cho Sơn đến với Khánh Ly - và từ đó Khánh Ly đã tìm được nơi nương tựa và nơi phát triển tiếng hát của mình lên đỉnh cao.
Chúng tôi khuyến khích Sơn về Sài Gòn, bỏ dạy học - một cái nghề không thích hợp và không xứng đáng với Sơn. Tôi có căn phòng rất nhỏ ở đường Trương Minh Giảng. Sơn từ Ðà Lạt về và đã ở lại với tôi trong nhiều năm. Căn phòng đó ở gần chợ Trương Minh Giảng, bên kia đường là nhà của Bùi Giáng - cũng trong một cái xóm nghèo.
Nhà tôi là nơi tạm trú đầu tiên của TCS khi anh về Sài Gòn. Chính họa sĩ Ðinh Cường một trong những người bạn rất thân với Sơn - cũng thường ghé đến đó. Ðôi khi ba chúng tôi ngủ chung trong một chiếc chiếu, và đã sống với nhau bằng đồng tiền dạy học của tôi.
Từ đó Sơn gặp anh em văn nghệ sĩ ở Sài Gòn. Anh bắt đầu xuất hiện tại sân trường Ðại Học Văn Khoa ở đường Lê Thánh Tôn nơi có trụ sở của Hội Họa Sĩ Trẻ và sau lưng đó là trụ sở của CPS nơi mà Ðỗ Ngọc Yến, Trần Ðại Lộc, Hà Tường Cát... đã hoạt động chương trình mùa hè ở đó.
Tại sân cỏ này, Sơn đã giới thiệu Khánh Ly và chị đã đi chân trần và hát cho sinh viên nghe. Rất nhanh họ trở thành thần tượng của tuổi trẻ Sài Gòn, do tính chất mới mẻ và trẻ trung của nó. Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành một hiện tượng âm nhạc ngay lúc đó.

 

Phong trào du ca, của anh Nguyễn Ðức Quang,... đã ra đời cùng thời điểm đó. Tôi cho đó là một thời điểm lịch sử - thật sự bùng nổ về văn nghệ của giới trẻ trong đó có chúng tôi - hội họa sĩ trẻ Việt Nam.
Chính thời đại đã sản sinh ra những hiện tượng như vậy và TCS và Khánh Ly đã là những khuôn mặt nổi bật trong giới trẻ bấy giờ.
Trịnh Công Sơn - nối tiếp cao trào đó - đã dấn thân thêm nhiều bước trong lãnh vực âm nhạc của mình gần gũi với xã hội, và thời cuộc đất nước hơn. Những Ca Khúc Da Vàng, rồi đến Kinh Việt Nam ra đời trong giai đoạn này. .
Người ta gọi nhạc Trịnh Công Sơn - ở một số ca khúc - là nhạc phản chiến. Tôi đồng ý với anh Phạm Duy, chữ "phản chiến" không đầy đủ ý nghĩa của nó, bởi vì chữ phản chiến nghe ra có vẻ kết án, có vẻ phải gánh chịu cái hậu quả của sự thất bại của Miền Nam. Tôi cho là chữ "thân phận" của người Việt thì khái quát hơn.
Một thanh niên Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào, vẫn đầy sự hồn nhiên, và vẫn đầy lòng lương thiện để có một lý tưởng cho dân tộc, cho sự công bằng, cho sự không đổ máu, cho sự đoàn kết, cho sự thương yêu ... và cái chất đó có hầu hết ở chúng ta, và có hầu hết ở các lứa tuổi đang bước vào Ðại Học ... nhưng tuổi trẻ không bao giờ lường trước được những âm mưu của chính trị - cho nên sự hồn nhiên đó phải trả giá.

 

Trịnh Công Sơn viết những bài Nối vòng tay lớn, Huế - Sài Gòn - Hà Nội 20 năm xa vẫn còn xa ... Ðể làm gì? Ðể ước mơ đất nước hòa bình thống nhất - để ước mơ anh em bắt tay nhau khi mà người di cư đã viết về "Hà Nội ơi ta nhớ...", thì rõ ràng không ai lại không nhớ Hà Nội nếu bỏ quê hương ra đi, không ai không muốn gặp lại người thân ... thì Trịnh Công Sơn đã đứng làm kẻ chịu vác cái thánh giá đó với bao nhiêu bi kịch sau đó .
Tôi và Sơn là hai người bạn, khác nhau hai hoàn cảnh. Tôi là sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chấp nhận đi Thủ Ðức bởi vì tôi không muốn sự bất hợp pháp. Tôi là một công dân tôi phải làm việc của người công dân, cho dù là chính quyền đó có thối nát, có gì đi nữa - tôi không chấp nhận sự bất hợp pháp cho nên tôi đi lính.

 

Tôi thi hành nghĩa vụ của mình. Còn Sơn thì khác, anh không chấp nhận chuyện đó, Sơn chỉ đi vì lý tưởng của mình.
Bởi vì chúng ta là những con người chọn dân chủ, chọn tự do thì phải tôn trọng tự do của kẻ khác; vì vậy cho nên chúng tôi vẫn chơi với nhau trong tình người, còn việc làm của ai thì người đó đeo đuổi riêng của họ.
Đến ngày 30 tháng Tư thì Sơn ở lại. Tôi nhớ buổi chiều đó, Ðỗ Ngọc Yến đến đón Sơn với một nhà báo Mỹ đề nghị Sơn đã có máy bay đưa gia đình Sơn đi Hoa Kỳ. Tôi rất muốn đi Hoa Kỳ nhưng mà Ðỗ Ngọc Yến lại không hỏi tôi. Sơn ở lại thì tôi cũng đành ở lại. Tôi thì đành thôi và sau đó thì tôi đi học tập ba năm.
Còn Sơn cũng không hơn tôi đâu. Khi các bạn đã rời khỏi đất nước ngày 30 tháng Tư, có lẽ các bạn không biết chuyện gì đã xảy ra cho Sơn. Sơn phải trốn ra Huế sau khi được đánh tiếng là sẽ bị thủ tiêu bởi vì tính chất hai mặt của Sơn trong âm nhạc và tính chất hai mặt của Sơn trong cuộc đời. Bởi vì Sơn là bạn của những nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn. Sơn đã từng viết Cho Một Người Nằm Xuống về cái chết của Lưu Kim Cương và đồng thời với Hai Mươi Năm Nội Chiến từng ngày, thì điều đó người cộng sản không chấp nhận. Tôi nghe kể lại cuộc họp ở trong khu người ta lên án Trịnh Công Sơn.
Chúng ta không biết bi kịch đó cho nên chúng ta có những ngộ nhận đáng tiếc. Sau đó Sơn phải về Huế để tìm một nơi nương tựa bởi vì ở đó Sơn có nhiều anh em. Anh hy vọng là họ sẽ giúp đỡ mình; nhưng, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, ở đây Sơn còn bị nặng hơn nữa là bị tố cáo tại các trường học, các biểu ngữ giăng lên. Sơn phải lên đài truyền hình Huế nhận lỗi của mình - mà người ta gọi là bài thu hoạch. Sơn rất khéo léo trong bài nhận lỗi đó. Chính Sơn kể cho tôi nghe - Hoàng Phủ Ngọc Tường không đồng ý bài đó, nói phải viết lại vì chưa thành thật. Bạn thấy chưa?
Người ta quyết liệt ghê gớm lắm trong sự kiểm soát. Sơn đã đóng cửa nhà mình, không tiếp Hoàng Phủ Ngọc Tường trong nhiều năm. Sau đó, Sơn phải đi thực tế, tức là đi để biết người nông dân cày bừa cực khổ như thế nào. Sơn đi trên những cánh đồng còn rải rác những chông mìn. Sơn đã thoát chết trong một lần; một con trâu đã cứu Sơn khi nó đạp quả mìn mà đáng lẽ Sơn sẽ đạp.
Bởi vì tài năng âm nhạc của Sơn quá lớn, cho nên trong số những người lãnh đạo đất nước đó, cũng có người khôn ngoan hơn, biết cách thức hơn để giữ Sơn lại bằng cách bao bọc cho Sơn khỏi những tình huống hiểm nghèo như vậy. Họ đã tìm cách đưa Sơn về Sài Gòn, trả lại hộ khẩu cho Sơn, tạo điều kiện để cho Sơn yên tâm sống ở Sài Gòn.

 

Rất nhiều người nghe nhạc Sơn thầm lén nhất là từ miền Bắc, trong đó có nhiều đảng viên cộng sản, nhưng không ai dám công khai thừa nhận nhạc của Sơn là tài sản của đất nước và Sơn không được phổ biến âm nhạc lúc đó - hiển nhiên âm nhạc hải ngoại là phản động. Ngay cả Sơn còn không được phổ biến, mà phải đợi một thời gian đổi mới và cải tổ. Vì vậy cho nên, Sơn là một bi kịch thu nhỏ của bi kịch đất nước. Và Sơn đã nghe được những luận điệu chống mình ở tại hải ngoại, nên Sơn rất sợ mặc dù có nhiều lời mời ở các đại học. Sơn đều không dám đi. Sơn từ chối, vì Sơn sợ cộng đồng ở đây sẽ đả đảo sẽ gây ra những nguy hiểm cho Sơn. Cho đến ngày Sơn mất. Có người đã về đề nghị đưa Sơn sang đây để thay gan cho Sơn miễn phí nhưng Sơn cũng từ chối.

