Jan 18, 2019

Dì Thảo

Dì Thảo 

Phương Lan



Ông bà ngoại tôi có ba người con, mẹ tôi là lớn nhất, kế đến cậu Ngọc, mãi hơn tám năm sau, bà ngoại mới sanh thêm cô con gái út là dì Thảo. Vì là út nên được cưng nhất nhà, dì Thảo học không giỏi nhưng rất đẹp, năm mười sáu tuổi dì đã nổi tiếng xinh đẹp, có thể nói dì đẹp nhất trường, đẹp nhất tỉnh. Đến tuổi cập kê, nhan sắc của dì lọt vào cặp mắt đa tình của một chàng trai xứ Huế, dòng dõi hoàng tộc, bác sĩ Ưng Bửu, trong một buổi đón tiếp phái đoàn Y Tế từ Huế ra Nha Trang làm cố vấn cho việc thiết bị một bệnh viện mới thành lập: Quân Y Viện Nguyễn Huệ.

Dì Thảo và một số nữ sinh của trường Trung Học Võ Tánh được cử ra phi trường để đón mừng phái đoàn, và choàng vòng hoa thân hữu. Dáng dấp yêu kiều của cô nữ sinh hoa khôi đã thu hút anh chàng bác sĩ trẻ tuổi ngay tức khắc. Cô nữ sinh e lệ núp sau lưng bạn, trốn tia nhìn say đắm của người thanh niên hào hoa và rất điển trai, mặt cô hồng lên, sáng tươi, rực rỡ, đẹp hơn cả hoa đào… 
Ngay buổi trưa hôm sau, lúc vừa tan học, dì Thảo đã thấy chàng thanh niên đa tình đang đứng chờ ngay trước cổng trường. Tim đập mạnh những cảm giác xôn xao, nàng cúi mặt thẹn thùng khi chàng bước tới… Thế là bắt đầu một cuộc tình thơ mộng. Tình yêu đã nẩy nở giữa đôi trai tài, gái sắc trong khung cảnh biển xanh, cát trắng tuyệt vời của thành phố Nha Trang. Đến ngày chia tay, Ưng Bửu phải theo phái đoàn trở về Huế, ông đi mà lòng bịn rịn, không muốn rời.
Đường xa không là trở ngại, bởi vì khi yêu thì chín sông cũng lội, năm, bảy đèo cũng qua, Ưng Bửu như con thoi, hết ra Nha Trangrồi lại trở về Huế, rồi lại đi Nha Trang để gặp người yêu hàng tuần. Họ yêu nhau ròng rã như vậy mấy năm liền, tới khi dì Thảo học xong Sư Phạm Tiểu Học thì mới tính chuyện hôn nhân, tại ông ngoại muốn thế, ông không muốn cho cưới quá sớm. 
Năm đó dì Thảo vừa tròn hai mươi tuổi, một lễ hỏi trọng thể đã được cử hành, sắp sửa đến đám cưới thì xảy ra một chuyện đáng buồn: ông hoàng thân tử nạn xe hơi trong chuyến đi từ Huế ra Nha Trang thăm người yêu, và chuẩn bị cho lễ cưới vào đầu tháng tới. Chiếc xe hơi nhà do chính ông cầm lái, trong lúc tránh một cái xe khác đi ngược chiều, đã đâm vào vách núi bẹp rúm. Ưng Bửu ngất đi trên tay lái, phải khó khăn lắm, người ta mới đem được ông ra. 
Hôm đó trời mưa bão lớn, đường xá lầy lội, trơn trượt, đáng lẽ nên ở nhà, nhưng ông không muốn bỏ buổi hẹn quan trọng với người yêu, sắp đám cưới rồi, còn bao nhiêu việc cần phải bàn tính, và cần sự có mặt của ông như việc đặt nhà hàng, đo nhẫn cưới, và đăng ký kết hôn. Họ đã hẹn sẽ gặp Cha xứ vào sáng Chủ Nhật, để bàn về chi tiết trong việc tổ chức đám cưới tại nhà thờ. Đàng nào cũng đi, thì nên đi cho sớm, để có nhiều thì giờ bên nhau, Thứ Hai phải đi làm lại rồi. Công việc của một Bác Sĩ trưởng khu giải phẫu thật là bận rộn, bởi vì ngoài vấn đề chuyên môn, ông còn phải phụ trách việc giảng dạy cho các Sinh Viên Y Khoa đang thực tập tại bệnh viện. Ông dự tính sau đám cưới, sẽ xin thôi công việc giảng dạy cho trường Đại Học Y Khoa Huế, và xin đổi ra Nha Trang đi làm tại nhà thương. 
Mặc dù với chức vụ Giảng Sư Đại Học có nhiều oai quyền, và lương bổng cũng khá hơn, nhưng ông không ham địa vị, cũng không ưa làm giàu. Hơn năm năm làm việc đủ tạo cho ông một số vốn đáng kể, ngoài ra ông còn được thừa hưởng một gia tài khá đồ sộ do cha mẹ ông mất sớm để lại. Từ khi có ý định xây dựng gia đình, ông đã tom góp vốn liếng, quyết định sẽ ra Nha Trang lập nghiệp. Ông chiều dì Thảo là chuyện dĩ nhiên, nhưng chính ông cũng thích được sống ở vùng biển, có khí hậu trong lành, có khung cảnh nên thơ, đẹp như trong các truyện cổ tích đời xưa…
Để chuẩn bị cho tổ ấm tương lai, ông đã mua một căn nhà nhỏ ở trên đồi, nơi vùng biển vắng, đẹp và yên tĩnh nhất của thành phố Nha Trang, chỉ cách nhà ông bà ngoại tôi có một khúc quanh ngắn ngủi. Nhà có mặt sau trông ra biển xanh bao la bát ngát, bãi cát trắng phau chạy vòng tới chân núi phía xa, và trên bờ là những rặng phi lao, gió thổi rì rào nghe như điệu nhạc, khung cảnh thanh tịnh và đẹp tuyệt vời. Hai người đã bỏ vào đấy bao nhiêu công sức, thuê người tu sửa, sơn phết trong ngoài đẹp đẽ, họ sắm sửa đồ đạc, trang trí các phòng, biến căn nhà nhỏ thành một tổ ấm tuyệt vời. Công việc vừa xong, mọi thứ đều sẵn sàng để đón chờ cặp uyên ương lý tưởng.

