Jan 21, 2021

Những nữ khoa học vô danh góp phần thay đổi thế giới

  Ngoại trừ Marie Curie, bạn có thể kể thêm được bao nhiêu cái tên của các nữ khoa học khác? Cùng điểm lại một vài nhà khoa học nữ ít được biết đến, đã có công góp phần trực tiếp vào thành tựu của nền khoa học thế giới cho đến ngày nay.

1. Ada King - nữ lập trình viên đầu tiên của nhân loại

Có một tuổi thơ không mấy yên bình và thiếu vắng sự chăm sóc của người cha ngay từ rất nhỏ, Ada King (1815 - 1852) đã tìm cho mình một niềm vui đó là tham gia các nghiên cứu toán học cấp cao. Và rồi, tài năng của Ada được phát hiện.

Ada King - nữ lập trình viên đầu tiên của nhân loại

Bà nhanh chóng trở thành đồng nghiệp với nhà nghiên cứu máy tính Charles Babbage sau khi được người giảng viên của mình giới thiệu. Nhận thấy các máy móc dùng để tính toán xuất hiện phổ biến vào thế kỉ XIX, nhưng vẫn rất cồng kềnh, đặc biệt là những máy tính số học, Babbage đã nghiên cứu và đề xuất một sáng kiến mới, gọi là Công cụ phân tích.

Bà đã viết ra các thuật toán đầu tiên - được coi như là một chương trình máy tính sau này

Ada nhận thấy được tiềm năng của sáng kiến này có thể vượt ra khỏi các phép toán đơn giản nên đã cống hiến hết mình cho nghiên cứu này. Trong khi dịch và tìm hiểu dữ liệu về công cụ phân tích, bà đã viết ra các thuật toán đầu tiên - được coi như là một chương trình máy tính sau này.

2. Emmy Noether - nữ hoàng toán học

Ở vào cùng thời với Einstein, Emmy Noether (1882 - 1935) được ví như "nữ hoàng của toán học". Bà nghiên cứu về đại số trừu tượng và viết nhiều cuốn sách về các khái niệm toán khác nhau. Không những vậy, bà còn viết ra định lý của riêng mình với tên gọi “định lý Noether”. Định lý nói về những định luật cơ bản như bảo toàn động lượng tuyến tính và bảo tồn năng lượng.

Emmy Noether - nữ hoàng toán học

Thậm chí đến ngày nay, nghiên cứu của Emmy vẫn được sử dụng trong công cuộc khám phá hố đen và tìm ra đối tượng mới ngoài không gian.

Emmy Noether là người mẹ đỡ đầu cho nền toán học hiện đại

Có thể nói, Emmy không chỉ là người mẹ đỡ đầu cho nền toán học hiện đại mà còn là một người rất quảng đại. Bà cho phép các học giả khác sử dụng công trình của mình mà không cần dẫn nguồn, vì thế bà luôn được vinh danh như một đồng tác giả của các bài báo về toán học hiện đại. Tên của bà được đặt cho một tiểu hành tinh nhỏ trong vành đai của hệ Mặt trời.

3. Mary Anning - nhà cổ sinh vật học

Mary Anning (1799 - 1847) sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp lao động Anh. Cha cô thường khai thác các hóa thạch vào thời gian rảnh rỗi để bán cho khách du lịch, và ông thường đem các con của mình theo mỗi khi tìm kiếm.

Mặc dù được cho là sẽ theo đuổi công việc đồng áng, nhưng Mary lại quyết định chọn sự nghiệp "đào bới", tìm hiểu về các hóa thạch bởi bà luôn có cảm hứng với chúng.

Mary Anning - nhà cổ sinh vật học

Mary đã thực hiện một loạt những khám phá mang tính cách mạng trong những năm đầu thế kỷ XIX. Bà đã khai quật được những phần xương khổng lồ của loài thằn lằn cá, plesiosaurs (một loài khủng long nước có 4 vây và cổ dài) hay thằn lằn bay vào khoảng năm 1809 - 1829.

Hóa thạch của những loài khủng long cổ đại này là những phát hiện vô cùng quan trọng bởi trước đó, chưa ai tìm ra manh mối về chúng. Những đóng góp của Mary đã giúp giải quyết nhiều tranh cãi về sự tuyệt chủng và trở thành ý tưởng sáng lập ra lĩnh vực cổ sinh vật học.

Mary Anning - nhà cổ sinh vật học

Nhưng bởi xuất thân từ một gia đình dị giáo nghèo nên những phát hiện của cô không được cộng đồng khoa học công nhận. Các nhà địa chất báo cáo về những khám phá của Mary nhưng không bao giờ đề cập đến sự tham gia của bà. Chỉ khi bà mất, một số loài đã được đặt theo tên của Mary nhằm vinh danh những đóng góp quan trọng giúp thay đổi mô hình cổ sinh vật.

4. Dorothy Hodgkin - phát hiện ra cấu trúc vitamin B12

Dorothy Hodgkin (1910 - 1994) được sinh ra ở Ai Cập, có cha mẹ là những nhà khảo cổ học. Trong Thế chiến thứ I, Dorothy trở lại Anh và bắt đầu công cuộc học tập của mình.

Từ sớm, bà đã bộc lộ tài năng phi thường về hóa học của mình và được chấp nhận cho theo học ở ĐH Somerville mặc dù chưa vững vàng tiếng Latin. Tại đây, bà bắt đầu nhận thức về tinh thể tia X, điều mà sau này đã dẫn đến những khám phá lớn nhất của bà.

Dorothy Hodgkin - phát hiện ra cấu trúc vitamin B12

Bằng việc sử dụng kỹ thuật mới tinh thể học Xquang và những máy tính đầu tiên, bà đã phát hiện ra cấu trúc phân tử của penicillin, vitamin B12 và insulin. Công trình của bà giúp vẽ ra những bản đồ protein phức tạp đã được đón chào như một thành tựu vĩ đại.

Bà nhận giải Nobel năm 1964 nhờ phát hiện ra cấu trúc của B12

Từ đó, các nhà khoa học có thể thay đổi và tổng hợp các chủng mới của penicillin, insulin và B12, giúp cứu sống được vô số người. Bà nhận giải Nobel năm 1964 nhờ phát hiện ra cấu trúc của B12 và cũng là một nhà hoạt động nhân quyền đấu tranh cho hòa bình, giải trừ quân bị trên thế giới.

5. Jocelyn Bell Burnell - người đầu tiên quan sát, phân tích các ẩn tinh

Jocelyn Bell Burnell - người đầu tiên quan sát, phân tích các ẩn tinh

Jocelyn Bell Burnell, nhà vật lý thiên văn người Ireland, bắt đầu nghiên cứu thiên văn học sau khi cha bà, một kiến trúc sư, thiết kế nhà mô hình vũ trụ ở Bắc Ireland. Năm 1969, Burnell nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Cambridge, Anh, khi bà tham gia chế tạo một chiếc kính thiên văn cho phép phát hiện tín hiệu vô tuyến từ ẩn tinh, sóng tàn dư của những ngôi sao lớn.

Tên của bà và cộng sự xuất hiện trên nhiều ấn phẩm học thuật. Nhưng chỉ có Antony Hewish, cấp trên của Burnell và đồng nghiệp Martin Ryle, nhận giải thưởng Nobel năm 1974 dành cho những khám phá này.

6. Rosalind Franklin - chụp ảnh cấu trúc ADN

Rosalind Franklin - chụp ảnh cấu trúc ADN

Rosalind Franklin, nhà khoa học nữ người Anh, là người đầu tiên chụp ảnh cấu trúc ADN thông qua quá trình nhiễu xạ tia X. Ngày nay, chúng ta biết ADN là một chuỗi xoắn kép, gồm hai mạch nucleotide song song, xoắn đều theo chiều từ trái sang phải.

Theo Scientific American, những bức ảnh ADN của Franklin bị sử dụng khi chưa được bà cho phép. Năm 1953, Francis Crick và James Watson công bố loạt ảnh trên ấn bản của tạp chí Nature, nhưng chỉ chú thích tên Franklin ở cuối trang. Franklin đã qua đời trước khi chứng kiến Watson và Crick nhận giải Nobel. Năm 1958, Franklin chết vì bệnh ung thư, có thể do tiếp xúc quá nhiều với tia X.