 

Trong thời gian 25 năm sau ngày mất Sài Gòn, tôi cũng kẹt ở lại - tôi đã chơi với Sơn, và tôi đã không làm gì được cho Sơn - để Sơn bị một căn bịnh đã dẫn tới hậu quả tàn khốc, tức là nghiện rượu. Bởi vì buồn, bởi vì cô đơn, bởi vì không biết sử dụng thời gian để làm gì ... vì những ca khúc viết ra đều bị phê bình nặng nề - như bài "Em ra đi nơi này vẫn thế ..." ở bên này cũng kết án bài đó - ở bên kia lại kết án là "Tại sao đất nước đã thay da đổi thịt mà anh lại viết là em ra đi nơi này vẫn thế? Sài Gòn vẫn còn nguyên à?" Người nghệ sĩ luôn đi giữa hai lằn đạn! Có ai hiểu được là Sơn cô đơn như thế nào!
Và trong nhiều sáng tác của anh, nếu chúng ta tinh ý, thì chúng ta sẽ thấy tư tưởng của TCS. Sơn đã viết "Đường chúng ta đi, đi không bao giờ tới ..." Những ca khúc nói lên sự quạnh quẽ, sự tuyệt vọng, sự bất an của mình. Ðó là một dòng nhạc đặc biệt mà có người không hiểu chê là thua những ca khúc anh viết trước 75 để chỉ chấp nhận tình khúc của anh mà thôi. Chúng ta không biết đến một dòng nhạc triết lý và đầy đau thương đã ra đời một cách lặng lẽ âm thầm.
Ngay cả bài Nhớ mùa thu Hà Nội cũng đã bị cấm hai năm - chỉ vì câu - chỉ vì câu gì các bạn biết không? Mùa Thu - chữ Mùa Thu Hà Nội đã trở thành thuật ngữ Cách Mạng Mùa Thu - thì TCS đã viết "Từng con đường nhỏ sẽ trả lời cho ta ... đi giữa mùa Thu Hà Nội để nhớ một người và nhớ mọi Người ..."
Người ta đặt câu hỏi: Nhớ một người là nhớ ai? Và từng con đường nhỏ tại sao lại phải trả lời? Hà Nội, những con đường của Hà Nội tại sao lại phải trả lời? Trả lời cho ai? Trả lời cái gì? Ðó là nhớ Khánh Ly và Khánh Ly sẽ đem phục quốc về ... Với sự suy diễn như vậy , méo mó như vậy, bài hát đó đã bị cấm hai năm. Các bạn có biết cái nỗi đau của người sinh ra đứa con tinh thần như thế nào?
Và chúng ta sai hay đúng, hãy tự soi lấy mình - khoan kết án người khác sai hay đúng - bởi vì trong chúng ta cũng đều bị lừa dối !

 

Chúng ta đã trưởng thành chưa sau nhiều lần bị lừa dối về chính trị - thì chúng ta đừng trách Trịnh Công Sơn và đừng trách những người nghệ sĩ nhạy cảm và chân thật với cuộc đời với con người.

 


Tôi xin kết thúc ở đây - để dành thời gian cho các bạn khác - tôi là một người bạn - là một nhân chứng sống trong nhiều năm với TCS. Những ngày tháng cuối cùng của anh, tôi đã ở bên anh mỗi lần tôi có mặt ở Việt Nam. Buổi sáng, tôi ngồi với anh dưới bóng cây để uống trà, để nhìn nhau cho đỡ nhớ, để nói với nhau một vài thông tin về bạn bè - rồi đi về. Sơn ngồi ở cái vườn trên gác nhà anh, có một cây hoa sứ già 28 năm, một giàn hoa giấy ... nó đã trở thành một cánh rừng nhỏ của Sơn và tôi đã nhìn Sơn tàn phai theo nắng chiều qua những tia nắng hoặc cuối mùa, cuối ngày qua những chiếc lá của cánh rừng bông giấy. Và thỉnh thoảng có vài tiếng chim hót như chia sẻ cái nỗi cô đơn của Sơn. Buổi chiều, tôi và Sơn đi ra ngoài một cái nhà hàng mà các bạn chắc còn nhớ, đó là Givral để nhìn qua bên kia khách sạn Continental để nhìn cuộc đời đi qua, để nhìn những người Việt Nam đang hấp tấp vội vã trên đường phố, để nhìn một chút trời xám , để nhìn vài cánh én ... Rồi Ði Về.
Sơn thèm đi ra phố - Sơn thèm hơi của thành phố. Bởi vì chúng tôi là những con người đã gắn bó với Sài Gòn từ lúc trẻ cho nên "Chiều một mình qua phố ..." hay "Chiều chủ nhật buồn, nằm trong căn gác đìu hiu ..."Ðó là đời sống của chúng tôi, và nó theo chúng tôi mãi mãi. Và Trịnh Công Sơn - hôm nay tôi được dịp để nói về anh, về cái sự tuyệt vời chịu đựng một bi kịch kéo dài cho tới ngày mà căn bịnh quái ác đã đục khoét tinh thần sức khỏe của anh cho đến hơi thở cuối cùng. Bởi vì sự cô đơn thật không có điểm tựa để làm việc. Và anh đã chết vì cơn bịnh này.

•Trịnh Cung.

Nguyễn Diệu chuyển 

Feb 12, 2025

Chia buồn cùng gia đình bạn Như Mai, Như Liên và tang quyến

Nhận được tin buồn thân mẫu của TV Như Mai, Như Liên

  

Bà Quả phụ Lê Đình Chữ
Khuê danh Nguyễn Thị Xuyên
Pháp danh Quảng Liên
Mất ngày 12/02/2025
Nhằm ngày rằm tháng Giêng năm Ất Tỵ
Tại Montreal, Canada
Hưởng thọ 100 tuổi



Toàn thể các bạn TV 63-70 xin chân thành chia buồn cùng Như Mai, Như Liên và tang quyến. Nguyện xin hương linh bác được nghỉ an nơi cõi vĩnh hằng.







</

Feb 8, 2025

KHI GIÁO HOÀNG PHIẾM

 KHI GIÁO HOÀNG PHIẾM

SONG THAO


Giáo Hoàng là người lãnh đạo tinh thần của dân Chúa trên khắp hoàn vũ phải là người luôn oai nghiêm và…buồn. Nhưng thực tế không phải vậy. Các Giáo hoàng cũng vui ra phết. Vui nhất là đương kim Giáo hoàng Francis, tên Việt hóa là Phanxicô.


Ngày 14/6/2024, vừa qua Ngài mở đại hội vui bằng cách mời 107 danh hài không phân biệt tôn giáo từ 15 nước tới Vatican dự đại hội. Các cây hài Mỹ phó hội gồm Whoopi Goldberg, Julia Louis-Dreyfus, Jimmy Fallon, Chris Rock, Stephen Colbert, Conan O’Brien, Tig Notaro, Jim Gaffigan. Chỉ có hai ông Colberg và Gaffigan là người Công giáo. Còn hai ông Fallon và O’Brien hồi nhỏ có theo học tại các trường công giáo. Khi được mời, các cây hài này hành nghề liền. Cây hài Stephen Colberg nói: “Giáo hoàng Francis sắp gặp tôi tại Vatican! Tôi hồi hộp chứ. Không biết Giáo hoàng có phải là người Công giáo không?”. Danh hài Chris Rock, người bị Will Smith tát tại buổi lễ trao giải Oscar vì anh này cho là Rock đã xúc phạm vợ anh ta, chắc mọi người còn nhớ. Colberg nhắn Chris Rock: “Chris, vì an toàn của anh nên tôi lấy tên Mary Magdalene ra khỏi miệng anh. Vì Giáo hoàng đeo một chiếc nhẫn lớn lắm!”.
Lên tiếng trước “đại hội” danh hài, Giáo hoàng Francis nói: “Các bạn đã đoàn kết mọi người vì tiếng cười thường lây lan. Các bạn cũng có thể khôi hài với Chúa, dĩ nhiên, vì đó không phải là sự báng bổ. Các bạn có thể làm vậy mà không xúc phạm niềm tin tôn giáo của các tín đồ”. Ngài không đọc bài diễn văn được soạn sẵn mà ứng khẩu sau khi để ngón tay cái ngọ nguậy trên đầu khiến cử tọa cười ồ lên. Ngài cho biết đã cầu nguyện 40 năm để có được năng khiếu hài hước. Ngài nói: “Theo lời dạy của thánh Thomas Aquinas: ai thiếu sự vui tươi là tội lỗi. Tôi sẽ làm theo như vậy để chúng ta cùng cười vui. Ngạn ngữ Ý nói nụ cười mang lại sức khỏe. Nguyên văn tiếng Ý như sau: il sorriso fa buon sangue. Đó là biến thể của một tục ngữ Ý : il vino fa buon sangue. Dịch ra tiếng Anh: wine brings good health. Rượu mang lại sức khỏe!” Hướng về các danh hài, Ngài nói thêm: “Các bạn đoàn kết mọi người vì tiếng cười có sức lây lan. Các bạn tìm cách để khiến mọi người cười, ngay cả khi cần giải quyết các vấn đề và sự việc lớn nhỏ. Các bạn lên án việc lạm dụng quyền lực; các bạn lên tiếng về những tình huống bị lãng quên; các bạn nêu lên những hành vi lạm dụng; các bạn chỉ ra những hành vi không phù hợp”.
Đương kim Giáo hoàng có vẻ rất thích thú về cuộc tụ hội các danh hài này.