<1546944195041blob.jpg>
Tai nạn xảy ra, người ta chở nạn nhân đi bệnh viện, hoàng thân Ưng Bửu bị dập phổi và xuất huyết nội tạng, thương tích rất nặng, nhưng không bị hôn mê. Ông tỉnh dậy trong bệnh viện, và sống thêm được ba ngày. Trong ba ngày đó, ông rất tỉnh táo và đã viết di chúc để lại toàn bộ tài sản cho người vợ chưa cưới của ông là dì Thảo.
Được tin dữ, dì Thảo ngất đi, tỉnh lại mấy lần. Hôm đám tang, dì hứa trước quan tài của người chồng chưa cưới là tình yêu của dì dành cho ông không bao giờ thay đổi, cho dù ông không còn nữa.
Cái chết của ông đã làm đảo lộn cuộc sống đang yên bình của dì. Từ một đứa con cưng trong gia đình, lớn lên dưới sự thương yêu, bảo bọc của mẹ cha, dì Thảo non nớt, yếu mềm như một nụ hoa. Đến tuổi biết yêu, may mắn gặp được người tình trong mộng, Ưng Bửu là một chàng trai tuyệt vời, và yêu dì như chưa ai từng yêu đến thế. Dì Thảo đúng là được trời chiêu đãi, dì đang nhìn đời qua lăng kính màu hồng, đột nhiên một cơn giông chợt đến bất ngờ làm đất trời tối xầm lại, mọi vật đều trở nên màu xám, ông trời ác nghiệt đã lấy lại tất cả những gì đã cho ra.
Cái chết của người yêu đã xô dì xuống hố sâu của tuyệt vọng, dì Thảo ủ rũ như một cành cây khô không còn nhựa sống. Dì tự giam mình trong ngôi nhà lẽ ra là cái tổ ấm của hai vợ chồng, dì chuyển sang đấy tất cả những vật dụng riêng của dì, những đồ kỷ niệm của người yêu, và ở luôn tại đó, chỉ thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Dì thôi nghề dạy học, khi mà sinh kế không còn là một vấn đề thiết yếu, dì thấy không cần thiết phải đi làm nữa. Dì dành tất cả thì giờ để mộng mơ, để tưởng nhớ đến người đàn ông mà dì đã yêu với tất cả say đắm của mối tình đầu, để đắm mình trong hạnh phúc tưởng tượng mà lẽ ra hai người sẽ được hưởng.
Vì chưa từng trải đời, dì chỉ thích sống như trong tiểu thuyết, dì muốn tình yêu của dì phải khác hơn mọi người. Việc Ưng Bửu để lại toàn bộ tài sản cho dì, khiến dì càng thêm cảm động, dì luôn luôn tự hỏi phải đau khổ dến mức nào mới xứng với tình yêu Ưng Bửu đã dành cho dì? 
Tuổi mới hai mươi mốt, dì sống khắc khổ như một nữ tu, và từ chối tất cả mọi đám mai mối, mặc dù có nhiều đám rất danh giá. Không thiếu gì người si tình dì, bởi vì dì vẫn rất đẹp, hình như cái vẻ nghiêm trang, lạnh lùng lại làm tăng thêm những nét quyến rũ cho cái sắc đẹp vốn trời cho của dì. Nhưng dì Thảo không màng để ý đến ai cả, đã ba năm qua, dì vẫn sống lặng lẽ, âm thầm một mình, một bóng, buồn bã, cô đơn như người lữ khách một mình đi giữa đêm đông. 
Thế rồi bà ngoại mất đi, dì lại càng cô đơn hơn nữa, mẹ tôi bận rộn bán buôn suốt ngày, dì không có ai là bạn cả, ngoài tôi năm đó mới lên tám tuổi. Tôi thường được dì dắt đi biển chơi, hai dì cháu ngồi trên bãi cát, dưới bóng mát của một cây thông già, nhìn ra biển khơi, ngắm không chán mắt những lượn sóng từ xa xô vào bờ rồi giạt ra, tung bọt trắng xoá, hơi nước như một làn sương mù bay cao, che mờ một vùng. Dì trỏ cho tôi thấy:
- Cháu nhìn xem tảng đá ở ngoài xa kia, hình dạng như năm ngón tay của một bàn tay đang giơ thẳng lên trời, như người đang thề…
- Cháu thấy rồi, giống lắm. Rồi sao nữa dì?
- Vị hôn phu của dì, và dì đã có lần thuê thuyền ra tới đó, cùng sờ tay lên tảng đá, để thề nguyền sẽ yêu nhau trọn kiếp.
Dì thở dài, nhắm mắt lại như để hồi tưởng, một lúc sau mới buồn bã nói tiếp:
- Lăng biết không? bây giờ mỗi khi ra đây nhìn thấy tảng đá, dì nhớ lại lời thề, và tự nguyện với lòng là sẽ giữ vẹn thủy chung với người dì yêu, cho đến lúc chết. Lời thề của dì nhất định sẽ bền hơn cả đá.
Hai năm sau, cha mẹ tôi rời Nha Trang vô Sài Gòn làm ăn, tôi xa dì từ đấy, tính đến nay cũng đã hơn ba năm. Ba năm qua, bao nhiêu thay đổi, tôi lớn bồng lên thành cô bé mười ba, sắp sửa thi Trung Học, ông ngoại già đi nhiều, tóc bạc trắng như bông, cậu mợ Ngọc đã có thêm một em bé nữa… Mọi sự đều khác xưa, chỉ riêng dì Thảo là vẫn không thay đổi, vẫn âm thầm một mình một bóng. Mẹ tôi buồn lắm, bà than với cậu mợ Ngọc:
- Không hiểu tương lai con Thảo rồi sẽ đi về đâu? không lẽ nó cứ sống như vậy suốt đời? Tội nghiệp cái số nó đúng là số khổ, cứ xem sắc mặt hồng hồng của nó, các cụ ngày xưa thường nói hồng nhan đa truân…
Tôi không tin tướng số, mà chỉ thấy nét mặt như hoa đào của dì là rất đẹp, tiếng nói trong trẻo, nụ cười đôn hậu của dì khiến người đối diện có cảm giác thư thái, tin cẩn. Một người vừa đẹp, vừa hiền lành như thế, không thể khổ suốt đời được, tôi thầm cầu mong một phép lạ sẽ đến, đem dì ra khỏi vùng trời kỷ niệm tang thương mà dì đang tự giam mình vào.
Khi ông ngoại sắp tròn bảy chục tuổi, cha mẹ tôi bàn với dì Thảo và cậu mợ Ngọc sẽ tổ chức một lễ mừng thượng thọ thật lớn vào dịp hè này. Tôi vô cùng náo nức, vì đã lâu lắm chưa được về quê ngoại, và hôm nay cái ngày mong đợi đó đã tới. Ra đón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là dì Thảo. Trong phòng đợi lố nhố những người, dì đi len lỏi giữa đám đông, ngơ ngác tìm kiếm. Tôi nhìn thấy dì đầu tiên và lớn tiếng gọi:
- Mọi người đây nè, dì Thảo! dì Thảo!
Dì quay ngay lại, tôi chạy thật nhanh tới vừa lúc dì dang tay ra đón, hai dì cháu ôm chầm lấy nhau, dì kêu lên mừng rỡ:
- Lăng đây hả? Trời ơi! lớn bằng từng này rồi cơ à?
Tôi cao gần bằng dì, chỉ cần kiễng chân lên một chút, tôi đã bá lấy cổ dì, và được dì đặt một cái hôn thật kêu lên má. Mẹ tôi mỉm cười, vừa lúc đó cha tôi và chú Lãm cũng đang đi tới, dì hơi khựng lại khi nhìn thấy người lạ. Cha tôi giới thiệu:
- Đây là cô Thảo em của nhà tôi, còn đây là chú Lãm, người em con cô, con cậu ruột của tôi từ Sài Gòn ra đây nghỉ mát vài tuần, tôi rủ đi chung cho vui.
Dì Thảo cúi đầu chào, dưới cái mũ rơm, mặt dì ửng hồng vì nắng, màu áo đen làm tôn nước da trắng nõn của dì. Bây giờ tôi mới có thì giờ ngắm nghía, mặc dù tuổi gần ba mươi nhưng trông dì còn trẻ, và vẫn rất đẹp. Chú Lãm kín đáo khẽ liếc nhìn, và lịch sự nghiêng mình đáp lễ, chú vui vẻ nói:
- Thật ra cũng không phải hoàn toàn chỉ đi nghỉ mát đâu, tôi ra đây là vì công việc. Tôi định mở một cuộc triển lãm tranh, và nếu thích thì ở lại ít lâu, vẽ vài cái phong cảnh.
- Nếu thế thì ông chọn đúng nơi rồi, vì phong cảnh ở đây đẹp lắm.
Dì Thảo nói. Cha tôi vui vẻ:
- Đúng ra thì chú Lãm là một họa sĩ truyền thần, chú có biệt tài vẽ chân dung sống động như người thật, và đã được giải thưởng quốc tế cách đây mới hai năm.
- Lại quảng cáo rồi, chú Lãm cười, anh đợi đến hôm khai mạc hãy nói có hơn không, ở đây làm gì có khán giả?
Mọi người cùng cười xoà, dì Thảo cũng mỉm cười và quay sang mẹ tôi:
- Dạo này trông chị hơi gầy đi, nhưng khỏe ra. Mọi người đi đường có mệt không?
- Không! bay có hai tiếng mà mệt gì?
Hai người nói chuyện thời tiết, trong khi cha tôi và chú Lãm đi lấy hành lý. Mẹ tôi ghé tai dì, nói nhỏ:
- Cho chú Lãm quá giang về khách sạn ở gần nhà mình, vì chú ấy không có người quen nào ở tỉnh này cả.
Dì Thảo gật đầu:
- Được, để em sẽ bảo bác Tài.
Mẹ tôi hỏi:
- Dạo này cha có khoẻ không? Cuối tháng này, chị em mình sẽ tổ chức lễ thượng thọ cho cha, anh chị có ý định sẽ tặng cha một bức họa truyền thần, do chú Lãm vẽ. Kể ra thì cũng hơi gấp, vì chỉ còn có mười ngày nữa, nhưng Lãm nói không sao cả, chú ấy sẽ cố gắng làm cho xong trước ngày lễ mừng.
- Được vậy thì tốt lắm.
Câu chuyện tới đây tạm ngưng, vì hai người đàn ông đã quay lại, trên tay khệ nệ những hành lý, túi xách. Những ngày chú Lãm đến vẽ cho ông ngoại thì dì Thảo lánh mặt ở nhà riêng, dì chỉ xuất hiện vào hôm lễ thượng thọ. Mẹ cằn nhằn:
- Bữa nay cô làm ơn bỏ cái bộ đồ đen đó đi, được không?
Dì Thảo cau mày, hơi có vẻ bất bình:
- Tại sao em lại phải thay đổi một thói quen? Tám năm qua, từ khi người yêu qua đời, quanh năm dì Thảo chỉ mặc toàn đồ đen, như để tang cho người xấu số, hôm nay cũng không ngoại lệ. Mẹ tôi nhìn dì bằng cặp mắt thương xót lẫn ái ngại, nhưng bà vẫn cương quyết nói:
- Tại sao à? Vị hôn phu của cô qua đời đã tám năm rồi, cô định để tang cho tới bao giờ? Hôm nay là ngày lễ mừng thọ cha, cô mặc đồ tang như thế sẽ đem lại điềm xui, chứ còn sao nữa?
Dì Thảo có vẻ nghĩ ngợi một lúc rồi thở ra:
- Thôi được rồi, để em đi thay áo. Một lúc sau, dì trở lại, tôi vô cùng ngạc nhiên trước sự thay đổi khác lạ của dì. Dì Thảo trông đẹp hẳn lên trong chiếc áo dài bằng lụa Hà Đông màu vàng nhạt, mái tóc đen óng ả trước đây dì vẫn buộc túm lên sau gáy, bây giờ được thả xuống tự nhiên, những lọn quăn buông xõa trên hai vai, dì Thảo trông đẹp như tiên nữ.
Mẹ cười hài lòng:
- Như thế có phải hơn không nào? Tội gì cô cứ phải tự làm cho mình già và xấu đi? Dì Thảo lặng thinh không trả lời. Có tiếng bấm chuông, vì tôi đang bế em bé, con của mợ Ngọc, nên mẹ nhờ dì ra mở cửa. Chú Lãm đến, khệ nệ đem theo bức tranh sơn dầu vừa mới hoàn thành, có lồng khung cẩn thận. Cũng như tôi, chú ngẩn người ra ngắm dì, chú nhìn không chớp mắt người con gái mà mới gặp lần đầu đã làm tim chú xao xuyến, hôm nay trông đẹp quá. Dì Thảo bối rối quay đi trốn ánh mắt say đắm của người đàn ông đang đứng trước mặt, tay dì run run và mặt dì đỏ bừng, trong một thoáng, dì hơi ngỡ ngỡ ngàng, ánh mắt sao giống như ánh mắt người xưa… Nhưng rồi rất nhanh chóng, dì lấy lại bình tĩnh, mở toang hai cánh cổng, mặt dì trở lại thản nhiên như cũ. Tuy nhiên, những biến chuyển tình cảm trên mặt dì, không qua khỏi cặp mắt tinh tường của chú Lãm.
Qua phút xúc động, chú chợt tỉnh và thấy mình hơi có vẻ sỗ sàng, chú ngượng nghịu nói giọng cố làm ra vẻ tự nhiên:
- Chào cô Thảo! cô vẫn khoẻ chứ? Tôi đến có sớm quá không?
- Ồ không đâu, dì Thảo vội vã nói, gần trưa rồi, mọi người cũng sắp tới bây giờ. Mời ông vào!
Dì khép cổng rồi quay vào nói:
- Để tôi phụ với ông một tay.
Chú Lãm cố từ chối nhưng không được, hai người khiêng bức tranh vào nhà, lớp giấy bao được bóc đi, mọi người xúm lại ngắm nghía, tấm tắc khen tranh giống y như người thật. Dì Thảo dứng ngắm bức họa rất lâu, nét mặt đăm chiêu như đang suy tính việc gì. Quả vậy, ngay chiều hôm sau, khi chú Lãm đến chơi, dì đề nghị:
- Tôi muốn nhờ hoạ sĩ vẽ giùm một bức tranh.
- Tôi sẵn lòng, cô muốn vẽ gì thế?
- Vẽ hình tôi. 
Chú Lãm gật đầu một cách sốt sắng:
- Tưởng gì chứ chỉ có thế, tôi rất hân hạnh.
- Tôi phải nói trước, bức tranh này có hơi đặc biệt một chút…
- Cô cứ nói!
- Tôi muốn nhờ họa sĩ vẽ hình tôi mặc áo cô dâu, đứng bên người chồng sắp cưới của tôi là hoàng thân Ưng Bửu.
- Nhưng ông ta đã chết rồi kia mà?
- Không sai! Chúng tôi đang chuẩn bị làm đám cưới, thì anh ấy tử nạn. Tôi nghĩ điều tiếc hận duy nhất của anh ấy là chưa cưới được tôi, nên tôi muốn làm thoả mãn ước mơ của anh ấy.
- Nghĩa là cô muốn có một bức tranh đám cưới với người đã chết?
- Đúng vậy! Ưng Bửu đặt bao nhiêu hy vọng vào ngày thành hôn, chắc chắn anh ấy sẽ rất hài lòng khi thấy hình đám cưới của hai vợ chồng được trưng trong căn nhà hạnh phúc của chúng tôi.
Từ nãy giờ, mọi người đều sửng sốt trước ý định kỳ lạ của dì Thảo, ông ngoại thở dài bỏ ra ngoài trước tiên, sau đó là cha tôi và cậu mợ Ngọc. Tới đây, thì mẹ tôi không thể im lặng được nữa, bà bực bội lên tiếng:
- Tôi không muốn ngăn cản em gái tôi, nhưng thật sự tôi không tán thành cái ý định ấy.
- Không sao cả! Chú Lãm vội vã nói, chị cứ để cô ấy làm theo ý muốn, đó cũng là quyền tự do tín ngưỡng mà chúng ta phải tôn trọng.
Quay sang dì Thảo, chú hỏi:
- Cô có hình của anh ấy chứ?
- Dĩ nhiên! nhưng đó là hình mặc thường phục, hoạ sĩ có thể biến nó thành lễ phục chú rể được chứ?
- Chuyện đó dễ thôi, tôi sẽ vẽ hình cô trước, sau đó sẽ vẽ hình anh ấy đứng cạnh cô như đôi tân hôn trong ngày cưới. Cô muốn như vậy phải không?
Dì Thảo mỉm cười hài lòng, nhưng nét mặt rất buồn, sau đó hai người bàn bạc về ngày giờ và địa điểm làm việc. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi kéo ra khỏi phòng, bà lắc đầu ngao ngán và nói nhỏ với riêng tôi:
- Dì Thảo mày điên rồi, không hiểu rồi đây sẽ còn nghĩ ra những trò quái gở nào nữa? Lạ một điều là chú Lãm lại đồng ý hợp tác trong việc này?
Tôi mỉm cười
- Mẹ chẳng tâm lý tí nào, mẹ không để ý đến ánh mắt của chú Lãm mỗi khi nhìn dì Thảo hay sao? Con biết ngay là chú đã si tình dì Thảo lắm rồi, đây là cơ hội để hai người gặp gỡ hàng ngày, dại gì chú lại bỏ qua?
Mẹ tôi ngẫm nghĩ rồi gật đầu, nét mặt tươi như hoa:
- Con nhận xét đúng lắm!
Bà ngắm nghía tôi một lúc rồi vui vẻ nói:
- Lăng đã lớn rồi đó.
- Dĩ nhiên! con sắp mười bốn tuổi rồi chứ bộ?
Dì Thảo sau lần hội kiến đó, lại trở về nhà riêng, đóng cửa lại, thả hồn theo những tưởng tượng về cái hạnh phúc lứa đôi lẽ ra dì sẽ được hưởng, nếu không bị cái số phận cay nghiệt kia ngăn lại. Ôi! thật là tội nghiệp cho người con gái xấu số, chưa lấy chồng đã thành goá phụ. Người dì đáng thương của tôi từ nhỏ vẫn sống trong tháp ngà, chưa từng va chạm với đời, nên không có sức phấn đấu. Bản chất yếu đuối, nhu nhược, dì muốn buông xuôi tất cả, chỉ để tưởng nhớ đến người tình đã khuất. Tính dì Thảo rất kiên cuờng, khi đã quyết định việc gì thì không ai khuyên can được, kể cả bà ngoại lúc còn sống, và mẹ tôi bây giờ, vì thế nên tôi rất mừng khi chú Lãm đến với dì, hy vọng chú sẽ làm chảy tan đi cái tảng băng lạnh lùng kia. Cuộc hẹn là tuần sau, ngày hẹn, dì Thảo mặc cái áo đẹp nhất và trang điểm như cô dâu khi chú Lãm đến. Chú lịch sự trao cho dì một bó hoa thật đẹp:
- Cô quên là cô dâu thì phải cầm hoa hay sao?
Vì chú nói thế, nên dì Thảo phải vui vẻ nhận. Hôm đó là một ngày đẹp trời, không khí mát mẻ, trong lành. Mới hơn 7 giờ sáng, nên cỏ non còn lóng lánh sương đêm, chim chóc mới ra khỏi tổ, nhảy chuyền trên cành ca hót ríu rít, từng cơn gió nhẹ thoang thoảng mùi hương hoa trong vườn, hơi hướng của mùa hè đang độ rực rỡ nhất. Dì Thảo ngồi trên ghế kê ngoài vườn, dưới gốc một cây tường vi nở đầy hoa màu tím nhạt. Mặt trời mới lên sau ngọn cây, chiếu những tia nắng sớm vàng nhạt xuống cảnh vật, ánh nắng lọc qua khe lá rơi lốm đốm trên áo cô dâu màu trắng, nắng chiếu phớt nghiêng qua mái tóc, ánh nắng làm mặt dì ửng hồng. Mặt chú Lãm cũng ửng hồng, chú đưa tay ra hứng nắng, đắn đo một lúc, rồi sửa lại thế ngồi cho dì:
- Như thế nhé? nhưng cô phải vui lên mới được, làm cô dâu không được buồn.
Dì Thảo hơi mỉm cười, nét mặt tươi lên, đôi môi mọng đỏ xinh đẹp, hai cọng tóc mai uốn quăn thả lơi hai bên má, đong đưa theo mỗi cơn gió nhẹ, chưa bao giờ tôi thấy dì đẹp đến thế. Chú Lãm đã mặc áo choàng và đang mở hộp đồ nghề sơn và cọ, một khung vải được dựng bên giá vẽ. Bàn tay người nghệ sĩ tài hoa hơi run vì xúc động, chú khẽ liếc nhìn người thiếu nữ ngồi trước mặt với một vẻ say đắm, như người đang chiêm ngưỡng một tuyệt tác phẩm của tạo hóa. Chú cầm cọ lên, và bắt đầu những nét phác họa đầu tiên… Chú Lãm vẽ cẩn thận và tỉ mỉ lắm, để hết cả tâm hồn vào bức tranh, hình như trong đời chú, chưa bao giờ chú làm việc một cách hứng khởi và say mê đến thế, hai người vừa làm việc vừa nói chuyện.
Chú Lãm là một người vui tính, và có biệt tài pha trò rất có duyên, mỗi khi chú có mặt ở đâu, thì nơi đó rộn ràng những tiếng nói, cười. Căn nhà của ngoại xưa nay vẫn lặng lẽ vì vắng khách, từ dạo có chú bỗng vui vẻ hẳn lên. Thường thì chú làm việc từ sáng sớm cho tới khi mặt trời lên cao mới ngưng. Chú nói với dì Thảo:
- Tôi chỉ ngại cô không chịu được nắng, chứ được làm việc với cô bao lâu tôi cũng không thấy mệt.
Dì Thảo khẽ chớp mắt nhưng không nói gì, chú đưa cho dì mấy cuốn sách, bảo dì đọc cho đỡ buồn rồi mới ra về. Ông ngoại sai cha tôi đem bức tranh vào nhà, và sáng hôm sau lại đem ra để ở chỗ cũ, cho hoạ sĩ vẽ tiếp. Bây giờ đã thành cái lệ, hôm nào chú không đến, nhà như thiếu vắng một cái gì, mọi người đều mong đợi chú với vẻ nôn nóng. Chắc dì Thảo cũng thế, tuy dì kín đáo không nói ra, nhưng đã có lần tôi bắt gặp dì nhìn đồng hồ tới mấy lần hôm chú tới trễ. Dạo này dì cũng ít về nhà riêng, dì gần như ở hẳn tại nhà ông ngoại “để có thì giờ riêng tư với mẹ cháu”, dì giải thích. Lũ trẻ con chúng tôi được dịp tha hồ ăn những món ngon do dì nấu nướng.
Ba tuần lễ trôi qua nhanh chóng, sau cùng thì bức tranh sơn dầu vẽ hình cô dâu cũng hoàn tất, xem cách chú Lãm trân trọng bức tranh, tôi có thể đoán đây là tác phẩm ưng ý nhất của chú. Mọi người xúm lại ngắm nghía và trầm trồ khen ngợi:
- Đẹp lắm, đẹp lắm! giống y như người thật.
- Cô dâu trông tươi quá!