7. Lise Meitner

Lise Meitner

Lise Meitner, nhà vật lý người Áo, làm việc cùng với nhà hóa học Otto Hahn suốt 30 năm để khám phá hiện tượng phân rã hạt nhân, nghiên cứu cho phép chế tạo quả bom nguyên tử sau này. Meitner tiến hành một phần nghiên cứu ở Thụy Điển khi chạy trốn khỏi Đức quốc xã. Dù cả hai nhà khoa học cùng nghiên cứu và được đề cử, chỉ có Hahn nhận giải Nobel vào năm 1944.

Meitner cũng có công phát hiện, bổ sung thêm một nguyên tố trong bảng tuần hoàn hóa học, đó là nguyên tố meitneri (Mt), mang số hiệu nguyên tử 109.

8. Cecilia Payne-Gaposchkin

Cecilia Payne-Gaposchkin

Cecilia Payne-Gaposchkin là chuyên gia nghiên cứu thực vật, vật lý, hóa học tại Đại học Cambridge, Anh, trong những năm đầu thế kỷ 20. Payne chuyển đến Mỹ để tốt nghiệp và nhận học vị. Tại Đại học Radcliffe trực thuộc Đại học Harvard, Mỹ, Payne trở thành người đầu tiên nhận học vị tiến sĩ vật lý thiên văn khi giải thích ngôi sao có cấu tạo từ hydro và heli.

Luận án của Payne được đánh giá là "luận án tiến sĩ xuất sắc nhất từng được viết trong lĩnh vực thiên văn học". Tuy nhiên, phải mất 5 năm sau đó khám phá của bà mới được chấp nhận rộng rãi, khi nhà khoa học Henry Norris Russell công bố kết quả tương tự.

9. Nettie Stevens

Nettie Stevens

Nettie Stevens, tiến sĩ di truyền học người Mỹ, là người đầu tiên khám phá tầm quan trọng của nhiễm sắc thể Y trong việc xác định giới tính của một loài nhất định. Giới khoa học trước đó cho rằng, mẹ và các yếu tố môi trường xác định giới tính của một người.

Trong mắt nhiều người, Stevens chỉ là người làm việc cho nhà khoa học nổi tiếng Thomas Morgan, trong khi hầu hết các phát hiện của bà đều được thực hiện độc lập. Thomas Morgan mới đầu bác bỏ những suy nghĩ của Stevens về nhiễm sắc thể Y, nhưng sau đó công nhận phát hiện trên vào năm 1905.

9. Irene Curie-Joliot

Nhà hóa học Irene Curie-Joliot

Nhà hóa học Irene Curie-Joliot là con gái của nhà khoa học Marie Curie đã theo đuổi đam mê nghiên cứu khoa học từ cha mẹ. Theo đó, Irene Curie-Joliot từng nhận giải Nobel về hóa học vào năm 1935.

10. Jane Goodall

Nhà linh trưởng học Jane Goodall

Nhà linh trưởng học người Anh nổi tiếng thế giới Jane Goodall đã dành hơn 50 năm sống trong rừng với tinh tinh trong những cánh rừng nguyên sinh ở châu Phi. Bà còn được biết đến với tên gọi "hiệp sĩ rừng xanh" khi dành cả tuổi thanh xuân của mình để nghiên cứu về loài linh trưởng này.

11. Barbara McClintock

Nhà di truyền học Barbara McClintock

Nhà di truyền học Barbara McClintock vinh dự được nhận giải Nobel Sinh học năm 1983 và trở thành người phụ nữ tại Mỹ đầu tiên nhận được giải thưởng khoa học danh giá này. Bà đã có nghiên cứu mang tính đột phá về bộ gene cây ngô. Theo bà McClintock, bộ gene của ngô không phải cố định. Nó có rất nhiều sự thay đổi qua các đời khác nhau, trong đó chưa kể đến các đột biến.

12. Hypatia

Nhà khoa học Hypatia

Nhà khoa học Hypatia của Hy Lạp có nhiều thành tựu nổi trội trong lĩnh vực vật lý và thiên văn học. Bà được tôn vinh như một vị thánh của khoa học khi sinh sống vào thời điểm xã hội không khuyến khích phụ nữ đi học cũng như đề cao, kỳ vọng họ trở thành nhà khoa học, nhà toán học. Bà là con gái nhà toán học và triết học nổi tiếng ở Alexandria nên được cha truyền dạy kiến thức.

13. Maria Mitchell - Nhà nữ thiên văn học đầu tiên

Maria Mitchell (1818 - 1889) là nhà nữ thiên văn học tài năng người Mỹ.

Mitchell tìm thấy một sao chổi sau này được đặt theo tên bà
Mitchell tìm thấy một sao chổi sau này được đặt theo tên bà - (Ảnh: GETTY IMAGES).

Đầu thế kỷ 19, người dân ở Nantucket, bang Massachusetts (Mỹ) thường đặt những chiếc kính thiên văn lớn để theo dõi thuyền bè. Cô gái trẻ Maria Mitchell đã tò mò dùng những chiếc kính này quan sát vị trí các chòm sao và tìm mối liên kết với các hiện tượng khí tượng thủy văn, đem lại ích lợi cho người đi biển.

Đến năm 1847, cô cùng cha mình thiết kế một đài quan sát nghiệp dư để thỏa đam mê vũ trụ. Tối 1-10-1847, Mitchell - khi đó 29 tuổi - tình cờ quan sát được một ngôi sao có hình dáng lạ và đặt tên là sao chổi 1847 VI. Để tri ân bà, ngôi sao còn được giới thiên văn gọi là "sao chổi Mitchell".

Năm 1865, bà đảm nhận vị trí chuyên gia nghiên cứu vũ trụ tại Trường Vassar College, trở thành nhà nữ thiên văn học chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới.

Với những đóng góp của mình, năm 1848, bà được vua Frederick VII (Đan Mạch) trao tặng huân chương vàng có khắc dòng chữ "Non Frustra Signorum Obitus Speculamur et Ortus", nghĩa là "Quan sát những vì sao mọc rồi lặn không phải là điều vô nghĩa".

14. Marie Tharp - Vẽ bản đồ đáy biển

Marie Tharp và công trình vẽ bản đồ đáy biển Đại Tây Dương nổi tiếng
Marie Tharp và công trình vẽ bản đồ đáy biển Đại Tây Dương nổi tiếng - (Ảnh: GETTY IMAGES)

Nhà khoa học Marie Tharp (1920-2006) nổi tiếng với công trình vẽ lại bản đồ địa hình đáy biển Đại Tây Dương.

Thời của bà, phụ nữ thường ít được cho phép tiếp xúc với nghiên cứu thực nghiệm dưới đại dương, Marie Tharp phải nghiên cứu hàng trăm dữ liệu từ các đồng nghiệp và nhờ hệ thống siêu âm để có thể đưa ra bản đồ mô tả địa hình đáy Đại Tây Dương với độ chính xác trên 90%.

Khi nghiên cứu, bà nhận ra những thung lũng dưới đáy đại dương thường nằm ở nơi hoạt động mạnh của các mảng kiến tạo của vỏ Trái đất. Do đó, những thung lũng này là bằng chứng cho thấy 2 mảng kiến tạo gần nhau thường tác động nhau tạo thành nhiều dạng địa hình mới.

Ban đầu, lý thuyết này của bà bị nhiều đồng nghiệp bác bỏ, nhưng sau đó giới khoa học công nhận bà là một trong những người có công trong việc bổ sung vào thuyết trôi dạt lục địa hiện đại.

15. Elacta Johnson - 7 lần đi vòng quanh thế giới

Bà Elacta Johnson
Bà Elacta Johnson là tác giả của nhiều quyển sách ghi lại hành trình thám hiểm đường biển của mình - (Ảnh: GETTY IMAGES)

Elacta Johnson (1909-2004) là một trong những phụ nữ di chuyển đường biển nhiều nhất thế giới. Năm 1932, sau khi kết hôn, bà cùng chồng bắt đầu những chuyến hải trình cùng nhau. Ước tính, bà đã 7 lần đi thuyền vòng quanh thế giới cùng nhiều lần thám hiểm biển Baltic, xuôi dọc sông Nile…

Thông thường, gia đình di chuyển trên biển trong khoảng 18 tháng qua gần 120 cảng biển, rồi dành 18 tháng tiếp theo ở đất liền. Mỗi lần di chuyển, bà cùng chồng tổ chức những đợt huấn luyện cho các thủy thủ trở thành nhà thám hiểm. Ngoài ra, bà còn viết văn, làm phim ghi lại những câu chuyện trong chuyến hải trình của mình.