 Sáu tháng sau, ngày 17/12/2024, Ngài còn viết một bài báo trên tờ The New York Times. Tôi trích ra một số câu trong bài này qua bản tiếng Việt của nhà báo Đinh Từ Thức. “Châm biếm là một liều thuốc, không chỉ nâng đỡ và giúp người khác được tươi sáng, mà còn giúp cả chính chúng ta, do sự tự giễu là một công cụ mạnh mẽ để vượt qua sự cám dỗ của ái kỷ. Người ái kỷ liên tục soi gương, tự tô vẽ, tự ngắm nghía mình, nhưng lời khuyên tốt nhất khi đứng trước gương là hãy tự cười mình. Điều đó tốt cho chúng ta. Nó sẽ chúng tỏ sự thật của câu tục ngữ rằng, chỉ có hai loại người hoàn hảo: những người đã chết và những người chưa chào đời. Phúc Âm khi khuyên chúng ta trở thành như trẻ nhỏ để được cứu rỗi là nhắc nhở chúng ta tìm lại bản tính dễ cười của chúng”. Ngài tự trào: “Khi tôi bồng trẻ em trong các buổi tiếp kiến tại Công Trường Thánh Phêrô, chúng thường cười rất tươi. Nhưng một số khác, khi thấy tôi mặc toàn đồ trắng, tưởng tôi là bác sĩ tới để chích cho chúng, thì chúng khóc!”.

Vị Giáo hoàng 87 tuổi hiện nay rất thích khôi hài. Có lần Ngài nói với mọi người: “Một chút khôi hài sẽ nâng chúng ta lên, nó chứng tỏ đời sống của chúng ta ngắn ngủi và nâng mọi sự lên tinh thần của đấng cứu chuộc. Đó là một thuộc tính của con người nhưng cũng là ân sủng gắn bó nhất của Chúa”.
Nhà báo Ý Chiara Amirante đã nhiều lần phỏng vấn Giáo hoàng Francis và ghi lại trong cuốn sách Dio è Gioia (Thiên Chúa Là Niềm Vui) xuất bản ngày 19/5/2020 ở Ý. Theo Ngài thì niềm vui Kitô giáo vừa gần với hòa bình vừa gần với khiếu hài hước. Tinh thần hài hước là thái độ của con người gần với ân sủng Chúa nhất vì thế ai thiếu khả năng này thì như họ thiếu một cái gì. Bà Chiara hỏi: “Bí mật vui vẻ của cha là gì?”. Ngài trả lời: “Tôi không biết, tôi không biết trả lời sao. Tôi sống như vậy nhưng tôi không biết giải thích như thế nào”. Ngoài cửa phòng của Ngài tại Nhà Thánh Marta có treo tấm bảng ghi vỏn vẹn hai chữ “Vietato lamentarsi” (Cấm than phiền). 



Ngay khi được hồng y đoàn bầu lên chức Giáo hoàng, Ngài đã khôi hài: “Xin Chúa tha tội cho các ngài!”. Ngài còn có những câu nói khá ngộ nghĩnh như: tôi không từ chối giải tội cho những người trên Hỏa tinh; tòa giải tội không phải là tiệm giặt ủi có thể tẩy vết nhơ của tội; người ta không thể rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu với bộ mặt đưa đám. Một lần Ngài lên máy bay xách một chiếc cặp đen, các nhà báo  ngạc nhiên hỏi, Ngài…phiếm: “Dù sao thì đây không phải là chiếc cặp nhỏ có chìa khóa bom nguyên tử”. Ngài là người Argentina rất mê bóng đá. Mùa giải World Cup 2014, một cận vệ người Thụy Sĩ mời Ngài cùng coi trận Argentina – Thụy Sĩ, Ngài từ chối và cười nói: “Sẽ là chiến tranh mất!”. Trong chuyến Tông du qua Mỹ vào tháng 9/2015, có một em bé được cha mẹ cho mặc bộ áo giáo hoàng toàn trắng trông như một giáo hoàng Francis nhỏ. Ngài cười ngất, ôm bé vào lòng, nói với cha mẹ em: “Các vị có óc hài hước siêu hạng!”. Cũng trong chuyến Tông du của Giáo Hoàng Francis này, Hồng Y Timothy Dolan, Tổng Giám Mục giáo phận New York, kể lại một giai thoại: “Vào cuối chuyến thăm, chúng tôi ngồi bên cạnh nhau trên chuyến máy bay trực thăng ra phi trường để Giáo hoàng đi Philadelphia, Ngài cầm một chai nước nhỏ và hỏi tôi: “Cha có muốn uống một chút không? Đúng là tôi rất khát vì đi theo Ngài, tôi thực sự không uống gì vì không biết lúc nào có thể vào nhà vệ sinh được. Đức Giáo hoàng cười và chọc lại tôi: ‘Bây giờ tôi mới biết là vì vậy! Vậy cha có muốn uống một chút nước không?’. Tôi trả lời Ngài: ‘Cũng không, xin cám ơn cha. Con có uống một giọt whisky Jameson rồi’. Ngài phá lên cười. Khi tôi là người cuối cùng chào Ngài trong buổi lễ tiễn đưa ở phi trường, Ngài đứng xích lại gần tôi, nháy mắt thân mật và nói: “Bây giờ cha có thể uống, không phải một mà hai giọt Jameson để ăn mừng chuyến đi thăm phi thường này!’. Nói xong Ngài lại phá lên cười”.

Tôi quẩn quanh với đương kim Giáo hoàng Francis này khá dài vì Ngài là Giáo hoàng không giống các giáo hoàng trước. Ngài là một tay đua luôn muốn bứt phá. Mới đây, ngày 6/1/2025, Giáo hoàng Francis đã bổ nhiệm một nữ tu, dì Simona Brambilla, giữ chức Tổng trưởng bộ Quản Lý Các Tu Viện Đời Sống Thánh Hiến, quản lý tất cả các dòng tu nam nữ. Hành động này chưa có tiền lệ. Lần đầu tiên có một nữ tu làm tổng trưởng tại Vatican.


Ngày 14/1/2025, Giáo Hoàng Francis sẽ cho phát hành cuốn tự truyện Hope.


 Đây cũng là lần đầu tiên một giáo hoàng có tự truyện đời mình. Cuốn sách được viết trong sáu năm và dự định chỉ phát hành sau khi Ngài qua đời nhưng vì năm 2025 là năm thánh Hy Vọng nên Ngài quyết định cho phát hành sớm. Cuốn tự truyện này viết về những năm khởi đầu thế kỷ 20 khi Ngài mới ra đời. Giáo hoàng Francis người gốc Ý, tổ tiên của Ngài đã di cư qua châu Mỹ Latin. Tuổi thơ của Ngài tại Argentina, tuổi trẻ đầy cống hiến, đời sống tu trì, và những ngày phục vụ dân Chúa cho tới khi lên ngôi giáo hoàng. Ngài cũng tiết lộ những giây phút căng thẳng khi tại ngôi với những dị biệt về những vấn đề của thời đại: chiến tranh và hòa bình, kể cả cuộc chiến Ukraine và Trung Đông; vấn đề di dân; vấn đề môi trường; chính sách xã hội; địa vị của nữ giới; vấn đề tình dục; tiến bộ kỹ thuật; tương lai giáo hội và tôn giáo nói chung.

Một chuyện nữa không giống những vị tiền nhiệm của Giáo hoàng Francis là chuyện lễ an táng khi Ngài về với Chúa. Chúng ta mới mục kích đám tang mới đây của cựu Giáo Hoàng Benedict XVI, mất ngày 31/12/2022, với các nghi lễ phức tạp. Trong cuộc phỏng vấn của một hãng truyền thông Mexico vào ngày 12/12/2024, Giáo hoàng Francis cho biết Ngài đang bàn bạc với Tổng giám mục Diego Ravelli để đơn giản hóa các thủ tục an táng dành cho vị đứng đầu Tòa Thánh. Thứ nhất: Ngài muốn quan tài của Ngài chỉ có một lớp gỗ được lót kẽm thay vì ba chiếc quan tài bằng gỗ bách, chì và gỗ sồi lồng vào nhau như quan tài của các vị tiền nhiệm. Thứ hai: trong lễ viếng của giáo dân, quan tài sẽ không được đặt trên bệ cao tại Vương Cung Thánh Đường mà sẽ để mở nắp. Thứ ba: mộ của Ngài sẽ không nằm tại thánh đường thánh Phêrô như 91 giáo hoàng khác mà sẽ nằm tại thánh đường Thánh Mary Major (Đức Bà Cả) của thành phố Rome, bên ngoài tòa thánh Vatican. Thánh đường này là nơi Giáo hoàng Francis thường đến cầu nguyện trước và sau mỗi chuyến Tông du.

Giáo hoàng Francis là một cây phiếm nhưng các giáo hoàng khác cũng có những lúc khôi hài không kém. Giáo hoàng Piô IX (1846-1878) hỏi một giáo dân tới gặp Ngài rằng ông đã có gia đình chưa, ông cung kính thưa: “Trọng kính Đức Thánh Cha, con may mắn tránh được cái bẫy này”. Giáo hoàng phán ngay: “Lạ nhỉ! Tôi không biết đạo công giáo có 6 bí tích và một cái bẫy!”. Trong một buổi tiếp kiến khác, một bà tới cám ơn Ngài: “Thưa Đức Thánh Cha, con bị đau một chân từ nhiều năm nay. Con xin được một chiếc vớ của đức cha, mang vào và lành ngay lập tức”. Giáo hoàng Piô IX bật cười trả lời: “Thưa bà, bà thực sự may mắn hơn tôi. Mỗi sáng tôi đều mang hai chiếc vớ nhưng vẫn đi đứng khó khăn!”.