Tôi nhìn lên khung vải, dưới nét bút tài tình của người họa sĩ, khuôn mặt dì Thảo hiện ra sống động như một người bằng xương, bằng thịt, có điều là một dì Thảo trẻ trung xinh đẹp, một dì Thảo vui tươi yêu đời, với ánh mắt long lanh và nụ cười rạng rỡ.
- Hoạ sĩ tài thật. Mợ Ngọc nói, mới biết đây thôi, làm sao ông có thể vẽ lại hình ảnh của cô Thảo thuở chưa biết buồn?
- Chỉ cần chú ý đến những nét đặc biệt của người mẫu, họa sĩ có thể diễn tả được hình ảnh của đối tượng qua đủ mọi sắc thái, khi vui cũng như lúc buồn.
Chú Lãm nói xong quay sang nhìn dì Thảo với một vẻ rất chân thành:
- Tôi đâu có vẽ cô Thảo bây giờ, mà là cô Thảo trong tương lai… Tôi muốn cô sống vui vẻ.
Dì Thảo nhìn chú Lãm tỏ vẻ biết ơn. Mẹ tôi nói giọng cảm động:
- Nhìn tranh, chị nhớ lại hình ảnh của em lúc còn đi học, vui tươi nhí nhảnh, ca hát suốt ngày như chim sơn ca, chứ không ủ dột như bây giờ. Em nên quên cái chuyện rủi ro đó đi mới phải, nỗi buồn nào rồi cũng phai theo thời gian, miễn là mình đừng cố ý nuôi dưỡng nó.
Mỗi khi mẹ dùng tiếng em để gọi dì là lúc bà rất xúc động, dì Thảo cũng thế, tôi chợt nhận ra là mắt của hai người đều đỏ hoe. Chú Lãm không nói gì, nhưng ánh mắt chú nhìn dì Thảo đã nói lên cả một trời yêu thương. Hôm sau, chú Lãm lại đến để tiếp tục công việc, chú nói với dì Thảo:
- Bây giờ đến lượt vẽ hình chú rể, cô cho tôi xem một tấm hình của anh ấy .
Dì Thảo lục trong túi xách, đưa ra một cái hình nhỏ đã được dì trân trọng đặt vào trong một cái khung bằng bạc có lộng kiếng:
- Tôi chỉ có tấm hình này là hình mới nhất của Ưng Bửu, chụp trong ngày lễ đính hôn của chúng tôi.
- Nghĩa là cách đây đã tám năm?
- Phải!
Chú Lãm cầm tấm hình đã hơi vàng ố lên xem và khen:
- Chà! anh ấy trông trẻ và đẹp trai quá.
- Chính thế! Dì Thảo nói một cách hãnh diện, anh ấy đẹp trai như tài tử Alain Delon, chỉ tiếc là chết rất trẻ, Ưng Bửu chết lúc mới ba mươi hai tuổi.
- Thật là chuyện đáng buồn!
- Đúng vậy, cú sốc kinh khủng đó đã làm cho tôi chới với, tôi không biết làm thế nào có thể đứng vững lại được.
- Tôi hiểu, sau cái tai hoạ bất thình lình giáng xuống, thái độ đau khổ của cô là lẽ dĩ nhiên, ai cũng có thể thông cảm, miễn là đừng kéo dài quá lâu.
- Nhưng tôi đã đánh mất niềm tin vào cuộc đời rồi ông ạ! Đối với tôi bây giờ, cuộc đời không còn nghĩa lý gì hết, trước đây tôi sống vì Ưng Bửu, bây giờ anh ấy không còn nữa, tôi còn gì để vui sống? Nhiều lúc tôi ước mình có thể hoá điên để khỏi cảm thấy đau khổ..
- Ai lại ước dại dột thế?
Chú Lãm cười dịu dàng, nhiều người đau khổ vì bệnh tật, chỉ cầu mong được khoẻ mạnh, còn cô… Xem ra ở đời hiếm ai được hoàn toàn như ý muốn, mỗi người một hoàn cảnh, và ai cũng có đôi lúc gặp trở ngại, nhưng phải cố gắng mà vượt qua. Hãy quên cái quá khứ đau buồn đó đi! chẳng lẽ cô định sống suốt đời với một bóng ma à?
- Chắc là vậy, bởi vì tôi yêu cái bóng ma ấy. Mỗi khi tôi nhắm mắt, hình ảnh của Ưng Bửu lại hiện ra y hệt như lúc còn sống. Tôi hình dung ra Ưng Bửu vào thời gian cuối cùng trước khi anh ấy mất…
- Và hình ảnh ấy mãi mãi vẫn không thay đổi, đúng không? vì người chết đâu có già đi. Nhưng chúng ta, những người còn sống, chúng ta không thể đi ngược lại qui luật của tạo hoá, chúng ta vẫn phải quay theo bánh xe của thời gian, tôi muốn nói chúng ta mỗi ngày một già đi. Cô định chờ anh ấy cho tới bao giờ?
- Cho tới ngày xuôi tay nhắm mắt… Tôi sẽ nối lại tình xưa với Ưng Bửu ở bên kia thế giới.
- Cái ngày đó có thể không bao giờ có, hoặc nếu có, thì tình thế cũng sẽ thay đổi, đâu còn giống như xưa?
- Tại sao?
- Cô thử nghĩ xem? ba, bốn chục năm nữa, cô sẽ thành một người đàn bà sáu, bảy chục tuổi, trong khi Ưng Bửu mãi mãi vẫn là một chàng trai ba mươi, liệu hai người có còn xứng đôi với nhau nữa không? Ấy là chưa kể theo kiếp luân hồi, anh ấy đâu có thể tồn tại mãi để mà đợi cô? Như thế, sự chờ đợi của cô có phải là vô ích không?
Dì Thảo cúi đầu nghĩ ngợi, nét mặt hết sức buồn bã. Chú Lãm lại gần, đặt tay lên vai dì, dịu dàng nói:
- Cái gì đã qua nên để cho nó qua đi, không nên níu giữ. Thời gian chẳng dừng lại đâu, chúng ta có tuổi xuân, đừng để qua đi uổng lắm. Cuộc đời không đến nỗi tệ như cô nghĩ đâu, còn thiếu gì cái đẹp? Cô hãy nhìn xem ngoài kia!
Vừa nói chú Lãm vừa mở tung các cửa sổ, một cơn gió nhẹ ùa vào đem theo làn không khí mát mẻ làm dịu lòng người. Theo ngón tay chỉ của chú Lãm, dì Thảo nghiêng mình bên cửa sổ, nhìn ra xa xa, rặng núi xanh rì mập mờ ẩn hiện trong làn sương mù buổi sớm, dưới chân núi là mặt biển màu xám bạc,vài con chim hải âu bay liệng trên không trung, vừa vỗ cánh vừa cất tiếng gọi bạn nghe ríu rít. 
Thật lạ lùng, khung cảnh quen thuộc này đâu có gì mới lạ, dì vẫn nhìn thấy hàng ngày, nhưng lần đầu tiên dì chợt chú ý và nhận thấy là rất đẹp, rất thơ mộng. Dì ngây người đứng ngắm, lòng bồi hồi một cảm giác rung động nhẹ nhàng. Chú Lãm đưa tay ngắt một bông hồng đang đong đưa bên cửa sổ, trao cho dì, dịu dàng nói: 
- Đi! Chúng ta ra ngoài một lúc, cô có muốn đi dạo biển không?
Dì Thảo gật đầu, lặng lẽ đi theo chú ra cửa, hai người bước đi song song bên nhau. Đang đi, bỗng nhiên dì vấp phải một tảng đá nhỏ và ngã chúi xuống, chú Lãm vội giơ tay ra đỡ, chú nắm tay dì kéo đứng lên. Qua phút bàng hoàng, dì gượng lại được và ngượng ngùng khẽ rút tay lại, cảm giác của sự đụng chạm với người khác phái làm dì rùng mình, nóng ran hai má. Để che giấu bối rối, dì vờ cúi xuống phủi một cái lá mới rơi vương trên áo. Khi ngẩng lên, dì chợt có cảm tưởng như cảnh vật vừa đột nhiên sáng bừng lên, trong một phút, dì Thảo ngỡ ngàng tưởng mình đang lạc vào một vùng trời xa lạ nào đó, dì ngẩn ngơ một lúc rồi mới tiếp tục bước tới. 