Năm 2005, bà qua đời ở tuổi 95. Ước tính thời gian đi biển của bà gấp 2 lần quãng đường từ Trái đất đến Mặt trăng.

16. Dickey Chapelle (1919-1965) - nữ phóng viên đưa tin về chiến tranh ở Việt Nam

Dickey Chapelle là phóng viên đưa tin trong Chiến tranh Việt Nam, nữ phóng viên chiến trường Mỹ đầu tiên thiệt mạng trong trận chiến.

Năm 1959, Dickey Chapelle chuẩn bị nhảy khỏi một tòa tháp. Nữ phóng viên chiến trường lừng lẫy lần đầu tiên nhảy dù ở độ tuổi 41 cùng Sư đoàn 101 của Quân đội Hoa Kỳ tại Kentucky. Bà cảm thấy sợ, nhưng nỗi sợ không bao giờ tồn tại lâu đối với Chapelle. Bà tuyên bố nhảy dù là một trong những điều tuyệt vời nhất mà người ta có thể trải nghiệm trong đời.

Vào lúc đó, Chapelle đã viết về hàng chục cuộc xung đột, gồm cả trong Thế chiến thứ hai. Bà từng bị bỏ tù trong cuộc nổi dậy ở Hungary và là nhà báo đầu tiên được phiến quân Algeria công nhận. Fidel Castro gọi bà là “cô người Mỹ nhỏ bé lịch sự có dòng máu hổ chảy trong huyết quản”. Sau một đợt huấn luyện khắc nghiệt, bà trở thành người phụ nữ duy nhất tại thời điểm đó được nhảy dù với lính nhảy dù trong trận chiến tại Việt Nam.

Dickey Chapelle đã đi qua hàng chục trận đánh trong Chiến tranh Việt Nam
Dickey Chapelle đã đi qua hàng chục trận đánh trong Chiến tranh Việt Nam, cuối cùng bà bỏ mạng trong một đợt hành quân ở Chu Lai. (Ảnh: George F. Mobley).

Ghim phù hiệu lính nhảy dù Việt Nam và phù hiệu lính nhảy dù của quân đội Hoa Kỳ vào chiếc mũ bụi bặm của mình, bà mạo hiểm tới những nơi các phóng viên khác không dám bén gót. Tuy sự hiện diện của bà là một điều kì lạ, nó cũng không đem lại cho bà bất kì đối xử đặc biệt nào. Sau này, bà đặt tên cho cuốn tự truyện của mình theo những câu nói mà bà thường nghe trên chiến trường: “Phụ nữ làm gì ở đây vậy?”.

“Không đời nào chiến tranh lại là nơi không dành cho phụ nữ”, Chapelle nói trong một cuộc phỏng vấn. Năm 1962, Chapelle trở thành người phụ nữ thứ hai nhận Giải thưởng Báo chí George Polk - giải thưởng cao quý tôn vinh lòng dũng cảm phi thường nơi bà. Bà đã chứng kiến nhiều trận đánh ở Việt Nam hơn bất kỳ người Mỹ nào khác. Bà tham gia tổng cộng 17 cuộc chiến. Nhưng mọi thứ đã kết thúc tại đó.

Dickey Chapelle đang tác nghiệp giữa cao điểm của trận chiến tại Việt Nam
Dickey Chapelle đang tác nghiệp giữa cao điểm của trận chiến tại Việt Nam. (Ảnh: Nat Geo Image Collection).

Vào ngày 4/11/1965, khi Chapelle đang làm nhiệm vụ gần thành phố ven biển Chu Lai, bà bị trúng đạn vào cổ. Bà qua đời trên một chiếc trực thăng và trở thành nữ phóng viên Mỹ đầu tiên hy sinh trong trận chiến. Nhiều năm sau, các nhà báo khác đưa tin rằng sư đoàn lính nhảy dù của Việt Nam vẫn còn nhớ về người phụ nữ nhỏ bé, ăn nói bỗ bã từng nhảy dù chung với họ.

17. Harriet Chalmers Adams (1875-1937)

Nữ nhà báo đầu tiên đến thăm các chiến hào Pháp trong Thế chiến I; Chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội các nhà Nữ địa lý.

Vào những năm 1880, rất lâu trước khi trở thành nữ thám hiểm vĩ đại nhất thời đại của mình, cô bé Harriet Chalmers tám tuổi đã băng qua Sierra Nevada (một dãy núi phía tây Hoa Kỳ) trên lưng ngựa cùng cha. Năm 24 tuổi cô kết hôn với Franklin Pierce Adams và họ đã có chuyến du hành 64.370 km đến Mỹ Latin bằng ngựa, xuồng, xe lửa và… đi bộ.

Bà Adams đặt ra sứ mệnh đi đến mọi quốc gia đã hoặc đang là thuộc địa của Tây Ban Nha và lần lại dấu vết của Christopher Columbus từ châu Âu đến châu Mỹ. Bà đi qua châu Á và tham dự lễ đăng quang hoàng đế Haile Selassie của Ethiopia. Trong Thế chiến thứ nhất, bà là nữ nhà báo đầu tiên được phép chụp ảnh các chiến hào Pháp - nơi bà lưu lại trong nhiều tháng.

Harriet Chalmers Adams
Harriet Chalmers Adams đã dành cả cuộc đời của mình để khám phá thế giới và là người đóng góp rất nhiều cho National Geographic trong 50 năm đầu tiên của lịch sử tờ báo này. Ảnh: Alamy Stock Photo.

Adams không phải nhà địa lý được đào tạo chuyên nghiệp và chưa từng học đại học, nhưng những bức ảnh màu và phong cách du lịch mạo hiểm của bà đã khiến bà nhận được hàng tá lời mời nói chuyện trên khắp thế giới - thường là từ các tổ chức chưa từng mời phụ nữ trước đây. Bà là phụ nữ Mỹ thứ ba được đề nghị gia nhập Hiệp hội Địa lý Hoàng gia ở Anh.

Đàn ông “luôn lo sợ rằng sẽ có vài phụ nữ mạo phạm vào những cuộc thảo luận linh thiêng của họ, nên họ thậm chí không cho phép phụ nữ bước vào nơi diễn ra những câu lạc bộ đó, chứ đừng nói cho phép họ tham dự những cuộc họp mà có thể có lợi cho đôi bên,” Adams từng nói.

Và thế là một số nhà thám hiểm nữ quyết định thành lập câu lạc bộ của riêng họ. Năm 1925, Hiệp hội các Nhà địa lý nữ ra đời với Adams là chủ tịch đầu tiên. Bà giữ chức vụ cho đến khi chuyển đến Pháp vào năm 1933 và qua đời bốn năm sau đó ở tuổi 61.

Cập nhật: 05/03/2020 Tổng hợp

KHạnh sưu tầm 

Jan 19, 2021

Song Thao viết về LỆ THU truyện ngắn LẼ RA

 Song Thao viết về Lệ Thu và truyện ngắn "Lẽ ra"