Giáo hoàng Lêô XIII (1878-1903), nhân ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 90 của Ngài, được nâng lên cao giữa đám đông trên chiếc ghế giáo hoàng. Hai phụ nữ hô thật lớn : “Vạn tuế Đức Thánh Cha. Cầu chúc Ngài sống lâu trăm tuổi!”. Giáo hoàng nghe thấy, la lớn: “Các con của cha, sao các con lại hạn chế lòng tốt của Chúa như thế!”. Khi Giáo hoàng Lêô XIII được 92 tuổi, một năm trước khi Ngài qua đời, một hồng y người Mỹ vô ý nói: “Thưa cha, chắc chúng ta không còn có dịp gặp lại trên trái đất này, vĩnh biệt cha”. Giáo hoàng hỏi lại: “Thưa hồng y, Ngài không được khỏe sao?”.
Giáo hoàng Piô X (1903-1914), yêu cầu mọi người đừng vỗ tay trong thánh đường thánh Phêrô. Ngài giải thích: “Chúng ta không vỗ tay cho tôi tớ trong nhà chủ của họ”.

Một hoàng tử hỏi Giáo hoàng Bênêdictô XIV (1914-1922): “Vì sao giáo hội không chia mùa Chay thành 4 kỳ, mỗi kỳ 10 ngày theo 4 mùa trong năm?”. Ngài trả lời: “Giáo hội rất có thể làm được điều này nhưng Giáo hội nghĩ sẽ không thận trọng khi làm như vậy. Vì con người có thể mừng lễ hội 4 lần nhưng nhịn ăn 4 lần thì khó!”.

Giáo hoàng Piô XI (1922-1939) là người khá trang nghiêm, vậy mà cũng có khi Ngài…phiếm. Một ngày nọ, Ngài ngồi cho họa sĩ vẽ chân dung chính thức. Ngài nhìn bức chân dung hoàn thành, có vẻ không ưng ý vì chính Ngài không nhận ra mình. Khi họa sĩ mời Ngài viết một hai chữ ở góc tranh, Ngài viết: “Gioan, chương 6, câu 20”. Họa sĩ ngơ ngác hỏi ý nghĩa câu viết, Ngài cười nói: “Ông về mở Kinh thánh ra sẽ thấy”. Về nhà, họa sĩ vội kiếm cuốn Kinh thánh, mở ra đọc, đó là đoạn trích lời Chúa: “Chính Ta đây, các con đừng sợ!”.

Giáo hoàng Gioan XXIII (1958-1963) nổi tiếng hài hước. Ngài từng tếu: “Tôi thường bắt đầu nghĩ về một số vấn đề quan trọng vào ban đêm. Tôi can đảm lấy quyết định sẽ đến gặp và trình với giáo hoàng vào buổi sáng. Rồi tôi thức dậy trong mồ hôi ướt đẫm và nhớ ra rằng: giáo hoàng chính là tôi!”. Đặc biệt Giáo hoàng Gioan XXIII là người thích tự trào. Khi Ngài vừa được cơ mật viện bầu  làm giáo hoàng, các nhiếp ảnh gia vây quanh Ngài chụp hình, Ngài nói với họ: “Chúa của chúng ta đã biết rõ từ bảy mươi bảy năm nay là có ngày tôi sẽ là giáo hoàng. Vậy mà Ngài không làm cho tôi ăn ảnh hơn một chút sao?”. Trong một bữa ăn tối, Ngài được xếp ngồi gần một bà rất thanh lịch nhưng mặc áo hở ngực quá hở hang. Tới lúc ăn tráng miệng, Ngài đưa mời bà một trái táo. Trước sự ngạc nhiên của bà, Ngài tỉnh bơ nói: “Chỉ khi ăn trái táo, Eva mới nhận ra mình đang trần truồng”.

Giáo hoàng Gioan-Phaolô II (1978-2005), người Ba Lan. Khi Ngài còn là hồng y Wojtyla, một hồng y lớn tuổi khá nghiêm khắc đã khiển trách Ngài vì Ngài thích trượt tuyết, leo núi, đạp xe đua và bơi lội. Vị hồng y già nói: “Tôi không nghĩ đây là những hoạt động phù hợp với vai trò của Ngài”. Vị hồng y trẻ và là giáo hoàng tương lai trả lời: “Nhưng Ngài có biết là ở Ba Lan, ít nhất 50% các hồng y thường có những sinh hoạt này không?”. Vào thời điểm đó, cả nước Ba Lan chỉ có hai hồng y!

Tôi rất khoái máu phiếm của đương kim giáo hoàng Francis nên không thể không trở lại với Ngài. Ngài rất yêu trẻ nhỏ, như Chúa Giêsu ngày xưa. Khi có mấy người mẹ bồng trẻ nhỏ tới gặp Chúa, các sứ đồ ngăn cản họ. Chúa Nói với các sứ đồ: “Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Ta vì nước Trời thuộc về chúng”. Rồi Chúa bồng chúng lên và ban phước cho chúng. Trong ngày lễ Gia Đình vào tháng 10 năm 2013, chú bé Didier bị bệnh tự kỷ, thừa lúc Giáo hoàng Francis đang đứng giảng, chú lẻn lên ngồi chễm chệ trên chiếc ghế của Ngài. Hết bài giảng, Ngài tươi cười quay lại nói chuyện với bé. Trong một buổi gặp giáo dân bên ngoài thánh đường Phêrô vào ngày 22/3/2017, một cận vệ bồng một bé gái 3 tuổi tới sát Ngài. Ngài vỗ về bé, bé nhanh tay giật chiếc mũ chỏm Ngài đang đội. Chiếc mũ là biểu tượng quyền uy của người thay mặt Chúa nơi trần thế, đâu có phải chuyện giỡn. Nhưng Ngài  phớt lờ, vui vẻ cười với em bé. 




Chuyện này làm tôi suy nghĩ. Giáo hoàng “bình dân” như vậy có đúng là người thay mặt Chúa nơi trần thế này không? Biết hỏi ai ngoài Chúa. Mở Thánh kinh không thấy Chúa nói năng chi về mũ mãng cả. Nghĩ ra cũng đúng thôi. Các tượng Chúa đâu có cái nào thấy Chúa đội mũ đâu, Ngài  chỉ đội vòng gai.
 
01/2025
Website: www.songthao.com 

H.Phúc ST


PHIÊN PHIẾN TUỔI GIÀ-Tràm Cà Mau

 PHIÊN PHIẾN TUỔI GIÀ ( Tác gỉa nói không sai)

Tràm Cà Mau


Bạn tôi, có ông tự xưng là Hai Hô. Bởi răng ông hô. Ông rất thích thú với danh xưng nầy. Ông thường nói rằng, ngày xưa còn trẻ, hăng tiết vịt, ai nói gì, đúng hay sai, cũng tìm lời cãi lại. Bây giờ già rồi, nghe ai nói gì cũng thấy xuôi tai, đúng hết….

Bởi già rồi, có nhiều kinh nghiệm, thấy được đúng, sai, có nhiều mặt khác nhau.

Bà mẹ ông đã 92 tuổi, mà thường hay nói câu: “Mai mốt tôi già rồi thì…” Mỗi lần nghe câu đó, ông vội cắt ngang lời mẹ, và hỏi lại: ” Hơn chín mươi tuổi rồi mà chưa già hở mẹ? Thế thì bao nhiêu tuổi mới là già?” Bà cụ chỉ cười, không đáp lại. Vợ ông thường nháy mắt, nhìn ông che dấu nụ cười bí mật. Người em ông nói: “Theo tôi, thì không có ai già, và cũng chẳng có ai trẻ. Già hay trẻ, là một khái niệm rất tương đối. Hồi tôi mười bốn, mười lăm tuổi, thấy các chị hàng xóm mười bảy hay mười tám tuổi là đã già khú đế. Già như sắp mua hòm được rồi. Thế mà khi tôi sáu mươi tuổi, tôi thấy các bà năm mươi là trẻ, và các bà bốn chục tuổi là bọn con nít. Thế thì già hay trẻ, không phải tùy theo số tuổi của họ.”

Ông Hai nói, có một lúc nào đó, con người trở nên già. Nầy nhé, mỗi khi đi ra đường, nếu chỉ thấy các bà già nhìn mình, mà các cô gái trẻ không dòm mình nữa, thì phải hiểu là mình đã già rồi. Lại nữa, mỗi sáng đứng trước gương, thấy trán mình cao hơn, tóc rụng nhiều, đừng tưởng mình trở nên thông thái, mà phải biết đó là dấu hiệu già. Nếu mình thấy mọi người dường như trẻ lại, thì chính mình già đã đi, vì mình so sánh thiên hạ với cái bóng của mình trong gương soi mỗi ngày.

Ông nói, tuổi già báo hiệu khi sinh lý bắt đầu yếu. Nhịp độ “gần gũi” của vợ chồng thưa dần. Và đôi khi cố gắng làm vừa lòng bà vợ theo định kỳ, mà không có hứng khởi. Những khi đó, nếu bà vợ gạt ra, không cho gần gũi, thì trong lòng lại mừng húm, vì có cái cớ để không làm tròn “bổn phận” mà không áy náy. Ông nói, bực nhất là những lúc mình đang hăng, đang nóng máu, sắp xáp chiến, mà bà vợ cứ cằn nhằn về những chuyện không đâu, như cái hàng rào bị gió vật nghiêng, cây hoa hồng lá bị bạc mốc, con chó bị rận bọ chét. Thế là cả cái thân già nó xìu xuống như cọng bún thiu. Chẳng làm ăn chi được nữa cả. Đành bỏ cuộc vui nửa chừng. Khi còn trẻ, vào những lúc sắp gay cấn như thế nầy, thì dù cho sét nổ trên đầu, cũng không nghe, không biết.