 Phong cảnh đẹp hơn khi hai người ra đến bên ngoài. Bình minh đang lên, mặt trời to như một cái đĩa lửa khổng lồ, đang từ từ nhô lên khỏi mặt biển, chiếu những tia sáng đỏ rực làm hồng một góc trời ở phương Đông. Những lượn sóng nhuộm ánh vàng xô vào bờ nghe rạt rào như tiếng nhạc của một điệu luân vũ. Gió biển ào ạt từng cơn làm lả ngọn những rặng phi lao mọc thành từng hàng trên bãi. Trên nền trời trong vắt, những đám mây trôi lang thang, không biết đi về đâu. Đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, con người cảm thấy nhỏ bé, yếu đuối và vô cùng cô đơn, tự nhiên dì Thảo đi sát vào chú Lãm như tìm một sự che chở, chàng thanh niên này trông vững vàng quá, và đầy vẻ bao dung. Hai người ra gần mé nước, những dấu chân in trên cát ướt phút chốc bị xoá ngay bởi sóng. Họ nắm tay nhau đi tới, rồi cùng chạy thật nhanh vào bờ mỗi khi có một lượn sóng to xô tới, hai người nghịch ngợm như trẻ con. Tự nhiên dì Thảo cảm thấy trẻ lại như thuở còn vô tư, hít một hơi dài làn không khí thơm mùi gió biển, dì cảm thấy đầu óc trong sáng như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng. Dì khẽ liếc nhìn người đàn ông đang đi bên cạnh, lắng nghe anh ta kể chuyện đời mình, và những ước mơ trong tương lai:
- Tôi làm họa sĩ chỉ vì yêu nghệ thuật, chứ không sống bằng nghề này. Thỉnh thoảng tôi mới mở một cuộc triển lãm tranh, và bán với giá rất đắt cho những ai hiểu được giá trị của hội hoạ. Số người này không có nhiều đâu, nhưng tôi không nhắm vào thị trường tiêu thụ, và tôi cũng không vì mục đích kiếm tiền. Tôi có một căn nhà nhỏ, và một trang trại ở Đà Lạt trồng đủ mọi loại hoa, cung cấp cho các tỉnh miền Tây Nam kỳ, hoa lợi đủ sống. Tôi định sẽ về ở hẳn tại đó, khi tôi lập gia đình với người con gái tôi yêu…
Chú Lãm ngưng một lúc, rồi lại tiếp tục:
- Bao nhiêu năm qua, tôi đã đi khắp nơi, mong tìm được một người bạn đời hiểu tôi, và cùng tôi chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Hai vợ chồng sẽ sống một cuộc đời giản dị, không bon chen tại trang trại vắng vẻ, nhưng rất nên thơ của tôi, cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc. Nơi đó phong cảnh đẹp lắm, có rừng phong lá đỏ, có núi đồi, có suối trong, và quanh năm hoa nở bốn mùa…
- Nghe tả thôi, Thảo đã thấy là thơ mộng lắm.
- Đúng vậy, khi nào Thảo chán cuộc sống buồn tẻ ở đây, và muốn có một sự thay đổi, tôi sẽ đưa cô lên Đà Lạt thăm trang trại thần tiên đó, ý cô ra sao?
- Để Thảo suy nghĩ lại.
- Cô cứ nghĩ cho chín chắn, tôi sẽ đợi, bao lâu cũng được.
Sau ngày triển lãm tranh khá thành công, chú Lãm đến chơi để từ biệt. Hai người lại rủ nhau ra biển, chú Lãm nói:
- Tôi chỉ còn ở đây nốt tuần này, hoàn tất xong bức tranh cho cô, tôi sẽ rời Nha Trang.
Dì Thảo hơi giật mình:
- Nhanh vậy sao?
Dì đưa mắt nhìn ra ngoài khơi mênh mông, mặt biển trắng xóa dưới nắng trưa, dì nói giọng trầm hẳn xuống:
- Vắng ông biển sẽ buồn lắm…
- Còn Thảo có buồn không?
Dì Thảo quay mặt đi chỗ khác, tránh không trả lời, chú Lãm thở dài:
- Quên chuyện đó đi! Bắt đầu từ ngày mai tôi sẽ không đến nữa, tôi phải tập làm quen với ý nghĩ không có cô. Ngày mai tôi sẽ bắt đầu vẽ, và sẽ hoàn tất bức tranh trước khi rời Nha Trang. Tôi sẽ đặt giá vẽ ở đây, để vừa vẽ vừa ngắm cảnh.
- Ông vẽ gì thế? vẽ biển hay vẽ đồi thông?
- Không, vẽ hình chú rể của cô chứ, cô quên rồi à? bức tranh chưa hoàn tất, mà tôi đâu còn bao nhiêu thì giờ.
Dì Thảo giật mình, ngẩn ngơ tiếc những ngày vui sắp qua đi, nghĩ đến việc sắp phải từ biệt chàng trai đã đem đến cho mình những đổi thay mới lạ, dì cảm thấy nao nao như nuối tiếc một cái gì. Còn chú Lãm nói xong, nhìn đăm đăm vào mắt người con gái, tia nhìn vừa buồn rầu, vừa thiết tha đắm đuối, làm dì Thảo cúi mặt bâng khuâng. Trời ơi! dì kêu thầm trong lòng, thì ra tình cảm trong ta vẫn chưa chết hẳn, ta còn biết rung động hay sao? Dì thẹn thùng không dám ngẩng đầu lên, hai vành tai đỏ ửng, không biết vì nắng hay vì mắc cỡ. Toàn thân dì nóng bừng trong một cảm giác xôn xao kỳ diệu, tưởng chừng như có một luồng sinh khí mới thổi qua, làm ấm lại con tim băng giá, làm hồi sinh những tình cảm tưởng như đã chết… Dì Thảo bàng hoàng như người vừa tỉnh dậy sau một cơn mê dài, dì thấy cảnh vật hôm nay sao đẹp quá, nắng buổi trưa không còn gay gắt, mà chỉ làm hoa cỏ thêm rực rỡ, tiếng chim hót, tiếng sóng biển và tiếng gió rì rào nghe như một điệu nhạc hoà tấu vui tươi…
Khẽ chớp cặp mắt rất đẹp, dì Thảo nhìn chú Lãm dịu dàng nói:
- Thảo thấy là không cần thiết nữa.
- Tại sao vậy? Chú Lãm hỏi, mắt sáng ngời, hình như chú không dám tin ở tai mình.
- Tại vì Thảo đã thay đổi ý định rồi. Dì Thảo cúi mặt xuống nói nhẹ như hơi thở, không cần phải hoàn tất bức tranh đó nữa. Thảo muốn ông dành thì giờ vào việc khác, ông hứa ông sẽ đưa Thảo đi thăm trang trại trồng hoa của ông, phải không?
Chú Lãm cười thật tươi:
- Đúng vậy! nhưng… lẽ ra cô phải nói là trang trại thần tiên của chúng ta mới đúng.
Vừa nói, chú vừa nhìn dì Thảo một cách tình tứ, khiến dì thẹn thùng không dám ngẩng lên. Dì ngồi im bối rối, trong khi bàn tay dì vẫn vô tình vẽ nguệch ngoạc trên cát những hình thù vô nghĩa. Còn chú Lãm sau khi thốt ra những lời tỏ tình kín đáo đó, cũng không biết nói gì thêm. Hai người cùng im lặng, lắng nghe tiếng lòng xôn xao, lắng nghe hai con tim cùng đập chung một nhịp điệu yêu đương. Đưa tay gỡ một chiếc lá rơi vương trên tóc người yêu, chú Lãm đắn đo một lúc rồi mới hỏi:
- Thảo này! còn bức tranh, em có để ý gì không?
- Làm sao ạ?
- Tôi thấy bên cô dâu còn chỗ cho một người, em muốn tôi vẽ gì vào khoảng trống đó?
Mặt ửng hồng, dì Thảo bẽn lẽn cúi đầu, nói thật nhỏ:
- Thảo nghĩ chẳng lẽ anh lại không biết tự họa hay sao?
Mỉm cười sung sướng, chú Lãm bạo dạn kéo dì Thảo sát lại gần, hôn phớt lên tóc dì, âu yếm:
- Hãy quên đi dĩ vãng buồn, em nhé? Sau cơn mưa, trời sẽ lại quang đãng…
Dì Thảo gật đầu, ngước nhìn người tình với cặp mắt đầy tin yêu:
- Bóng tối đã qua rồi, cám ơn anh đã đem ánh sáng đến cho đời em.