     VĨNH BIỆT LỆ THU



Tôi biết Lệ Thu từ hồi chưa có cái tên Lệ Thu. Khi đó Oanh mới 15
tuổi, tươi mát, xinh xắn, là hàng xóm của anh bạn tôi. Anh Trần Cao S.
Hồi đó chúng tôi đang học lớp Đệ Nhị ban Văn Chương trường Chu Văn An.
Khoảng thời gian đó, năm 1956, thi Tú Tài Một, ban C, như một cuộc
vượt vũ môn. Số người đậu chỉ khoảng 10%. Chục người thi chỉ có một
người đậu. Đi nghe đọc kết quả thi như đi nhận bản án. Số báo danh
được xướng lên cách từng quãng lớn. Có khi cả phòng thi không có một
người đậu. Vậy nên học thi tới xanh lét người.
Nhà S. hồi đó ở đường Hòa Hưng, có phòng rộng rãi, chúng tôi tụ nhau
lại học thi. Học chung như vậy có cái lợi là người nọ chỉ cho người
kia nếu chưa thấu hiểu bài. Nhà Oanh ở ngay sát vách nhà S. Oanh chơi
với cô em gái S. nên chạy qua chạy lại hoài. Ngày đó, Oanh xinh xắn,
ríu rít như một con họa mi, thường rót nước, cắt trái cây cho chúng
tôi giải lao. Khi Oanh thành Lệ Thu, hát ở vũ trường, S. tới nghe
hoài, còn tôi hồi đó không có cái thú la cà những nơi đó. Lệ Thu có
nhắn S. rủ tôi tới nhưng chẳng biết sao, tôi chẳng một lần thấy Lệ Thu
trên bục trình diễn.
Năm 2004, tôi gặp lại Lệ Thu khi cô tới hát tại Toronto. Dĩ nhiên sau
từng đó năm xa cách Lệ Thu không nhận ra tôi khi tôi hỏi : “Oanh khỏe
không?”. Thấy tôi hỏi bằng tên thật, cô nàng nhíu mắt, chồm tới hỏi
gấp: “Anh là ai vậy?”. Tôi ỡm ờ hỏi lại: “Oanh còn nhớ ngày ở Hòa Hưng
không?”. Lệ Thu cuống quýt cùng tôi nhắc về những ngày đó. Cô luôn
giục tôi: “Anh nói nữa đi!”. Hình như gặp lại cố nhân của những ngày
hoa mộng đó làm cô nhỏ Oanh sống trở lại thời kỳ chanh cốm của mình.
Chúng tôi nhắc nhau ôn lại những kỷ niệm của thời xa xưa đó. Chính Lệ
Thu cho tôi biết anh bạn tôi, anh Trần Cao S. đã mất. Từ ngày đó tới
nay, tôi không có dịp gặp lại Lệ Thu nữa.
Giao tình của tôi với Quỳnh Giao lại là một chuyện khác. Quỳnh Giao
kết duyên với anh bạn tôi, anh DNH, bạn học tại Chu văn An và Đại học
Văn Khoa Sài Gòn. Thời gian ở Sài Gòn sau khi rời Văn Khoa, tôi chỉ
thỉnh thoảng gặp H., chưa bao giờ gặp Quỳnh Giao. Những ngày chộn rộn
đó, đã hết thời kỳ sinh viên bên nhau, mỗi người chúng tôi đều có công
việc riêng nên chúng tôi hầu như mất liên lạc với nhau. Phần lớn đã
nhập ngũ. H. cũng nhập ngũ nhưng làm ngay tại Đài Phát Thanh Quân Đội
nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần cầu Thị Nghè. Nhà tôi ở Thị
Nghè, ngày ngày đi làm phải ngang qua đài, vậy mà chẳng bao giờ gặp
nhau. Kể cũng lạ. Nhưng sau 1975 lại khác. Tôi gặp lại nhiều bạn bè cũ
trong các trại được gọi là “học tập cải tạo”. H. nhanh chân chuồn đi
được ngay năm 1975 nên tôi không gặp lại vợ chồng anh. Qua Mỹ, H. may
mắn vào làm biên tập viên của đài VOA. Chục năm sau, tôi mới được bảo
lãnh qua Montreal. Không biết sao anh biết tin để liên lạc lại ngay
với tôi. Một năm sau, năm 1986, khi đài VOA tuyển người, anh bạn gửi
đơn qua cho tôi và hối thúc tôi thi “để tụi mình lại ngày ngày gặp
nhau như ở Văn Khoa ngày cũ”. Tôi điền đơn dự thi và được sắp xếp tới
thi tại tòa Lãnh Sự Mỹ nằm trong cao ốc Complexe Desjardin ở downtown
Montreal. Ngày thi, leo lên xe buýt, tay cắp mấy cuốn tự điển, lên
đường, lòng riêng chán ngán. Nể bạn, muốn thử thời vận chứ chẳng hy
vọng chi khi biết có tới 160 người thi trên khắp thế giới, chỉ chọn có
ba người. Chữ nghĩa sau chục năm bỏ xó đã gỉ sét, hy vọng chi. Mỗi
người thi riêng rẽ tại các tòa Đại Sứ và Lãnh Sự nơi cư ngụx. Bài thi
và băng thu giọng đọc được gửi về đài tại Hoa Thịnh Đốn chấm chung.
Vậy mà tên tôi có trong số ba người trúng tuyển. H. rất mừng trước
viễn ảnh chúng tôi lại gặp nhau hàng ngày. Nhưng số tôi vất vả, đài bị
cắt giờ phát thanh, tôi phải chờ khi có chỗ trống mới có thể qua làm
việc. Ba năm sau, không được kêu, họ bắt thi lại, tôi bỏ cuộc. Vậy là
lỡ dịp qua làm hàng xóm với vợ chồng Quỳnh Giao. Trong thời gian ở thủ
đô nước Mỹ, Quỳnh Giao không có cơ hội thi thố tài năng. Chỉ ra được
ba cuốn băng “Hát Cho Kỷ Niệm”. Mỗi lần có băng, hai vợ chồng đều gửi
qua cho tôi. Tới nay tôi còn giữ được những...kỷ niệm này. Rồi Quỳnh
Giao bỏ đi Cali, ra được một số CD có giá trị, tôi cũng còn giữ được
tất cả. Trong một lần qua Cali, tôi gặp lại Quỳnh Giao tại nhà của anh
chị Nguyễn Mộng Giác. Quỳnh Giao kéo tôi ra nói chuyện riêng. Nàng tâm
sự rất nhiều, nhất là lý do nàng bỏ về Cali.
Trong truyện ngắn “Lẽ Ra”, viết vào năm 2003, tôi mượn hình ảnh của Lệ
Thu và Quỳnh Giao, hư cấu trong nhân vật Mai. Đây có lẽ là nhân vật
tôi đắc ý nhất trong các truyện ngắn của tôi.
Nay, cả hai đã người trước kẻ sau bước qua thế giới khác, họ bỏ lại
trần gian những huy hoàng của cuộc đời nghệ sĩ mà hầu như mọi người
chúng ta, cả trong lẫn ngoài nước, đều ngưỡng mộ. Hai cuộc xí xóa khá
vội vã đã khiến tôi ngơ ngẩn. Chỉ còn lại chút an ủi. Tôi đã kịp giữ
họ lại trong nhân vật Mai. Mai sẽ chẳng bao giờ bỏ đi! Mai sẽ mãi mãi
ở lại trong truyện ngắn “Lẽ Ra” dưới đây