Có người hỏi ông sao không dùng viên thuốc thần kỳ, làm cho vợ chồng vui như thuở ba mươi. Ông nói, đừng tin mà chết sớm, đau tim mà dùng thuốc nầy, thì lăn đùng ra mau lắm. Hồi trước, ông cũng xin ông bác sĩ cho toa thuốc nầy, bác sĩ ấy không chịu ông cũng hơi giận, nhưng bây giờ thì cám ơn, vì biết được cái nguy hại của nó. Vui chốc lát, mà bỏ mạng, lãng nhách. Theo ông, thì vợ chồng già, ghiền cái hơi của nhau hơn là chuyện vật nhau lăn lộn trên giường. Chỉ cần luồn tay vào áo bà vợ già, mà tìm trái mướp, cũng đủ làm cho bà ấy vui rồi.

Nói về cái tai điếc, ông nói: “Có một lúc nào đó, mình nghe nhạc, cứ tưởng là các anh chị ca sĩ dạo nầy không còn hát hay như ngày xưa. Không phải vậy đâu. Thời nào cũng có ca sĩ giọng hay. Nghe không hay vì cái tai mình đã nặng, lãng. Rồi cứ tưởng nhạc dở. Đó là dấu hiệu già. Nhất là khi nghe truyền thanh, truyền hình, thì con cái, hàng xóm, cứ than phiền mở âm thanh quá lớn. Theo mình, âm thanh như vậy chỉ vừa đủ nghe, mà họ bảo oan cho mình là quá lớn.”

Ông Hai nói với một bạn già rằng, khi già, lãng tai, điếc tai cũng có cái lợi lớn. Là khi nào vợ nói lời êm ái, dịu dàng, yêu thương, thì nghe cho sướng tai. Khi nào bà trở chứng trách móc, chê bai, than vãn, nói nặng lời, thì cứ nhè-nhẹ gỡ cái máy trợ thính ra, chỉ thấy bà nhóp nhép cái miệng, trông tức cười lắm. Không nghe, thì không bực mình, không giận hờn, mà còn cười, đôi khi nụ cười rất rạng rỡ, cười rất dễ thương nữa. Bà vợ nói như gió vào phòng trống, thấy ông chồng không giận, mà còn cười vui, thì đành im miệng cho đỡ tốn hơi. Và đôi khi còn thương thêm, vì tưởng ông chồng khéo nhịn. Nhưng một ông bạn khác, nói rằng, khi bà vợ trách móc và thở than, thì để bà ấy nói, cho xả ra, nhẹ bớt bực tức trong lòng. Bởi vậy, mỗi khi vợ ông than vãn, trách móc, thì ông mừng và lắng nghe. Nếu bà ngưng nói, thì hỏi rằng em có gì cần nói thêm, than vãn thêm không, hãy nói cho hết đi, anh nghe đây. Thế là bà dịu xuống, và bà cảm thấy hơi quê quê, nên thôi.

Ông Hai nói, khi già, mắt yếu, cầm cuốn sách lên, là móc túi tìm cái kiếng. Không có kiếng thì đành chịu thua. Khi đó, mình ít đọc sách hơn ngày xưa. Rất nhiều bạn ông than phiền rằng, dạo nầy, sách vở, báo chí họ in chữ nhỏ hơn, khó đọc. Không phải đâu. Mắt mình mờ, kém, chứ không phải chữ in nhỏ lại. Mấy anh trẻ hỏi ông có bực vì mắt kém không, ông Hai nói rằng, việc chi mà bực? Phải mừng chứ đừng bực. Mừng và cám ơn khoa học tiến bộ, giúp cho mình còn thấy rõ hơn, nghe rõ hơn, mà nếu mình sống mấy trăm năm trước, thì đã mù loà, và điếc đặc rồi. Dù cho nghe ít, thấy không rõ hoàn toàn, nhưng có thấy, có nghe, đã là quá quý rồi. Tuổi đã cao, mà còn thấy được người thương yêu, con cháu, bạn bè. Còn xem truyền hình, phim truyện, thì đã nhận được rất nhiều ân phước của trời ban cho. Phải biết cảm nhận và cám ơn trời.

Bây giờ, đi đâu xa ông cũng ngại. Đi du lịch, điều nghĩ đến trước tiên của nhiều người già như ông, không phải cảnh đẹp, điều hay, cái lạ, mà nghĩ đến cái cầu tiểu. Không biết nơi đó có hay không. Cứ vào quán xá, hội trường, thì có thói quen, trước tiên là xem cầu tiểu nằm đâu. Quán nào mà không có cầu tiểu, thì đừng hòng có nhiều ông bà già bước vào. Ông rất sợ mai đây xui xẻo, người ta tôn ông lên làm lãnh tụ. Vì thấy mấy ông lãnh tụ đứng đọc diễn văn, họp báo, duyệt binh, diễn hành, đứng hàng giờ, phải nín tè, khó chịu, mệt và khổ lắm. Ông cũng rất ngại ngủ nhà lạ, cứ nửa đêm, nhiều lần mò mẫm trong bóng tối dậy đi tiểu. Xối nước ào ào làm người khác mất ngủ. Chưa kể lạ nhà, đêm tối, lạc đường mở lầm cửa phòng vợ, con người ta, thì cũng bẽ bàng.

Một lần, bà vợ đè đầu ông xuống mà nhuộm tóc cho ông. Mấy hôm sau, lên xe công cộng, ngồi vào ghế dành cho người cao niên. Ông thấy có một “lão trượng” đứng nhìn ông chằm chằm, như ngầm hỏi, sao không nhường ghế ngồi cho người già cả. Ông đoán chắc, chín mươi phần là “lão trượng” kia còn nhỏ tuổi hơn ông. Ông cứ ngồi lì, làm lơ. Nhưng khi thấy hành khách chung quanh nhìn, như thúc dục, như nhắn nhủ bằng ánh mắt khó chịu, thì ông nhột quá, đứng dậy nhường ghế cho lão trượng kia. Ông nghĩ, không lẽ phải thét lên là tôi còn già hơn lão, và không lẽ phải móc căn cước ra mà chứng minh? Thôi thì đứng dậy, cho bớt nhột và ngượng ngùng. Rồi tự an ủi rằng, đứng cũng là một cách tập thể dục tốt.

Khi có ai hỏi tuổi, ông Hai Hô cũng tự cộng thêm gần chục năm. Thế là thiên hạ rối rít khen trẻ, xít xoa hỏi làm sao mà giữ được trẻ trung như thế. Ông cười, nói đùa rằng, cứ theo đúng lời dạy vàng ngọc của người xưa để lại, là “đêm bảy, ngày ba” cho khí huyết lưu thông, điều hoà, thì cơ thể trẻ trung mãi. Ông nói rằng, nếu có khai trụt đi năm ba tuổi, cũng chẳng có lợi ích gì, vì mình đâu có toan tính chinh phục, tán tỉnh ai. Khai trụt tuổi, đôi khi người ta còn chê, là trông già trước tuổi. Lại nữa, phong tục của mình, là kính trọng người lớn tuổi. Nhưng các bà, các cô thì khi nào cũng dấu tuổi, cứ 18 tuổi thì khai là 16, khi 20 khai là 18, và lúc 23 khai là 20. Cứ khai trụt vài ba tuổi, và cảm thấy sướng khi được người khác tin. Khi phải đoán tuổi, ông thường rộng rãi hạ xuống cho các bà, các cô từ năm đến bảy tuổi, để họ sướng, mà ông không mất chi cả, cũng là làm một điều thiện nho nhỏ trong ngày, làm cho người khác vui, yêu đời hơn.

Dạo sau nầy, khi ông ăn uống, thường thức ăn bị đổ vung vãi. Nhiều lần ông tự bảo là cẩn thận. Nhưng hình như cái tay nó không hoàn toàn theo mệnh lệnh của cái đầu nữa. Đưa cơm vào miệng không gọn gàng, cứ rớt ra vài chút. Đôi khi tay run, mà ông không biết. Ông cho đó là dấu hiệu của tuổi già. Nhiều lần bà vợ ông nhăn nhó, la nạt, vì làm đổ thức ăn. Một lần ông nhớ lại câu chuyện đứa bé đẽo cái chén gỗ, cha mẹ hỏi đẽo làm gì, nó nói là để sau nầy cho cha mẹ ăn, như cha mẹ đã cho ông nội ăn chén gỗ. Ông nhỏ nhẹ nói với vợ rằng, nhờ bà đẽo cho ông một cái chén gỗ, rồi mỗi bữa dọn cho ông ăn sau viả hè, bên thềm. Nghe thế, bà vợ nhìn ông một lúc lâu, rồi rưng rưng nước mắt. Từ đó, bà hết cằn nhằn khi ông làm đổ thức ăn. Ông hay quên. Đôi khi đi xuống nhà kho, mà ngẩn ngơ không biết định xuống để làm gì. Quên trước, quên sau. Một bạn già của ông nói, nếu “cái đó” mà ông trời không bắt dính chặt vào người, thì có khối ông già để quên trên xe buýt, trên tàu điện, ngoài công viên, và khi cần đi tiểu, thì chạy quanh, quýnh lên, mà tìm không ra. Còn triệu chứng khác nữa, là làm biếng tắm, đôi khi hai ba ngày ông chưa tắm. Cứ nghĩ là có làm chi dơ đâu mà phải tắm. Nhưng rồi nhận ra, thì tuổi gìa sợ lạnh, nhạy cảm với cái lạnh, nên ngại tắm. Vì thế mà có nhiều cụ già có mùi, họ đâu biết. Ông phải rán tập thói quen, nóng lạnh chi cũng rán tắm mỗi ngày một lần, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Bà mẹ ông 92 tuổi, đi ăn tiệm, cắn càng cua-rang-muối nghe rau ráu. Thực khách trong tiệm tròn mắt ra mà nhìn. Còn ông, thì ngay cả bánh mì mềm của Mỹ cũng không dám cắn, dùng tay xé nhỏ ra rồi bỏ vào miệng. Bà mẹ ông, ăn uống không kiêng cữ chi cả. Thịt heo quay, vịt quay, cá chiên, gà chiên, bún bò giò heo, phở, nước béo, các thứ độc địa đều ăn tuốt. Thế mà bà không cao mỡ, không cao máu, dù thân thể tròn quay. Cái đó cũng nhờ trời cho. Nhiều bác sĩ cũng khuyên bà, cứ ăn uống thả dàn, cho sướng cái miệng, đừng kiêng cữ làm chi nữa khi ở cái tuổi nầy.