 Phong cảnh đẹp hơn khi hai người ra đến bên ngoài. Bình minh đang lên, mặt trời to như một cái đĩa lửa khổng lồ, đang từ từ nhô lên khỏi mặt biển, chiếu những tia sáng đỏ rực làm hồng một góc trời ở phương Đông. Những lượn sóng nhuộm ánh vàng xô vào bờ nghe rạt rào như tiếng nhạc của một điệu luân vũ. Gió biển ào ạt từng cơn làm lả ngọn những rặng phi lao mọc thành từng hàng trên bãi. Trên nền trời trong vắt, những đám mây trôi lang thang, không biết đi về đâu. Đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, con người cảm thấy nhỏ bé, yếu đuối và vô cùng cô đơn, tự nhiên dì Thảo đi sát vào chú Lãm như tìm một sự che chở, chàng thanh niên này trông vững vàng quá, và đầy vẻ bao dung. Hai người ra gần mé nước, những dấu chân in trên cát ướt phút chốc bị xoá ngay bởi sóng. Họ nắm tay nhau đi tới, rồi cùng chạy thật nhanh vào bờ mỗi khi có một lượn sóng to xô tới, hai người nghịch ngợm như trẻ con. Tự nhiên dì Thảo cảm thấy trẻ lại như thuở còn vô tư, hít một hơi dài làn không khí thơm mùi gió biển, dì cảm thấy đầu óc trong sáng như vừa thoát khỏi một cơn ác mộng. Dì khẽ liếc nhìn người đàn ông đang đi bên cạnh, lắng nghe anh ta kể chuyện đời mình, và những ước mơ trong tương lai:
- Tôi làm họa sĩ chỉ vì yêu nghệ thuật, chứ không sống bằng nghề này. Thỉnh thoảng tôi mới mở một cuộc triển lãm tranh, và bán với giá rất đắt cho những ai hiểu được giá trị của hội hoạ. Số người này không có nhiều đâu, nhưng tôi không nhắm vào thị trường tiêu thụ, và tôi cũng không vì mục đích kiếm tiền. Tôi có một căn nhà nhỏ, và một trang trại ở Đà Lạt trồng đủ mọi loại hoa, cung cấp cho các tỉnh miền Tây Nam kỳ, hoa lợi đủ sống. Tôi định sẽ về ở hẳn tại đó, khi tôi lập gia đình với người con gái tôi yêu…
Chú Lãm ngưng một lúc, rồi lại tiếp tục:
- Bao nhiêu năm qua, tôi đã đi khắp nơi, mong tìm được một người bạn đời hiểu tôi, và cùng tôi chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Hai vợ chồng sẽ sống một cuộc đời giản dị, không bon chen tại trang trại vắng vẻ, nhưng rất nên thơ của tôi, cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc. Nơi đó phong cảnh đẹp lắm, có rừng phong lá đỏ, có núi đồi, có suối trong, và quanh năm hoa nở bốn mùa…
- Nghe tả thôi, Thảo đã thấy là thơ mộng lắm.
- Đúng vậy, khi nào Thảo chán cuộc sống buồn tẻ ở đây, và muốn có một sự thay đổi, tôi sẽ đưa cô lên Đà Lạt thăm trang trại thần tiên đó, ý cô ra sao?
- Để Thảo suy nghĩ lại.
- Cô cứ nghĩ cho chín chắn, tôi sẽ đợi, bao lâu cũng được.
Sau ngày triển lãm tranh khá thành công, chú Lãm đến chơi để từ biệt. Hai người lại rủ nhau ra biển, chú Lãm nói:
- Tôi chỉ còn ở đây nốt tuần này, hoàn tất xong bức tranh cho cô, tôi sẽ rời Nha Trang.
Dì Thảo hơi giật mình:
- Nhanh vậy sao?
Dì đưa mắt nhìn ra ngoài khơi mênh mông, mặt biển trắng xóa dưới nắng trưa, dì nói giọng trầm hẳn xuống:
- Vắng ông biển sẽ buồn lắm…
- Còn Thảo có buồn không?
Dì Thảo quay mặt đi chỗ khác, tránh không trả lời, chú Lãm thở dài:
- Quên chuyện đó đi! Bắt đầu từ ngày mai tôi sẽ không đến nữa, tôi phải tập làm quen với ý nghĩ không có cô. Ngày mai tôi sẽ bắt đầu vẽ, và sẽ hoàn tất bức tranh trước khi rời Nha Trang. Tôi sẽ đặt giá vẽ ở đây, để vừa vẽ vừa ngắm cảnh.
- Ông vẽ gì thế? vẽ biển hay vẽ đồi thông?
- Không, vẽ hình chú rể của cô chứ, cô quên rồi à? bức tranh chưa hoàn tất, mà tôi đâu còn bao nhiêu thì giờ.
Dì Thảo giật mình, ngẩn ngơ tiếc những ngày vui sắp qua đi, nghĩ đến việc sắp phải từ biệt chàng trai đã đem đến cho mình những đổi thay mới lạ, dì cảm thấy nao nao như nuối tiếc một cái gì. Còn chú Lãm nói xong, nhìn đăm đăm vào mắt người con gái, tia nhìn vừa buồn rầu, vừa thiết tha đắm đuối, làm dì Thảo cúi mặt bâng khuâng. Trời ơi! dì kêu thầm trong lòng, thì ra tình cảm trong ta vẫn chưa chết hẳn, ta còn biết rung động hay sao? Dì thẹn thùng không dám ngẩng đầu lên, hai vành tai đỏ ửng, không biết vì nắng hay vì mắc cỡ. Toàn thân dì nóng bừng trong một cảm giác xôn xao kỳ diệu, tưởng chừng như có một luồng sinh khí mới thổi qua, làm ấm lại con tim băng giá, làm hồi sinh những tình cảm tưởng như đã chết… Dì Thảo bàng hoàng như người vừa tỉnh dậy sau một cơn mê dài, dì thấy cảnh vật hôm nay sao đẹp quá, nắng buổi trưa không còn gay gắt, mà chỉ làm hoa cỏ thêm rực rỡ, tiếng chim hót, tiếng sóng biển và tiếng gió rì rào nghe như một điệu nhạc hoà tấu vui tươi…
Khẽ chớp cặp mắt rất đẹp, dì Thảo nhìn chú Lãm dịu dàng nói:
- Thảo thấy là không cần thiết nữa.
- Tại sao vậy? Chú Lãm hỏi, mắt sáng ngời, hình như chú không dám tin ở tai mình.
- Tại vì Thảo đã thay đổi ý định rồi. Dì Thảo cúi mặt xuống nói nhẹ như hơi thở, không cần phải hoàn tất bức tranh đó nữa. Thảo muốn ông dành thì giờ vào việc khác, ông hứa ông sẽ đưa Thảo đi thăm trang trại trồng hoa của ông, phải không?
Chú Lãm cười thật tươi:
- Đúng vậy! nhưng… lẽ ra cô phải nói là trang trại thần tiên của chúng ta mới đúng.
Vừa nói, chú vừa nhìn dì Thảo một cách tình tứ, khiến dì thẹn thùng không dám ngẩng lên. Dì ngồi im bối rối, trong khi bàn tay dì vẫn vô tình vẽ nguệch ngoạc trên cát những hình thù vô nghĩa. Còn chú Lãm sau khi thốt ra những lời tỏ tình kín đáo đó, cũng không biết nói gì thêm. Hai người cùng im lặng, lắng nghe tiếng lòng xôn xao, lắng nghe hai con tim cùng đập chung một nhịp điệu yêu đương. Đưa tay gỡ một chiếc lá rơi vương trên tóc người yêu, chú Lãm đắn đo một lúc rồi mới hỏi:
- Thảo này! còn bức tranh, em có để ý gì không?
- Làm sao ạ?
- Tôi thấy bên cô dâu còn chỗ cho một người, em muốn tôi vẽ gì vào khoảng trống đó?
Mặt ửng hồng, dì Thảo bẽn lẽn cúi đầu, nói thật nhỏ:
- Thảo nghĩ chẳng lẽ anh lại không biết tự họa hay sao?
Mỉm cười sung sướng, chú Lãm bạo dạn kéo dì Thảo sát lại gần, hôn phớt lên tóc dì, âu yếm:
- Hãy quên đi dĩ vãng buồn, em nhé? Sau cơn mưa, trời sẽ lại quang đãng…
Dì Thảo gật đầu, ngước nhìn người tình với cặp mắt đầy tin yêu:
- Bóng tối đã qua rồi, cám ơn anh đã đem ánh sáng đến cho đời em.
Chú Lãm siết nhẹ dì Thảo vào lòng, cả hai cùng nhìn theo đôi chim hải âu đang tung cánh bay về phía biển khơi xanh thẳm ngoài xa, chú cúi xuống, âu yếm hôn lên đôi mắt rất đẹp của người yêu, thì thầm:
- Chúng ta cũng giống như hai con chim liền cánh kia, cùng bay về hướng chân trời tươi sáng.Anh tiếc không thể cho em tình yêu đầu, nhưng anh sẽ cho em tất cả tình sau và cũng là tình cuối ./.