LẼ RA
*SONG THAO





“ Lẽ ra em không nên lấy Đắc.”
Tôi ngước nhìn Mai, vẫn cặp mắt mọng nước mỗi lần có chuyện buồn. Ngày
xưa tôi đã tốn biết bao nhiêu ô mai mơ vì những giọt nước mắt ẩn giấu
này. Chuyện trường, chuyện ngoài đường, chuyện bạn bè, biết bao nhiêu
chuyện đã làm buồn cô bé lúc nào cũng như một cơn mưa thu này. Có lẽ,
ngày đó, chỉ có tôi chịu hiểu và chịu chiều Mai. Soạn thì như một lò
lửa, người lúc nào cũng bắng hắng những lo toan, giờ đâu mà nghe cô em
gái nhỏ nhít nói những chuyện anh cho là vớ vẩn. Tại mày khó chịu quá
chứ sao! Đó là một lời nhận xét và cũng là câu chấm hết cho những
chuyện mà anh cho là đầu cua tai nheo của cô em gái. Bước chân vùng
vằng cùng khuôn mặt tiu nghỉu của Mai thì có nặng thêm được kí nào
trước đôi mắt của Soạn đâu. Mẹ Mai thì chôn mình trong những bận bịu
của một bà mẹ chưa già, lại vẫn cứ tưởng là vẫn còn rất trẻ, tâm trí
nằm nơi những hột xoàn, những quân bài, những kiểu cọ áo quần. Mai
chưa nói hết chuyện thì đã bị mẹ gạt đi như phủi những hạt bụi dính
trên chiếc áo mới rất ưng ý. Chuyện con nít vớ vẩn mà cũng làm mất
thời giờ của người ta!
Tôi dịu giọng thương cảm.
“ Thôi, chuyện qua rồi, em chẳng nên giữ mãi trong lòng làm chi nữa.”
Mắt Mai đờ đẫn.
“ Nhưng em sợ Đắc không hiểu cho em. Dù sao, em cũng đã chủ động trong
chuyện này.”
Tôi thực sự không muốn dây dưa mãi với nỗi phiền muộn này.
“ Anh tin nó sẽ phải hiểu. Chuyện quá khứ chắc nó đã đào mộ vùi lấp đi rồi.”
“ Em nghĩ rằng Đắc sẽ chẳng bao giờ chôn vùi được chuyện này đâu. Em
biết Đắc mà! Dù sao chúng em cũng đã có hơn hai chục năm chồng vợ. Vả
lại, em sợ anh.”
Tôi thực sự không muốn khuấy động nỗi buồn của Mai nhưng thấy cần phải
phá vỡ đi cái bóng u ẩn đang nặng nề trên cuộc gặp gỡ lại của tôi và
cô em hàng xóm đã nhiều năm xa cách.
“ Trông anh dữ lắm sao?”
Mai cúi mặt.
“ Anh không dữ. Nhưng vì anh không một lời trách cứ em nên em sợ.”
Tôi châm chọc Mai cho nhẹ bớt nét muộn sầu trên khuôn mặt tôi vẫn thương.
“ Vậy thì bây giờ anh trách cho em hết sợ nghe.”
Mai cố nhếch miệng.
“ Anh trách bây giờ thì em cũng chẳng hết sợ.”
“ Sao vậy? Anh không trách em sợ, anh trách em cũng chẳng hết sợ.”
“ Tại vì, tự trong lòng anh, anh không trách em.”
Thật ra, khi nghe tin Mai đành đoạn bỏ Đắc ra đi, tôi ngơ ngẩn như
người bị ma ám. Tôi thương cho cả hai người. Lúc đó, tôi còn ở Việt
Nam, cuộc sống ngắc ngoải trong cơm áo, nghe được tin như vậy, tôi
cũng chỉ biết buồn. Cuộc tình không do tôi vun xới nhưng tôi như có
trách nhiệm. Chính tôi đã dẫn Đắc đến nhà Mai. Hồi đó chúng tôi đang
học thi Tú Tài Bán Phần, một cuộc thi khá cam go mà mười người thi may
ra được một hai người có tên trên bảng kết quả. Ông anh tôi trước đó
đã hốc hác học đêm học ngày mà tới ngày nghe đọc kết quả cũng không
dám đi nghe, phải nhờ tôi đi nghe giùm. Tôi chưa thi nhưng nghe những
con số báo danh nhẩy cách từng quãng dài, tim cũng hốt hoảng nhẩy
trong lồng ngực. Chung quanh tôi, những khuôn mặt xám ngoét hoảng loạn
không còn hồn phách treo tim theo những vần tên hụt hẫng phát ra từ
chiếc máy phóng thanh rè rè đầy quyền thế. Cái trò đau tim đó, cộng
thêm với sự thúc hối của cửa quân trường rộng mở nếu hụt tên trên bảng
vàng, làm chúng tôi vật vờ trên đường đi tìm tương lai. Chúng tôi co
lại học thi chung với nhau cho vơi nỗi sợ. Nhà Soạn tương đối rộng
rãi, có phòng riêng, nên ngày đêm tôi và Đắc tới dùi mài kinh sử. Nhà
tôi ở trong đường hẻm sát ngay căn nhà ngoài mặt đường của gia đình
Soạn, nên tôi và Soạn thân nhau. Cả gia đình Soạn coi tôi như người
trong nhà. Chỉ có Đắc ở xa tới nên được làm khách. Mai đang học Đệ
Ngũ, tươi như một cành lan trong sương sớm, là đầu sai của các ông
anh. Thực ra, trong thời gian ngậm ngải tìm trầm, chúng tôi chẳng có
nhiều nhu cầu. Bụng dạ nào mà ăn ăn uống uống. Nhưng Mai lại cứ ngoan
ngoãn lúc thì đĩa cam, lúc thì bình nước, lúc thì chén chè, lúc thì
miếng ổi miếng cóc mang vào cho các ông Tú chờ. Mai lúc nào cũng tươi
tắn chăm lo cho chúng tôi.
“ Mời mấy anh dùng, sau này có làm ông lớn thì đừng có quên Mai.”
Tôi giỡn lại với Mai.
“ Em trông hình hài các anh thì biết, anh nào anh nấy như ve sầu mùa
đông thế này, biết bao giờ lớn được!”
Mai cười theo.
“ Ve sầu mùa đông thì rồi đời rồi, còn đâu mà xác xơ. Anh phải nói là
ve sầu ham hố, muốn bán thịt mình để mua tấm bằng. Mai thấy các anh
học mà muốn bỏ học. Mai ấy à? Đậu hay rớt, kệ! Chứ không có cái kiểu
học tàn phai nhan sắc như các anh đâu!”
Mai bưng miệng. Những ngón tay thon nhỏ, trắng ngần, e ấp dưới mái tóc
dài bóng mượt đổ xuống. Mai có những ngón tay tài hoa, những ngón tay
có lần tôi buột miệng xưng tụng là những ngón tay bắt được của trời
làm Mai mắc cở.
“ Dễ sợ! Trời to cao như thế thì tay phải là tay hộ pháp. Có bắt được
thì Mai cũng phải mang trả lại cho trời. Xấu xí chết đi ấy!”
Tôi biết Mai châm chọc tôi, nhưng thấy cái vẻ dễ thương của Mai, tôi
cố níu chiếc lưỡi thích cãi cọ của mình.
“ Ừ, tay trời làm sao sánh được với tay Mai. Trông thấy tay Mai là anh muốn vẽ.”
Mai vốn biết tài vẽ của tôi, chắp hai tay trước ngực van vỉ.
“ Thôi, cho Mai xin đi anh. Anh mà vẽ thì tay Mai lại thành tay trời
mất. Tội Mai một chút cho Mai chóng lớn!”
Mai hồi đó đang thành người lớn. Mắt đã liếc gương, miệng đã tươi tắn,
ngực đã chanh cốm, cử chỉ đã điệu đàng, nụ cười đã e dè giữ ý. Nhưng
lớn trước tuổi là đôi bàn tay Mai. Những ngón tay Mai vờn trên phím
dương cầm như những bước chân chim nhởn nhơ nhẩy nhót. Chúng tôi đã
say mê mỗi khi Mai đàn cho nghe khi nghỉ xả hơi. Mai búng ra những âm
thanh rộn rã, thanh thoát và tươi mát. Tươi mát như Mai trước phím
đàn. Mai đàn như chơi đùa. Tiếng đàn của Mai nhí nhảnh, nghịch ngợm.
Như chính Mai mười lăm.
Tôi mê tiếng đàn của Mai. Đắc còn mê hơn nữa. Mỗi lần nghe Mai đàn,
đôi mắt Đắc ngây dại dưới tròng mắt kính cận khá dầy.
Nhà hàng mờ mờ tối với những ngọn đèn vàng vọt yếu đuối tỏa một thứ
ánh sáng khiêm nhượng từ trên trần sẫm một mầu ảm đạm. Trông mập mờ
giống một phòng trà ở Saigon thời trước hơn là một nhà hàng ăn. Ngọn
nến leo lét giữa bàn chập chờn trên khuôn mặt Mai lúc sáng lúc tối.
Mai có đẫy đà hơn xưa, khuôn mặt đậm nét phấn son cũng tròn trịa hơn.
“ Em tới ăn ở đây thường không?”
“ Thỉnh thoảng. Anh thấy sao?”
Tôi quay người nhìn quanh.
“ Khéo lắm! Họ biết dùng bóng tối để cho thực khách trong mỗi bàn có
cảm tưởng gần gũi nhau hơn. Ngọn nến giữa bàn như chút ánh sáng thân
mật vun vòng người quanh bàn vào với nhau.”
Mai cầm tay tôi nói nhỏ.
“ Anh vẫn nghệ sĩ như xưa.”
Tôi xoay bàn tay lại nắm những ngón tay của Mai.
“ Đâu có nghệ sĩ bằng những ngón tay này. Anh có đọc báo. Họ vẫn nhắc tới em.”
Mai để yên tay trong tay tôi.
“ Đó là lẽ sống của em bây giờ. Vì nó mà đời em khổ. Nhưng em chấp
nhận bởi vì chính em muốn như vậy.”
Mắt tôi không chớp trước mặt Mai. Mai nhìn lại, bướng bỉnh.
“ Em lớn lên nhiều!”
Mai cười.
“ Chắc anh tránh không muốn nói em già!”
“ Không, anh không muốn nói tới cái lớn sinh học. Mỗi năm mỗi thêm
tuổi, chẳng ai trốn tránh được chuyện đó. Anh muốn nói tới tinh thần.
Sau bao nhiêu năm mới gặp lại em, anh không ngờ em lại già dặn đến như
vậy. Trong đầu anh, trong từng ấy năm xa cách, hình ảnh em trong anh
vẫn luôn luôn là hình ảnh cô bé Mai của anh những ngày tháng cũ.”
Mai vân vê chiếc khăn ăn đỏ sậm.
“ Thôi anh, anh đừng làm em khóc.”
Tôi cầm dao cầm nĩa lật úp con cá đang ăn dở trên chiếc đĩa hình bầu
dục giữa bàn.
“ Cho anh xin lỗi. Đưa cho anh chiếc chén của em. Hai anh em mình phải
xử cho xong chú cá thơm phức này. Ngày xưa em thích ăn cá lắm mà!”
Mai đưa chiếc chén mỏng tanh cho tôi.
“ Anh cho em xin. Anh nhớ dai nhỉ? Anh Đắc cũng thích ăn cá lắm.”
“ Thế à? Nó thích thật hay nó muốn chiều em vậy?”
“ Chắc anh ấy thích thật. Anh ấy gặm tới tận xương.”
Tôi bật cười.
“ Anh nói có sai đâu. Nó chiều em nên gặm xương để dành cho em phần
thịt. Cái thằng lù đù như nó lấy được em thì chiều chuộng vợ phải
biết!”
‘ Bộ anh thì hơn gì? Em nghe đồn là anh cũng biết điều với chị lắm, phải không?”
“ Em đừng nghe lời đồn của thiên hạ. Nhưng thằng Đắc, anh biết nó quá
mà! Có nhắm mắt anh cũng biết nó...phụng dưỡng em như thế nào!”