Nhiều ông bạn ông, kiêng khem kỹ lắm, kiêng đủ thứ. Họ xem ba thứ sau đây ngang hàng với thuốc độc: Ngọt, mặn và béo. Họ ăn lạt, không dám ăn đường, ăn béo. Thấy đồ chiên, là họ đã tái mặt. Họ ăn mãi quen miệng, và thấy các thứ thức ăn không mùi, không vị kia cũng ngon. Bởi khi đói, thì cơm thiu, cơm cháy cũng thành ngon. Có kẻ bảo, uổng quá, phí thức ngon của trời cho. Nhưng những người kiêng cữ nầy nói rằng, không tội chi đem chất độc vào người, rồi bệnh hoạn, hối không kịp.

Một ông bạn cho ông Tư biết rằng, theo nghiên cứu của đại học Rockefeller, thì có ba điều kiện để cho người già khỏe mạnh và ít bệnh là:

1) ăn bằng một nửa của bữa ăn bây giờ
2) thể dục thường xuyên
3) làm tình đều đều.


Ông không tin, và cho rằng, cái đó chỉ đúng cho người Mỹ mà thôi. Mỗi bữa, họ ăn miếng thịt to bằng bàn tay, một bữa ăn của họ, mình có thể ăn ba bốn ngày mà chưa hết. Nếu mình chỉ ăn bằng một nửa của bây giờ, thì sẽ suy dinh dưỡng, sớm đau ốm mà chết. Còn chuyện thể dục thường xuyên, thì đúng trăm phần trăm. Phần làm tình đều đều, có lẽ không ai chắc, vấn đề là còn làm được hay không, mà còn đòi đều đều. Mình cứ ăn bình thường, đừng ăn quá no, cũng đừng ăn đói. Cứ theo cái đạo trung dung của người xưa đã bày ra từ mấy trăm năm nay. Rượu chè, nếu uống được, thì uống vừa vừa, cũng tốt cho sức khoẻ. Đừng say sưa là được. Lâu lâu cũng rán vui vợ, vui chồng cho khỏi lạt lẽo. Ông Hai đã chữa bệnh biếng ăn cho nhiều bạn bè rất công hiệu. Đó là đừng ăn vặt, và chờ cho khi thật đói mới ăn, chưa đói rã thì chưa ăn. Như vậy thì ăn gì cũng thấy ngon.

Ông có quan niệm phóng khoáng hơn về sự sống và cái chết. Ông cho rằng, chết là một tiến trình của đời sống, hợp với luật thiên nhiên của tạo hóa. Sợ chết là vô lý. Không ai tránh khỏi cái chết, không sớm thì muộn. Ai cũng sẽ chết cả. Ngay cả Phật, Chúa, thần thánh cũng phải chết, huống chi mình là người trần mắt thịt. Chúa Giê-Su chết lúc mới 33 tuổi. Phật cũng chết, thọ không bằng các ông, các bà cụ bây giờ. Cứ thử nghĩ, nếu già mà không chết, thì bây giờ trên thế giới có đến hơn chín mươi phần trăm cụ già, cụ nào cũng mấy trăm tuổi, mấy ngàn tuổi, ho hen, run rẩy, chậm chạp. Lấy ai làm lao động mà nuôi các cụ? Nhân loại sẽ đói cho vêu mỏ ra. Già thì phải chết để cho thế giới được trẻ trung hoá. Khi nào anh chị nghe tin một người già chết, mà lòng không buồn, không thương tiếc, thì anh chị được giác ngộ rồi đó. Có chi mà buồn? Nếu người chết không để lại một gánh nặng gia đình, một đàn con dại cần nuôi dưỡng, dạy dỗ, một bà vợ chân yếu tay mềm, thì mừng cho người ta thoát được cái hệ lụy của trần gian. Khỏi lo công ăn việc làm, khỏi lo nhà cửa, khỏi lo thương ghét, ghen tuông, giận hờn, khỏi lo khai thuế cho đúng hạn kỳ. Khoẻ ru. Nếu người chết đã cao tuổi, trong nhiều năm nằm một chỗ, không nói năng, bại liệt, ăn bằng cách bơm qua ống nối với bao tử, nghe họ chết mà mình khóc lóc, tiếc thương, bi ai, thì hoá ra là không biết điều. Muốn người ta bị kéo dài thêm cái cực hình đó lâu hơn nữa, rồi mới được chết sao? Nhiều khi, con cháu mừng cho thân nhân họ được chết, mà mình thì sụt sùi thương tiếc.

Ông thường nói, trong tuổi già, sức khoẻ là quý nhất. Nhưng nếu ai đó, có sức khoẻ tốt, không hề đau ốm, thì cũng là một sự nhàm chán. Họ đâu biết họ đang có cái quý báu nhất trong đời. Lâu lâu, phải đau vài trận, để nhắc nhở, và nhớ rằng, không ốm đau là sung sướng, là hạnh phúc lắm lắm. Làm sao bọn trẻ, và những người khoẻ mạnh biết được cái hạnh phúc, cái sung sướng của người già, khi buổi sáng ngủ dậy, mà thân thể không đau rêm, nhức nhối? Cũng như nếu người ta chưa sống dưới chế độ kềm kẹp, hà khắc, thì làm sao biết được nỗi sung sướng khi được đặt chân lên miền đất tự do? Nên quan niệm rằng, với sức khoẻ nào cũng tốt cả, đừng so sánh với trường hợp tốt hơn. Cứ vui với cái sức khỏe mà mình đang có. Được khoẻ nhiều thì sướng nhiều, khoẻ ít, cũng sướng hơn, vì chưa đến nỗi tệ hại lắm. Nhớ đi khám bác sĩ đều đều, để khám phá ra bệnh, kịp thời chạy chữa. Một người bạn ông cho biết, không dám đi khám bệnh thường niên, vì sợ “bói ra ma, quét nhà ra rác”. Thế nào bác sĩ cũng tìm ra bệnh nầy, bệnh nọ trong cơ thể và thêm lo. Cứ để thế, rồi khi bệnh nặng thì chết. Bà vợ ông nầy khổ sở lắm, nhưng không thuyết phục ông được. Ông còn nói, bác sĩ thường cho uống thuốc chữa bệnh nầy, thì sinh ra thêm bệnh khác nữa. Hoặc bác sĩ chẩn đoán sai bệnh là thường. Có người đọc báo cáo y khoa, cho biết trên nước Mỹ, mỗi năm có đến hai trăm ngàn người chết, hoặc thương tật vì bác sĩ kém hiểu biết, hoặc sơ suất gây ra. Theo ông Hai Hô thì đừng sợ. Vì bác sĩ giỏi nhiều hơn bác sĩ dở, và bác sĩ có lương tâm nhiều hơn bác sĩ thiếu lương tâm. Đừng vì một số trường hợp xấu, mà sợ đi khám bệnh. Khám bệnh, để biết trước mà đề phòng, để chữa trị khi bệnh mới chớm, còn kịp, chữa trị dễ dàng hơn. Để ung thư ăn tràn lan ra rồi, thì chỉ có phép lạ, mới cứu được. Người ta, có thể mạnh khỏe cho đến khi chết. Đó là trường hợp hiếm hoi. Nhưng đau yếu trong tuổi già là thường, không đau yếu là bất thường. Có một người than rằng, cứ đi vào, đi ra trong nhà hoài, chán quá. Ông Hai bảo rằng, được đi vào đi ra như thế là sướng lắm rồi, sao mà chán, vì có nhiều người khác mong được đứng dậy đi vài bước, mà không làm được, vì bệnh. Nhưng theo ông, thì cái người nằm liệt trên giường, cũng tìm được cái thú vui riêng, khi nghe nhạc, nằm mơ mộng, nghĩ đến các kỷ niệm thời còn vàng son, nhớ đến những tội lỗi nho nhỏ mà họ đã phạm một cách cố ý và thích thú.

Nhiều người già tự đặt cho họ một kỷ luật để sống. Theo ông, thì có kỷ luật cũng tốt, mà không kỷ luật lại càng khỏe hơn. Nhiều người tính tình nghiêm khắc. Mọi sự đều phải răm rắp đúng như quy định mới chịu. Tội chi vậy, nếu không răm rắp, mà không chết ai, hại ai, thì răm rắp làm chi cho khổ mình, khổ người? Nên dễ dãi với mọi sự, dễ dãi với chính bản thân mình, kẻo tội nghiệp nó. Khắc kỷ cũng là điều hay. Nhưng tội gì mà tự khắt khe với chính mình, người khác không khắt khe thì thôi. Nên cứ xem mọi sự như trò chơi. Chơi vui nhiều thì tốt, vui ít cũng tốt luôn. Ông không mong cái tuyệt đối, hoàn hảo. Trong một cuộc chơi, ông không hy vọng được tất cả mọi người tham gia, có ít vui ít, có nhiều vui nhiều. Hai ba chục người cũng vui, mà năm bảy bạn bè cũng vui luôn. Nếu hụt một cuộc chơi, một cuộc gặp gỡ, ông cũng không tiếc, chẳng sao cả, ông về nhà mở nhạc, mở TV ra mà thưởng thức. Ông nghĩ, được thêm một dịp nghỉ ngơi, yên tĩnh. Có lần đi trể máy bay ? Ông bình tĩnh xin đi chuyến sau mà không được. Ông cũng cười, không bực mình, quay về nhà, pha một bình trà, đem một tập thơ ra mà ngâm vịnh, nằm ngửa mà thưởng thức cuộc tranh tài thể thao. Ông nói, đôi khi nhờ trễ một chuyến may bay mà sống sót, nếu máy bay rớt. Chiều ra ngoài quán uống cá phê xem sinh hoạt phố phường. Nói chuyện tào lao với chủ quán.