Minh Phượng sưu tầm 

Ba cao thủ OANH-MAI-MỸ cùng họp mặt quần hùng ở VN 17-01

Mấy khi mà có dịp cả ba Cao thủ Oanh Chu và bạn Lệ Mai, Mỹ Bùi cùng Như Mai lại cùng có dịp cùng tỷ thí võ công cho các đồng môn cùng thưởng lãm...vui ơi là vui....









   
 Các bạn Ngọc Yến, An Trinh,Thành Oanh,Tân Lê,KimThoa,Kim Thanh, Liên Đoàn ,Tâm mini, Phương Dung, Bích Liên, Loan,Đoàn t Nam,,Thuận, Bích Ngọc,Anh Thư,Ngọc Lan
    
Chỗ hẹn hò là nhà hàng Mai Sen ở đường Nguyễn văn Lạc,quận Bình Thạnh, gần Sở Thú ...nơi này rất lịch sự, tiếp viên lễ phép, rất dễ thương... Nên Mỹ Bùi kết mô đen ngay....
    
Oanh Chu về sớm quá nên không thể cùng đi Đường Hoa Tết Kỷ Hợi ở Đường Nguyễn Huệ cùng tụi này... Tiếc quá....

   Hẹn dịp tới nhé....


                                                                                                                                    KimThanh

Jan 10, 2019

ĐẦU NĂM ĐI THĂM THẦY CÔ

THĂM CÔ MỸ YẾN VÀ THẦY PHI LONG


Hôm nay mấy em Vịt Tây Úc lại hẹn nhau đi thăm và biếu quà Thầy Cô đầu năm. Mấy ngày trước Hà đã hẹn với Mỹ Điệp và Mai Đoàn sắp xếp ngày giờ để cùng nhau đi thăm Thầy Phi Long và Cô Mỹ Yến, 
Hà và Mỹ Điệp đến thăm Thầy Phi Long trước, Mai Đoàn bận chút chuyện nên chỉ đến thăm Cô Mỹ Yến thôi. Cũng hơn 1 năm rồi lũ học trò mới trở lại thăm Thầy. Mừng vì Thầy  vẫn khỏe mạnh và hứng thú trong công việc viết những bài nghiên cứu về nguồn gốc tiếng Việt.


                                      Thầy Phi Long và Cô

                                
                         
Rời nhà Thầy Phi Long , Hà và Mỹ Điệp trực chỉ đến nhà Cô Mỹ Yến. Cô có yếu hơn lúc trước, đi đã phải có cây chống cho chắc phòng hờ không bị ngã, nhưng cô vẫn tinh tường và nói chuyện rất vui. Biết  học trò đến thăm cô giáo đã diện đẹp để ra đón học trò, thương cô quá cô ơi !
Ngồi một lúc thì thấy 1 ông Úc và 1 bà đầm đến trước cửa nhà , Hà và em Châu ,con của cô, còn tưởng ai đi lộn nhà thì hóa ra là  Mai Đoàn đã nhờ ông bạn Úc hàng xóm chở đến thăm cô.

                


Sau 3 tháng vật lý trị liệu trong trung tâm phục hồi, Mai Đoàn đã đi lại được tuy vẫn còn hơi chậm chút. Rất mừng cho Mai đã chịu đau đớn cố gắng tập luyện để phục hồi nhanh như vậy tuy vẫn phải tiếp tục tập luyện, và mỗi tháng vẫn phải đến bệnh viện chích thuốc để ngăn ngừa cho con virus chịu nằm im, không cục cựa nổi loạn.  Sau cơn bệnh trông Mai thon gọn hơn và tươi trẻ hơn trước đó các bạn .Ngồi nói chuyện ai cũng mừng cho Mai đã qua được cơn thập tử nhất sinh, Mai cũng may mắn có những người bạn Úc hàng xóm tốt bụng giúp đỡ , tưới cây chăm vườn cho Mai trong lúc nằm bệnh viện và bây giờ chở Mai đi đây đi đó dùm.

PHà có chụp được tấm hình cô Mỹ Yến lúc tuổi 20 mươi. Đến bây giờ Thầy Cô tóc đã bạc trắng. Cầu mong Thầy Cô chúng mình luôn được khỏe mạnh, an vui hạnh phúc.
PHà có ghi lại một ít hình ảnh, gửi các bạn cùng xem.



Cô Mỹ Yến lúc tuổi đôi mươi

             

Jan 3, 2019

Đám cưới con trai Ngọc Yến 27-12-2018

Tối nay tụi Thanh dự đám cưới con trai của Ngọc Yến ở nhà hàng CONTINENTAL ở Saigon với nhiều bạn ban B như Long Châu, Minh Yến, Sang , An Trinh, Thành Oanh, Kim Thanh, KimThoa, Tân Lê cùng Tuyết Trinh, Anh Thư, Phương Dung và Bích Liên vui quá là vui...




  

 Long Châu là bạn mới gặp từ sau năm 1970 , lúc rời trường ...Long Châu từ Cần Thơ lên,Tuyết Trinh từ Vũng Tầu xuống ....còn tụi Thanh từ nhà ra... 
  
 Lúc này đa số tụi Thanh đều đi xe hơi ( taxi ) đến dự tiệc ...vì trời tối , đường mưa lâm râm....ngồi trong xe nói chuyện ...mới vui....

Kim Thanh
27-12-2018

Hội Ngộ Oanh Chu với bạn bè ...

Ban B hôm nay quy tụ đầy đủ quần hùng Bang B ở Việt Nam 
   Bang chủ Oanh Chu với bạn Lệ Mai cùng các hiệp sĩ Ngọc Yến, An Trinh, Long Châu, Minh Yến, Sang, Kim Thanh, Kim Thoa,Tân Lê, Thành Oanh ...hội tụ cùng nhau bàn bạc về chuyện xưa... Thời còn đi học...vui ơi là vui....


   
Tiệc hôm nay có món gỏi cuốn do Sang và Long Châu đảm trách, còn món ba ba ốc thì Thanh làm, còn miến cua, bún chả và chả giò thì có người mang lại ...hihi...

" Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

Bày tiệc đãi bạn biết có vừa lòng bạn chăng ? "

Sau khi ăm uống no say rồi ...nằm lăn trên ghế nằm xuống sàn nhà nói tiếp chừng 5,6 tiếng ...rồi mói bịn rin chia tay ra về,,,,Hen tái ngộ, tái nạm, tái gầu, tái gân dài dài....

KimThanh

29-12-2018

NGUỒN GỐC ÂM V TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Giáo sư Đoàn Văn Phi Long

Nguồn gốc âm V trong tiếng Việt

GS Đoàn Văn Phi Long

Rất ít học giả nghiên cứu nguồn gốc âm V trong tiếng Việt; đếm được chỉ có hai người, nguyên do vì có ít tài liệu để nghiên cứu, dẫn chứng. Cả hai cho V xuất hiện vào thời Pháp thuộc, vì lầm tưởng chỉ có chữ Quốc Ngữ mới viết được V.

Tất cả ngôn ngữ các nước Ðông Á như Nhật, Tây Tạng, Mông Cổ, Ðại Hàn, Miến Ðiện, Malay và mọi thứ tiếng Tàu đều không có âm V nhưng có âm W; ngay cả các nước Á Rập cũng chỉ có W. Tiếng Mon, Khmer, Thái có W nhưng không có V, trừ các từ ngữ vay mượn của tiếng Sangscrit; Ấn Ðộ là nước duy nhất có V. Vì không có V nên mỗi nước gọi người Việt một cách khác nhau, đôi khi rất lạ đời như người Nhật gọi là Beto amu; người Ðại Hàn, Be tu namô; người Thái, Wiat nam; Người Miên, Kôn Yuôn; người Mường, Yịt; người QÐ, Yuệt Làm; Quan Thoại, Yuè Nan. Phát âm miền Bắc mang nhiều sắc thái đặc biệt không giống một nước nào ở Ðông Á, và cả trên thế giới. Một trong những cái đặc biệt là có quá nhiều âm răng môi Z, Zh, V; nhưng hoàn toàn không có âm tròn môi W, Y, D, Gi, Qu.