Mai nhai xong miếng cá, hớp một chút vang trắng, nghiêng đầu ngó vào mặt tôi.
“Anh thiệt!”
Đám cưới của Mai với Đắc, tôi không về tham dự được. Lúc đó tôi đang
lặn lội trong rừng sâu, làm tiền quân cho một chiến dịch lớn. Guồng
máy đang quay nhanh một cách ác liệt, con chốt là tôi tài cán gì để có
thể rút chân rút cẳng ra khơi khơi về Saigon ăn cưới. Buổi tối, mắc
chiếc võng dưới tàng cây, poncho úp kín người, tôi nằm trằn trọc nhớ
về Saigon. Saigon có Mai, có Đắc đang lao xao bước vào vòng vợ chồng.
Đã lâu tôi không gặp cả Đắc lẫn Mai nên không biết chuyện tình của hai
người ra sao. Thiệp cưới đến với tôi khá bất ngờ. Tôi thẫn thờ chẳng
buồn ăn trưa hôm đó. Mấy tên sĩ quan bạn cùng mâm tưởng tôi thất tình.
Thực ra, tôi quá thắc mắc về cuộc hôn phối này. Đắc lúc nào cũng cẩn
tắc, kỹ càng, tính trước cả cây số trước khi làm một chuyện gì, dù lớn
hay nhỏ. Mai thì phóng khoáng, văn nghệ, đam mê, chuyện gì cũng làm
xong rồi mà vẫn chưa tính. Vậy mà hai đứa lại ráp vào nhau. Bây giờ
lại còn buộc chặt vào nhau nữa. Tôi mải băn khoăn về cái thiệp cưới
không chờ đợi này đến lúng túng trong công việc. Hoàn khá tinh ý. Hắn
bắn liền. Thất tình hay sao vậy, cha nội?/ Cỡ tao mà thất tình à?/ Cỡ
nào mà chẳng thất tình được. Thuyền lớn thì có sóng lớn, cha nội ơi.
Mà thiệp cưới của ai vậy?/ Của em thằng bạn cũ./ Cha nói cô dâu hay
chú rể vậy?/ Cô dâu!/ Vậy thì đúng boong rồi, chối gì nữa cha. Cái thứ
đó là đau nhức hết biết!/ Nhức cái mẹ gì. Chú rể là thằng bạn thân của
tao. Cả hai đứa tao coi như người nhà./ Nhà cửa gì, cha nội! Cái mửng
đó lại còn nhức bạo hơn nữa!/ Mày biết cái đếch gì! Chỉ nói tầm bậy!/
Tầm bậy mà vậy vậy đúng boong. Này cha nội, chuyện đã dĩ lỡ rồi thì
tha cho chúng nó. Còn cha nội, quẳng gánh buồn đi mà...hành quân! Láng
cháng buồn với sầu, ngơ ngác giữa trận tiền, dễ ăn đạn lắm đấy. Có
thân thì lo. Dục cha nó mấy cái vụ hậu phương đó đi!
Nhớ lại chuyện cũ của tên quan ba bạn, bộ binh mà mồm miệng như pháo
binh, tôi cười vu vơ. Mai nhìn dò hỏi.
“ Anh cười gì vậy?”
“ Nhớ lại câu nói của tên bạn lính cũ khi anh nhận được thiệp cưới của em.”
“ Anh ấy nói sao?”
Tôi cố gạt đi.
“ Nó nói tầm xàm ấy mà. Nó tưởng anh thất tình. Hồi đó tên nào nhận
được thiệp cưới cũng được phong làm anh hùng thất tình. Đời lính, nay
đây mai đó, sống nay chết mai, mấy ai dám đèo bòng. Các em gái hậu
phương rủ nhau sang ngang hết. Thiệp cưới như một bức thư từ giã. Một
lời từ giã hồng!”
“ Anh buồn lắm hay sao mà anh ấy biết?”
“ Buồn chi! Em vui mà sao anh buồn được?”
Mai thở dài. Nàng đưa tay ngoắc anh hầu bàn. Hai ngón tay trỏ chụm lại
vẽ ra một tờ giấy tưởng tượng.
“Để anh trả cho.”
“ Em mời anh mà. Anh chê em không có tiền sao?”
“ Ai dám chê! Em đang gõ ra tiền mà.”
“ Anh thiệt! Không sợ em giận à? Em đàn vì nghệ thuật, vì đam mê. Tiền
chỉ là chuyện phụ.”
“ Cho anh xin lỗi!”
Mai lườm tôi.
“ Lại còn bầy đặt xin lỗi!”
Chớm thu, những tàng cây trong công viên đang trở vàng. Lác đác trên
những thảm cỏ bên đường, những cánh lá nằm như những con bướm vàng
phơi mình ngủ yên. Mai khẽ hát một khúc nhạc thu, tay nhịp nhịp trên
vòng lái. Tôi thả đầu óc ngơi nghỉ. Như đã đến bến bờ.
“ Anh còn nhớ những cánh lá me vàng đuổi nhau trên đường Nguyễn Du không?”
“ Sao mà quên được!”
“ Anh nhớ bữa anh chở em tới trường Quốc Gia Âm Nhạc không?”
“ Em bắt anh chở em đi học nhạc hoài, có nhớ bữa nào vào bữa nào đâu.”
Mai liếc sang phía tôi, lắc đầu.
“ Chán anh quá! Cái bữa gió đuổi lá me chạy lao xao trên đường một mầu
vàng rực đó.”
Tôi nhỏm người, hứng thú.
“ Bữa anh bắt em đi bộ ấy hả?”
“ Ai mà bắt được em! Bữa đó em cũng thích đi bộ đấy chứ!”
“ Nhưng mà anh nghĩ ra chuyện xuống xe dắt bộ đạp lá me mà đi.”
Mai vênh mặt.
“ Tại vì anh lái xe thì anh nghĩ ra trước chứ em ngồi sau, hai chân
cũng đã muốn đạp lá vàng lắm rồi!”
“ Đẹp thiệt!”
Mai mơ màng.
“ Lúc đó đi bên anh, em thấy anh lãng mạn quá!”
“ Anh thấy em cũng vậy!”
Mai thở dài.
“ Lúc đó em ước mong là đường cứ dài ra mãi chẳng bao giờ hết!”
Mũi xe vòng gắt sang phía trái. Mai uốn người theo. Tôi giữ chặt chiếc
tay cầm trước mặt. Bánh xe thắng gấp trước khung cửa nhà để xe.
“ Tới nhà rồi. Chút xíu nữa thì mải nói chuyện đi quá.”
Tôi nhìn Mai gật gù đầu.
“ Ngoài tài đàn, nay anh lại biết thêm em có tài dừng xe khẩn cấp. Lần
sau cẩn thận nghe cô bé!”
“ Anh cứ mắng em đi. Để em cứ ngỡ là mình vẫn còn nhỏ.”
Phòng khách nhà Mai lãng đãng những mầu vàng và xanh dịu mắt. Chiếc
đàn dương cầm đen bề thế chiếm hẳn một góc phòng sừng sững thu hút đôi
mắt tôi vừa bước vào phòng. Bên góc đối diện, tủ rượu chen lấn những
chai nhiều hình dáng và mầu sắc. Mai đứng giữa phòng, tay chỉ vào cây
đàn và tủ rượu.
“ Đời em đấy. Đàn và rượu.”
Tôi ngồi xuống chiếc nệm ghế xanh.
“ Đàn thì anh biết. Rượu thì anh hơi ngạc nhiên.”
Trên chiếc nệm ghế vàng, Mai cười.
“ Chắc anh tưởng em là bợm nhậu?”
“ Gần như vậy!”
“ Rõ ghét cái anh này! Em đâu có hư như vậy. Em thích ngắm rượu hơn uống.”
“ Mà uống cũng thích gần như ngắm!”
“ Đâu có! Cũng uống nhưng uống sơ sơ. Uống như một cách chọc quê sữa!”
Mai vụt đứng dậy, chạy ra nhấc cổ một chai, móc hai chiếc ly bằng
những kẽ tay trái, đặt xuống bàn trước mặt tôi. Nhìn bộ mặt ngơ ngác
của tôi, Mai cười.
“ Anh làm gì mà trông như đang sống ở trên rừng vậy? Em giỡn đấy!
Nhưng cũng thực đấy! Mấy chục năm sống với Đắc, ngày nào anh ấy cũng
bắt em uống sữa. Uống đến phát ngán, phát điên lên. Vậy mà em vẫn cố
chịu đựng. Lúc đó, trong thâm tâm, em nghĩ là uống rượu chắc thích
lắm. Mà thích thật anh ạ, thỉnh thoảng, đi ăn tiệc, ăn cưới, em nhấp
ké với Đắc mà thấy lợm mùi sữa. Em biết Đắc thương em. Dưới mắt Đắc,
em lúc nào cũng là cô bé Mai ngày xưa. Anh ấy không cho em lớn. Em
chịu đựng được là vì em thật tình thương Đắc.”
Hai chiếc ly lăn tăn sủi bọt khi Mai nghiêng chai đổ rượu.
“ Mừng cho cuộc gặp gỡ lại của anh em mình!”
Hai thành ly cụng nhau. Rượu tê đầu lưỡi. Vẫn Mai cảm động.
“ Mừng anh vẫn như xưa!”
Tôi lặng đi.
“ Mừng em cũng vẫn như xưa!”
Mai đặt ly xuống bàn, buồn bã.
“ Không còn như xưa đâu, anh ạ. Khi bỏ Đắc ra đi, em đã bỏ lại sau
lưng chiếc lồng kính đã ấp ủ em. Ấm cúng nhưng chật chội quá!”
“ Lúc đó em không còn thương Đắc nữa à?”
Mai lắc đầu.
“ Vẫn còn chứ anh. Em thương Đắc nhưng tội cho anh ấy nhiều hơn. Đắc
tưởng em như một con búp bê, yên ổn nép trong tình yêu của anh ấy.
Nhưng em có cái đam mê riêng của em, em thèm sống lại với đám đông,
thèm tiếng vỗ tay tán thưởng, thèm những ngưỡng mộ trong dáng đứng
đồng loạt của khán giả khi em dứt tiếng đàn. Nỗi đam mê lớn dần lên,
tuổi đời cũng cao dần lên, rồi tới lúc em hốt hoảng thấy như đã quá
trễ tràng để trở lại với sân khấu. Em bay ra khỏi lồng mà lòng còn để
lại những vương vấn. Cho tới bây giờ em vẫn thương Đắc, vẫn tội nghiệp
anh ấy, vẫn tiếc là anh ấy không hiểu em, không hiểu được tâm hồn em.”
Mai bưng ly rượu tới chiếc đàn, ngồi xuống chiếc ghế đen bóng. Cánh áo
trắng thon thả bờ lưng. Ly rượu đứng trên thành đàn. Bông hồng vàng lẻ
loi trong chiếc bình mầu xanh vươn lên như cổ thiên nga. Những nốt
nhạc dập dìu vang lên.
“ Em đàn cho anh.”
Âm thanh của bản Fur Élise lả tả rơi. Ngày xưa, mỗi lần nghe Mai đàn,
tôi chỉ thích bài này. Tôi vốn có đôi tai điếc với nhạc cổ điển của
Mai. Mai đã đi xa biết bao nhiêu đoạn đường với những năm tháng miệt
mài trên phím đàn, tôi vẫn cứ kéo Mai về với nét nhạc đơn sơ, dễ dãi
nhưng rộn ràng nhịp tim tôi. Bao nhiêu năm tìm về, Mai không hỏi tôi
mà tay đã nhấn những nốt nhạc xưa. Nhạc bảng lảng trong tôi. Một thời
sinh viên. Một thời lính tráng. Một thời tù ngục. Một thời vượt sóng.
Một thời tị nạn. Nhưng trùm lấp trong tôi vẫn là một thời ngọc ngà có
Mai lí lắc, có tôi lạng chạng, có Soạn rối rắm, có Đắc mông muội. Hai
bàn tay Mai vươn ra đập rộn ràng những nốt nhạc cuối. Nhạc vần vũ
trong tôi, mềm tim, lắng hồn.
Mai quay lại.
“ Anh thấy sao? Tiếng đàn của em.”
“ Chững chạc hơn, điêu luyện hơn, dĩ nhiên. Em làm anh chết trong nhạc
nhưng vẫn ấm ức như thiếu một chút gì.”
“ Em hiểu anh!”
Mai đứng dậy, khỏa lấp.
“ Mình uống thêm ly nữa nghe anh! Chưa bao giờ em thấy vui như hôm nay!”