Mỗi khi có ai mời đi đám cưới, tiệc tùng, ông đến đúng giờ, mà thiên hạ tà tà đến trể, ông cũng không bực mình. Bởi người ta quen giờ cao su rồi. Họ có cả trăm ngàn lý do để biện minh. Ông có đến sớm, thì cũng có cái lợi khác, được nói chuyện, gặp gỡ, tâm sự tào lao với những bạn bè mà từ lâu ít có dịp gặp nhau. Cũng vui và quý. Dễ chi có cơ hội thuận tiện để gặp nhau. Đến khi dọn thức ăn ra, không còn cơ hội để nói chuyện nữa, vì ai nấy, lo gắp, lo nhai, không rảnh mà nói chuyện. Khi ăn xong, thì bạn bè vội vã ra về, vì đường xa, vì đêm khuya, vì mệt nhọc. Bởi vậy, ông cứ vui với cái bê bối của thiên hạ, và bằng lòng với câu “Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ, không phải Việt Nam.”

Ông Tư Hô thường nói, tuổi già, cứ phiên phiến với mọi sự, cho khoẻ, cho sướng cái thân già của mình.

Tràm Cà Mau.


H,Phúc ST

Feb 5, 2025

Một ngàn lẻ một đêm thơ văn của Hảo Chi-Tình Yêu Băng Giá và....- Hảo Chi

 Đêm thứ sáu :

Đêm nay Điệp viết trọn vẹn bài thơ “Tình Yêu Băng Giá “ của Hảo Chi


Mùa Đông Sherbrooke 2025 (Canada)

 

Tình Yêu Băng Giá.


Những cỗ xe tuần lộc ,

Mang tình yêu đi xa,

Qua những miền băng giá,

của người và ta.

Canada…


Mùa hạ ở Caribe,

Ta nằm dài trên cát,

Sóng chơi trò phu thê,

Ta nhớ biển đông hề, ta nhớ sóng,

Cơn sóng vỗ về, tình mộng ta nguôi ngoai.


Hảo Chi


Hảo Chi nói đây là bài thơ nhớ về người bạn , không biết là “ cái thằng “ hay “cái con”…Hảo Chi nói “nó” ở Canada, bây giờ “nó” về Mỹ rồi , các bạn ơi “nó “ là ai vậy ????


**********************


Đêm thứ bẩy :

Điệp xin gửi lại hai bài thơ :

 

Thương chiều .


Tôi đứng đợi chiều rơi êm ả,

Chiều ở cả sau lưng với khát vọng nồng nàn,

Chiều ỡm ờ như ngàn tâm sự mỏng ,

Hổn hển than thân hay tủi phận long đong,


Chiều bay lên vàng óng,

nhân loại như một lũ ong vò vẽ bên đời ,

Tôi đứng đó,chiều nay cô độc.


Hảo Chi



************************************




Mầu Hoa Cũ

 

Mai tôi về quê cũ ,

Tìm lại mầu hoa xưa,

Trồng bên thềm tựa cửa,

 

Mầu hoa mẹ tôi ưa ,

Có còn đêm sáng trăng ,

Gió lay cành liễu úa ,

Mẹ cười ngoài song cửa,

Vẫy tôi như tình mơ ,

 

Xa rồi quê Hương đó,

Đêm trăng gió ngọt ngào,

Đêm xôn xao biển hạ ,

Tôi sống đời phong ba,

 

Một mai nơi quê nhà

Đoá hoa tình thủa nhỏ,

Mầu gạch non bỡ ngỡ

mảnh vỡ như linh hồn,

Tôi cô đơn muốn khóc

 

Hảo Chi (12-03 )

Jan 26, 2025

Tản mạn về mâm ngũ quả - Nguyễn Gia Việt

  Người Miền Nam mà nói “chưng mâm ngũ quả” nghe kỳ cục!


Một bạn hỏi rằng, “ngũ quả” là cách của Miền Bắc trăm phần trăm, vì chữ “quả”. Bạn nói nếu trúng Nam Kỳ phải kêu là “chưng 5 thứ trái cây”




1. Người Miền Nam không có "quả", kêu trái hết.

Ca dao Nam Kỳ thì có câu:

“Đưa em cho tới Đông Hồ
Em trả trái mít, em bù trái thơm.”

Nam Kỳ kêu trái,  Bắc Kỳ kêu "quả". Người Miền Bắc kêu bưởi, đào, táo, cam, quýt...đều là "quả"hết. Chữ quả là chữ Hán Việt, 果quả là trái cây.

"Đôi ta ăn một quả cau
Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng
Bao giờ cho gạo bén sàng
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh."

Nhưng người Miền Nam lại không kêu quả, mà kêu là "trái". Chữ "trái" là chữ bổn địa Miền Nam.

"Nghe vẻ nghe ve, nghe vè trái cây
Dây ở trên mây là trái đậu rồng,
Có vợ có chồng là trái đu đủ,
Chặt ra nhiều mủ là trái mít ướt
Hình tựa gà xước, vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm, thiệt là bắp nấu
Hình thù xâu xấu, trái cà dái dê
Ngứa mà gãi mê là trái mắt mèo
Khoanh tay lo nghèo là trái bần ổi
Sông sâu chẳng lội là trái mãng cầu."

Người Bắc đọc "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" thì Nam Kỳ dạy "Ăn trái nhớ kẻ trồng cây."

Sơn Nam trong "Cá tính của Miền Nam" viết về “Đào mương lên liếp” của Miệt Vườn. Miệt Vườn là văn minh Miền Nam, là nơi trồng nhiều trái cây.

Cây ổi thì cho ra trái ổi và trái bưởi, trái cam, trái nho, trái lựu, trái bòn bon, trái dâu, trái măng cụt, trái cà chua, trái dưa leo, trái nhãn ...đều là trái hết

Hãy đọc những câu ca dao của người Nam Kỳ:

“Đói lòng ăn trái ổi non
Nhịn cơm nuôi mẹ cho tròn nghĩa xưa.”

Và:

"Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng nhồi biết tấp vào đâu?"

Nam Kỳ là xứ sở của vườn trái cây, của những vựa trái cây, chành trái cây.

Bài vè "Bậu lỡ thời" so sánh con gái quá lứa như trái cây chín rục:

"Bậu lỡ thời như trái chín cây
Trái chín cây người ta làm mứt
Bậu lỡ thời như giấy trôi sông
Giấy trôi sông không ai thèm ngó."

Miền Nam có quả, nhưng là "quả phụ" tức đàn bà góa chồng còn kêu là "cô phụ", "sương phụ". Ngoài ra còn có "nhơn quả" , “công quả” trong nhà Phật .

Trong thể thao môn túc cầu hay còn kêu là môn "đá banh" , các cầu thủ giành nhau "trái banh". Người Miền Nam không kêu quả banh.

2. Chưng trái cây Miền Nam:

Tết thấy nhiều bạn viết “trưng bông”, ”trưng trái cây”.

Nếu bạn là người Nam Kỳ viết “trưng bông” là sai. Người Bắc hay viết “trưng diện” và ‘trưng ngũ quả”.

Nam Kỳ phải là chưng bông và chưng trái cây.

Chưng trái cây xuất xứ từ chữ chưng diện.

Hồ Biểu Chánh viết vầy:

”Còn cô Hai Phục thì cô chưng diện theo cái phẩm “hoa khôi sắc đẹp.”

-Bàn thờ Nam Kỳ mình sao ta?

Nhà Nam Kỳ có cái tủ thờ ở giữa, hai bên mé chái tả hữu là hai bộ ván (bộ ngựa), giữa nhà là cái bàn dài có chừng 10 cái ghế dựa, khách tới nhà thường được gia chủ mời ngủ ở hai bộ ngựa này.

Người Lục Tỉnh chưng trên tủ thờ có bộ tam sự gồm hai chưn đèn, cái đỉnh trầm vuông trái đào, cái lư hương (vùa hương), bên trái là cái bình bông, bên phải là bàn thang chưng trái cây, giữa ngay cái vùa hương là ba chung nước, để cái đèn hột vịt nhỏ xíu hoặc sau này có thêm cây đèn điện màu đỏ để suốt ngày đêm.

Người Miền Nam khác Miền Bắc là chưng trái cây trên cái chò cây cao cao, trên cái chò là dĩa lớn kêu là dĩa bàn thang hay dĩa chưng trái cây.

Người Bắc kêu là “dĩa quả tử”, trên bàn thờ người Bắc chỉ có dĩa trái cây mà không có cái chò.

-Nghệ thuật chưng trái cây Miền Nam:

Nhà giàu, nhà quý tộc:

Trái cây Nam Kỳ mình nhiều không kể hết nên ông bà mình có nghệ thuật chưng trái cây, kêu chính xác là "Chưng nghi ở Nam Kỳ."