1/2003

MỸ TRANG chuyển

Jan 16, 2021

Danh ca Lệ Thu qua đời sau thời gian chống chọi với Covid-19

Danh ca Lệ Thu qua đời sau thời gian chống chọi với Covid-19
16/01/2021

Ngọc Lễ



Lệ Thu là một ca sỹ của miền Nam Việt Nam trước 1975

Ca sỹ Lệ Thu, một trong những danh ca hàng đầu của miền Nam Việt Nam trước 1975, vừa qua đời ở miền Nam California sau gần hai tháng chống chọi với Covid-19 ở tuổi 78, VOA vừa được xác nhận.

Anh Jimmy Nhựt Hà, người dẫn chương trình truyền hình đồng thời là người gần gũi với gia đình Lệ Thu, cho VOA biết anh được con gái ca sỹ Lệ Thu thông báo mẹ cô qua đời vào lúc 7h tối ngày 15/1 tại bệnh viện Orange Coast Memorial, Quận Cam.

Bà ra đi khi đang trong tình trạng hôn mê suốt ba tuần qua kể từ khi được đặt ống thở.

“Vì cô Lệ Thu bị Covid, bệnh viện không cho đem về nhà mà để trong bệnh viện làm sạch hết virus, mấy tuần sau mới cho đưa ra nhà quàn cho thăm viếng,” anh Jimmy nói với VOA về việc chuẩn bị tang lễ.

Anh cũng cho biết là gia đình Lệ Thu đã liên lạc nhà quàn để đặt ngày làm tang lễ ‘nhưng nhà quàn không còn chỗ nữa mà phải đến cuối tháng Hai mới có’.

Miền Nam California đang trong đợt bùng phát dịch Covid-19 dữ dội với nhiều người Việt ở đây qua đời vì căn bệnh này.

Hôm 31/12, con gái lớn của ca sỹ Lệ Thu nói với VOA rằng khi nhập viện, tình hình của bà ‘rất khả quan’ và ca sỹ Lệ Thu còn chuẩn bị để xuất viện. Nhưng chỉ sau hai tuần thì tình hình bà đột ngột trở xấu, khó thở và được đặt ống thở từ hôm Giáng sinh đến nay.