Nam Kỳ mình hồi xưa ở những nhà điền chủ, quý tộc không có chưng trái cây trên bàn thờ bình thường, họ xếp trái cây thành hình tứ linh Long, Lân, Qui, Phụng trên cái dĩa bàn thang lớn.

Đó là chưng nghi, kêu là tạo hình mâm quả.

Đám cưới nhà giàu có mâm chưng nghi, họ sẽ lấy những thứ trái cây như bưởi, khóm, dừa, xoài, nhãn, ớt, đậu đũa, đậu que, cà tím, đậu bắp hòa cùng đinh lăng, nha đam, mạch môn, lưỡi cọp ...mà tạo thành hình rồng phụng.

Thí dụ mâm đám cưới tên là mâm "Loan phụng hòa minh" có hình con rồng quấn quít bên con phụng thì ớt hiểm, ớt sừng trâu đỏ chót thành móng rồng, lá thiên tuế kết thành hình đuôi rồng, trái muối đỏ xỏ kẽm xen kẽ với bông vẹt làm đuôi phụng, trái đậu bún làm miệng rồng, đậu bắp làm mặt phụng, vỏ trái cám, trái cóc kèn làm vảy rồng, trái mận làm mắt rồng…

Bàn thờ chưng mâm quả lớn này cũng phải rộng, lớn mới đủ, kết hợp với hai cặp chưn đèn và cái lư hương cũng lớn.

Với trung lưu và bình dân:

Tết nhứt, các gia đình Miền Nam ngày xưa chứng rất nhiều loại trái cây và xếp lên trên dĩa bàn thang. Hồi xưa chưng tuỳ thích, tức là có gì chưng nấy, ba loại cũng được, chục loại cũng xong.

Có nhà chưng hai thứ là bưởi và quýt. Có nhà chưng bưởi và mãng cầu. Có nhà chưng chuối sứ và trái bưởi trên bàn thờ cũng xong.

Thuật ngữ “Mâm ngũ quả” rõ ràng không phải của người Miền Nam xưa.

3.Tại sao Miền Nam lại có “mâm ngũ quả”?

Chữ “quả” chỉ trái không phải của Miền Nam. Người Miền Nam rất tự do không gò bó trong chưng trái cây thì làm sao có “chưng mâm ngũ quả” trong năm thứ?

Trong truyện Hồ Biểu Chánh không thấy dòng nào “mâm ngũ  quả”. Và đương nhiên đọc Trương Vĩnh Ký cũng không thấy nói.

Sao mờ thấy vì dân Lục Tỉnh Nam Kỳ tánh tự do chưng bao nhiêu trái là tuỳ thích, tuỳ hòan cảnh, không bó buộc.

Nhưng đọc Hồ Trường An thấy viết rằng: ”chưng ngũ huê ngũ quả”.

Có thể hiểu, chưng “ngũ quả” có lẽ ảnh hưởng từ người Bắc di cư vào trong Miền Nam. Nhưng từ trước 1975 không ảnh hưởng nhiều lắm trong Miền Nam vì người Miền Nam vẫn có gì chưng nấy.

Người Miền Bắc thích áp đặt này nọ, trong chưng trái cây cũng vậy. Thí dụ trái Phật thủ như bàn tay Đức Phật nhưng chưng thôi, không ăn được.

Con số 5 là tượng trưng cho “ngũ hành ”kim - mộc - thủy - hỏa - thổ" là năm thứ tạo ra thế gian.

Mâm ngũ quả ở Bắc Kỳ phải có chuối và bưởi là không thể thiếu vì nó tượng trưng cho âm-dương. Ngoài  ra còn có thứ không thể thiếu là trái sung hoặc trái mây, rồi thêm trái “quất” (tắc).

Cái chữ “mâm ngũ quả” xuất hiện rầm rộ ở Miền Nam sau 1975 sau khi “giải phóng Miền Nam”, khi mà truyền thông, tuyên truyền là do người Miền Bắc nắm hết.

Trên báo người ta đọc được những bài về “Nghệ thuật trưng ngũ quả Miền Nam”.

Chưng ngũ quả của người Nam Kỳ theo truyền thông thường là : Mãng cầu Xiêm. – Sung. – Dừa. – Đu đủ. – Xoài. ngụ ý “cầu sung túc vừa đủ xài”.

Kinh tế bao cấp, cuộc sống khó khăn, vượt biên, đi kinh tế mới, đánh tư sản đói rách nên làm người ta mơ về bàn thờ ngày Tết kêu là "mâm ngủ quả" kiểu "Cầu Dừa Đủ Xoài Sung" hay "Cầu Vú Dừa Đủ Sung".

Trái sung là trái vô dụng trong các loại trái cây Miền Nam vì không ăn được. Xóm làng Nam Kỳ sung chín rục đỏ đất không ai dòm. Trước 1975 không ai chưng trên bàn thờ trái sung, chưng cho ông bà quở à? Sau 1975 nghèo quá, đói quá, mơ quá nên bắt chước người Bắc lôi trái sung lên bàn thờ luôn.

Thiệt ra chưng hơn 5 loại hoặc ít hơn 5 loại trái cây cũng được.

4. Trái chuối trong văn hoá chưng trái cây của người Nam Kỳ.

Ngày xưa, trước 1975 người Miền Nam chưng trái cây luông tuồng, tự do. Nhà có bụi chuối sứ, chuối cau cứ ra chặt đem chưng lên dĩa bàn thang.

Chuối cúng ở Miền Bắc phải là chuối già lớn trái  và cong vút lên. Còn Nam Kỳ thì không cúng chuối già vì nó giống cái kia. Nam Kỳ chưng chuối sứ và chuối cau thôi.

Ngày thường, đám giỗ, đám cưới Nam Kỳ hồi xưa chưng chuối thoải mái.

Nhưng cũng sau 1975, sau những năm đói khát bao cấp, người Miền Nam bắt đầu “sợ phong long”.

Tết người Nam Kỳ không cúng chuối vì sợ chúi nhủi, chúi lúi.

Dân Miền Nam Tết chưng chuối sẽ bị phản ứng liền, nhứt là những nhà làm ăn, nhà thượng lưu, đó là quy tắc hình thành theo năm tháng.

Ông bà mình từ từ loại chuối ra khỏi cái dĩa bàn thang ngày Tết và đám cưới, chuối chỉ còn trong đám ma, đám giỗ và chưng ngày thường.

Từ trước do ảnh hưởng người Tàu, Tết và đám cưới người Miền Nam cũng kiêng chưng bông trắng. Bông huệ trắng được xem là bông đám ma.

Tết Nam Kỳ kiêng cử từ đó.

Xin khẳng định chữ "kiêng cử", "kiêng kị" không phải là mê tín dị đoan, phạm trù mê tín dị đoan nó qua cái nghĩa sùng kiểu thần thánh và u mê, đôi khi lạc hậu và có hậu quả, kiêng kị thì chẳng hậu quả chi hết.

"Có thờ có thiêng
Có kiêng có lành"

Ngày Tết người Nam Kỳ kiêng kị chưng bông trắng, mặc đồ đen. Nếu Tết mặc áo dài trắng mà màu trắng là màu tang tóc và màu đen cũng tốc tang, người Tàu cũng kiêng hai màu này.

Nam Kỳ chưng bông vạn thọ và bông mai, bông cúc vàng, mặc áo dài xanh, vàng, đỏ, xanh đậm và có hoa văn.

Cái đỏ lòm đáng yêu của người Nam Kỳ ngày Tết là dưa hấu, dưa hấu ngon ngọt và đỏ xẻ ra cát mịn nguyên trái, màu đỏ của quê nhà làm người ta yêu thương xứ sở.

Cây chưng ngày Tết, Bắc Kỳ chưng tắc vì nó là cây quất, quất Tết sướng quíu. Tàu thích chưng tắc vì nó vàng vàng tròn tròn giống vàng, rồi 稷子 tắc tử có nghĩa hạt kê là sung túc. Nhưng người Nam Kỳ lại có "Tắc tử" có nghĩa là "Thì chết" trong câu "Phúc thống phục nhân sâm tắc tử"( Đau bụng uống nhân sâm thì chết).

Nhưng Nam Kỳ cũng không quan niệm hết về cây tắc.

Bắc Kỳ kêu cây tắc là cây quất, Trung Kỳ kêu cây tắc là cây quật, vùng Sài Gòn xung quanh tới Mỹ Tho kêu cây tắc, xuống miệt dưới Miền Tây né kêu là cây hạnh.

Nam Kỳ kiêng chưng cam trên bàn thờ vì nó cam phận, chỉ chưng quýt chưng bưởi. Nhưng nghĩ vầy, cam là trái nuôi người bịnh, Tết nhứt thấy trái cam là nghĩ tới cái cảnh lê lết ở bịnh viện nên kiêng nó chăng?

Tết Nam Kỳ có một món nhà nào cũng có, đi chung thịt kho hột vịt, đó là nồi khổ qua nhồi cá thát lát hầm.

Vì sao nó tên khổ qua thì không ai biết, nhưng làm nồi khổ qua xả xui là tâm lý dân Nam Kỳ ta ngày Tết.

Mà ngẫm cũng rất khoa học, ăn đồ Tết rất nóng táo bón -nổi ghèn muốn chết, ăn khổ qua vô cho mát, dù nó có vị đắng nhưng đâu ai nói nó đắng nghét cuộc đời đâu.

Tết Nam Kỳ không ăn vịt, có người nói vịt lẹp bẹp chậm, cũng có thể, nhưng thịt vịt có tính hàn, khó tiêu, có lẽ kiêng bị Tào Tháo rượt chăng?

H.Phúc ST