Được biết, khi biết mình nhiễm Covid, ca sỹ Lệ Thu tự mình gọi cứu thương vì không muốn lây cho con cái. Kể từ khi nhập viện đến nay, các con của bà không thể vào thăm mà chỉ có thể nói chuyện và nhìn thấy mẹ qua màn hình điện thoại.

Tình cờ đi hát

Lệ Thu sinh tại Hải Phòng vào năm 1943 với tên thật là Bùi Thị Oanh. Thân phụ bà làm một chức quan nhỏ ở Hải Phòng trước 1945. Thuở nhỏ, bà sống ở Hà Đông và được gia đình cho đi học đàn piano. Đến năm 1953, khi 10 tuổi, hai mẹ con bà di cư vào Nam còn thân phụ ở lại và sau đó mất ở miền bắc.

Ở Sài Gòn, hai mẹ con Lệ Thu sống ở chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3. Bà theo học trường Pháp Les Lauriers ở Tân Định.

Lệ Thu đến với nghiệp ca hát một cách tình cờ nhưng lại hết sức suôn sẻ như bà kể lại với báo chí sau này. Vào năm 1960, khi đi dự sinh nhật một người bạn ở phòng trà Bồng Lai, bị bạn bè thúc lên hát góp vui, bà miễn cưỡng chọn hát bài Tà Áo Xanh của nhạc sỹ Đoàn Chuẩn. Tiếng hát của bà khi đó may mắn lọt vào tai ông chủ phòng trà Bồng Lai nên ông cố gắng thuyết phục bà đi hát. Trước lời đề nghị và mức cát sê hấp dẫn mà ông chủ phòng trà đưa ra, cô Bùi Thị Oanh lúc đó còn là một nữ sinh đã nhận lời hát ở phòng trà mà không cho mẹ biết, và bài hát Tà Áo Xanh là tác phẩm mở đầu sự nghiệp ca hát trải dài 60 năm của bà.

Thời gian đầu đi hát, ngoài hát nhạc nước ngoài, những bản nhạc Việt đầu tiên Lệ Thu trình bày là của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn như Xin Mặt Trời Ngủ Yên, Lời Buồn Thánh, Diễm Xưa…

Ngoài phòng trà Bồng Lai, Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát, các vũ trường Tự Do và Ritz là những nơi ca sỹ Lệ Thu từng cộng tác. Sau này, bà trở thành ca sỹ độc quyền ở phòng trà Queen Bee. Bà được báo giới Sài Gòn khi đó đặt cho các biệt danh là ‘Nữ hoàng phòng trà’ hay ‘Giọng ca vàng mười’. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố khiến khách mộ điệu tìm đến các vũ trường và mức cát-sê của bà cũng thuộc hàng cao nhất trong giới ca sỹ lúc bấy giờ.

Bên cạnh hát ở vũ trường, Lệ Thu cũng hát trên các đài phát thanh và thu âm cho nhiều hãng dĩa. Một trong những băng nhạc nổi tiếng nhất của bà là Sơn Ca 9 do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện. Bà còn được các nhạc sỹ ‘đo ni đóng giày’ viết riêng cho bà như Nước Mắt Mùa Thu của Phạm Duy, Xin Còn Gọi Tên Nhau của Trường Sa hay Chiếc Lá Thu Phai của Trịnh Công Sơn.

Khán thính giả yêu mến Lệ Thu qua các bài hát: Hạ Trắng, Nước Mắt Mùa Thu, Thu Hát Cho Người, Mười Năm Tình Cũ... Ngoài các nhạc sỹ kể trên, bà hát rất thành công nhạc của Cung Tiến, Đoàn Chuẩn, Trường Sa…

Duyên tình lận đận

Mặc dù con đường sự nghiệp trải đầy hoa, nhưng trong cuộc sống riêng, bà gặp rất nhiều lận đận. Bà trải qua ba cuộc hôn nhân tan vỡ, có ba người con gái với hai đời chồng khác nhau nhưng cuối đời sống một mình ở thành phố Fountain Valley, miền Nam California khi các con gái của bà đều có cuộc sống riêng.

Trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam trước khi quân cộng sản tràn vào, Lệ Thu đã lên đường di tản. Nhưng khi đã đến phi trường chuẩn bị di tản vào ngày 28/4 năm 1975, bà quyết định quay trở lại vì còn mẹ già mà bà là người con duy nhất.

Đến năm 1979, bà vượt biên cùng con gái út, được đưa đến trại tị nạn Pulau Bidong. Đến năm 1980 bà đến Mỹ và định cư ở miền Nam California. Hai năm sau hai người con gái lớn của bà cũng vượt biên và đoàn tụ với bà.

Tại Mỹ, bà tiếp tục thâu đĩa, đi hát phục vụ cộng đồng người Việt và tham gia vào các chương trình nhạc hội của Thúy Nga, Asia… Từ năm 2007, bà cũng bắt đầu trở về nước biểu diễn. Năm 2017, Lệ Thu từng thực hiện đêm nhạc ‘Như là kỷ niệm’ cùng Tuấn Ngọc tại Việt Nam.



************************************************************************

Jan 9, 2021

Chia buồn cùng bạn Tuyết Mai và tang quyến

Nhận được tin buồn phu quân của TV6370 Tuyết Mai :




Ông Giuse PHÙNG HUY HOÀNG

qua đời ngày 07-01-2021

tại  CA. USA 




Các bạn đồng niên cùng ĐSTV6370 xin thành kính chia buồn cùng Tuyết Mai, các con  và tang quyến. Nguyện xin cho linh hồn Giuse Huy Hoàng được an nghỉ nơi cõi Vĩnh Hằng cùng Chúa và Đức Mẹ.


THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Giếng hồi hướng công đức cho Anh Phùng Huy Hoàng






Jan 3, 2021

Đời Người Như Chiếc Lá

 Tác Giả: Linh Mục Nguyễn Hữu Ân

Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lưu

Em nghe không mùa thu.
Lá thu rơi xào xạc.
Con nai vàng ngơ ngác.
Đạp trên lá vàng khô. 
(Tiếng Thu)




Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách “chia tay”. Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình một cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất.

Lại có những chiếc lá ra đi một cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha, buông mình theo gió. Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.

Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống. Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành. Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu. Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc. Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách nhẹ nhàng, thanh thản. “Lá rụng về cội”. Lá rơi bên gốc cây. Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây. Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây. Đời lá ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ “bài học quét lá” mà thầy dạy thuở nào:

“Vâng lời thầy con đi quét lá,
Lá vàng rơi lả tả khắp nơi.
Lá khô rơi như kiếp một con người,
Giờ phút cuối là về cùng cát bụi…

Con vừa quét sạch một gốc cây,
Quay trở lại đã thấy đầy lá rụng.
Con hỏi : nếu như gió đừng rung động,
Thì lá kia hẳn còn ở trên cành?

Một kiếp người cũng thế: quá mong manh,
Một hơi thở nếu đi rồi không đến nữa!
Tạ ơn thầy đã cho con bài học nhỏ,
Mà thâm sâu như một triết lý khôn cùng.”
(Diệu Nhân)

Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi. Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc. Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai. Sức khỏe, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết. Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai. Nó đến bất ngờ làm ta bàng hoàng. Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng. Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng. Một chuyến đi quyết định và quan trọng. Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày… tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần… Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi? Chúng ta có nỗ lực để sắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Phật dạy: “Mạng sống con người rất mong manh, chỉ trong một hơi thở, thở ra mà không thở vào là kết thúc kiếp người”. Dù văn minh đến đâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết. Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu… ai ai rồi cũng phải chết.

Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết. Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống. Chết là một phần của sự sống bởi lẽ trong sự sống đã có sự chết. Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa dòng nước vào nguồn biển rộng. Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết. Đó là định luật chung của con người. Không ai có thể sống mãi mà không chết. Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết. Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ. Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì. Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi. Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được. Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.



Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự “hiện hữu”, đừng bao giờ là sự “sở hữu”. Ta hãy chọn phương châm “sống với” chứ đừng “sống vì”.

Thấu hiểu được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền. Như ai đó đã từng nói:

-Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc.
-Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười.

Linh mục Nguyễn Hữu An 
(Nguồn: dongcong.net)

Anh Thư sưu tầm