Thời đầu Văn Lang ta không có V nhưng có W và nhiều âm khác mà nay đã biến mất dưới ảnh hưởng nặng nề của tiếng Bắc Kinh. Vòng tròn thời đó còn nói là wòng gòn, tương tự wong glom như tiếng Thái, wuông mun tiếng Khmer, gol tiếng Ấn. Từ "và" ngày xưa là do "la" tiếng Thái, cả hai có cùng nguồn gốc với aur, tiếng Ấn Ðộ; dan, Mã Lai; and tiếng Anh. Người miền Nam nói wa cầu gió bay lại là phát âm đúng giọng Giao Chỉ thời cổ. Thực vậy thời cổ ta nói wa y như wa tiếng Khmer, cũng có nghĩa là vuợt qua hay wafat tiếng Mã Lai có nghĩa là qua đời. Trong thời Bắc thuộc, wa bị từ guó tiếng Quan thoại thay thế vì người Bắc nói là kwa, biến thể của guó.

1. Nguyên Nguyên

“Theo thiển ý, lối phát âm V là V như trong tiếng Tây tiếng Anh chỉ bắt đầu thịnh hành ở đàng Ngoài sau khi các giáo sĩ Tây Phương đến Việt Nam và ghi âm tiếng Việt để tạo ra chữ quốc ngữ từ thế kỷ 16-17.

Âm V từ các ngôn ngữ Tây Phương do đó đã được các giáo sĩ Âu Châu dùng để phiên âm một lượt hai âm thuần Việt là Y (như trong Anh Ngữ YES) hay Bd (kiểu Nam) như trong Yân Nam (tức Vân Nam hay Yun Nan theo quan thoại) hoặc Yũ (tức Vũ, lông chim) và âm gần giống W như trong Wăn Wõ (tức Văn Võ hay Wen Wu theo quan thoại) hoặc Wương (tức Vương hay Wang theo quan thoại). Tiêu biểu cho sự sai trật so với tiếng Việt cổ giữa người Nam Bộ ở miệt tỉnh và người Bắc Hà nói chung có thể nằm trọn trong tên tài tử Vương Vũ.

Cũng theo thiển ý, sở dĩ có sự sai trật này (so với tiếng “Yiệt” cổ) là vì trong các chữ cái alphabet của ngôn ngữ các giáo sĩ “Tây” quen thuộc ở Nam Âu Châu (thường gọi Romance languages) dùng để phiên âm tiếng nói của người Việt cổ hoàn toàn không có âm của chữ cái W như trong Anh ngữ. Chỉ có âm chữ gần giống với W là V như trong tiếng Pháp. Thành ra tiếng Việt mất hẳn âm chủ yếu W để phiên âm gần đúng hơn V cho một số từ như Vương trong tên Vương Trùng Dương, Văn, Võ, v.v.

Tiếng Nhật có âm W theo alphabet như Watashi (Tôi) hay tên phổ thông Watanabe. Tiếng In-Đô cũng có âm W như trong tên rất phổ thông Widjaja, mà mấy ông Tây đã phiên âm một vị thần của nước Chăm là Vijaja (lại dùng V thay cho W!).

Chỉ có tiếng Việt Nam cổ bởi được các giáo sĩ - đa số người Pháp - phiên âm để tạo ra chữ Quốc Ngữ mà không dùng một mẫu tự W nằm ngoài tiếng Pháp và các tiếng miền Nam Âu Châu, nên hoàn toàn vắng bóng W khả dĩ có thể phiên âm gần sát với âm của những từ như: Vương (quan thoại Wang), Văn (Wen), Vũ (như Vũ khí, quan thoại Wu), Vô (Vô thừa nhận,

Wu), Vật (động vật, Wu), Vãng (vãng lai, Wang), Vạn (10 ngàn, quan thoại Wan), vân vân. Đa số những từ bắt đầu bằng V đáng lẽ được ký âm bằng W thường là tiếng Hán Việt, chứ không phải tiếng Nôm”

Lời bàn:

-Xin tóm tắt lại ý kiến của tác giả: Tiếng Pháp và Nam Âu chỉ có V, không có W; trừ các từ mượn của Anh. Do đó các giáo sĩ “Tây” thay các từ có W bằng V như Wang, tiếng QT; thành vương tiếng Hán Việt; Wen thành Văn trong thời Pháp thuộc.

-Thực sự W đổi thành V không phải do người Pháp, mà có động cơ khác, xin xem ở dưới

-Mường không có âm V chỉ có W, Y, Yịt (Việt).

2. Nguyên Nguyên cho Ấn Độ không có V?

Lời bàn: Nguyên Nguyên cho Ấn không có V mà chỉ có W hay U là không đúng, trái lại Ấn có V nhưng không có W , xin dẫn chứng

-Các từ mượn của Anh có W người Ấn đều tống hết thành V như Voltage thành volteij, Washington thành Vaashingaton, Hawaii thành havaee

-Xin xem English – Hindi dictionary online free và ấn hình cái loa sẽ nghe phát âm có chữ V tiếng Ấn giống tiếng Anh, như vo= he, she; voltej= voltage; vAn=van; vagon=wagon

-Sách bỏ túi Hindi and Urdi A Rough Guide phrasebook cũng cho V trong tiếng Ấn giống như V trong tiếng Anh

-Các nước Á Châu đều không có V trừ Ấn Độ. Tôn giáo xưa nhất của VN, Tàu và Chàm là Hindu nên sự hiện hữu của âm V phải chịu ít nhiều từ Ấn Độ. Thí dụ sau đây cho thấy có rất nhiều V trong các nước chịu ảnh hưởng của Hindu:

“Thành phố thủ đô của Phù Nam (Funan) trong một thời gian đã là Vyadhapura, thành phố của thợ săn, nằm gần đồi Bar Phnom và làng Banam ở tỉnh Pre Veng hiện tại của Campuchia, page 45 of A History of South-East Asia, D.G.E. Hall”

Nhưng vì VN dùng chữ Hán để viết nên âm V của Hindu lại biến mất trong từ Hán Việt, do đó ít gây ảnh hưởng trong sự hình thành âm V.

“Tại sao đàn bà thường sống lâu hơn đàn ông?” “Tại vì họ không có vợ.Và đây là hình người vợ sắp cưới của tôi” “Chà. Giàu dữ nghen” Một số từ Ấn có V biến thành tiếng Việt khác: vah (great, terrific) biến thành quá, vo biến thành đó tiếng Việt và lớ tiếng Quản Ðông. Do ảnh hưởng Ấn, Khmer cũng có V:

1623 Xin vua Chân Lạp cho lập một sở thuế ở Preikor (Sài Gòn) để thu thuế dân khai hoang. 1674 (Nguyễn Phúc Tần) vua sai tướng đánh phá Sài Côn, Gò Bích (Lovek) và Nam Vang. Sách viết bằng chữ Hán nên chữ V trong Lovek phải ghi bàng âm B. Ðiều đó chứng tỏ hai điều: thứ nhất tiếng Khmer có âm V, thứ hai người Việt khi di dân vào Nam đã có sẵn âm V rồi. Âm V còn xuất hiện xa hơn ta tưởng nhiều, thời Tàn Ðường

3. Ấn Ðộ có V và W
Theo trên, Nguyên Nguyên cho rằng tiếng Ấn Ðộ không có âm V, âm V của họ phát âm như W. Nếu chỉ dựa vào một vài người Ấn thì e rằng không đúng vì Ấn độ có tới 300 tiếng nói khác nhau, tiếng Nam Ấn thuộc loại cổ Dravilian nên có thể không có V nhưng Bắc Ấn thuộc chủng tộc Aryan da trắng từ Trung Á tràn đến, mang theo tôn giáo Bà La Môn với chữ Sanscrit nên có V. Tra một số tự điển do các học giả Tây phương soạn cho tiếng Ấn và tiếng Sanscrit thì ta thấy cả hai có rất nhiều V, cũng có W nhưng rất hiếm, tương tự như các nước Nam Âu. Thí dụ trong tiếng Sanscrit, sawa là lúa hoang trong khi sava là màu xám. Cũng có từ gồm cả hai âm như vishwa vidyalaya là đại học. Họ nghiên về V hơn W nên hầu hết các từ âm W đều trở thành V trong tiếng Ấn như whisky thành visky, wine thành vaine. Tiếng Sanscrit thuộc ngữ tộc Ấn Âu nên chứa rất nhiều tiếng Anh như ava là away. Dài dòng như thế để cho thấy tiếng Ấn có thể là nguồn gốc phát sinh âm V trong tiếng Việt. Có rất ít từ âm V tiếng Ấn còn lưu lại trong tiếng Việt. Thí dụ từ vật không phải chỉ là tiếng Hán mà còn là tiếng thuần Việt. Vật rất khác xa từ wù tiếng BK, tuy gần với từ mat tiếng Quảng Ðông nhưng mat biến thành vật thì hơi khó khăn một chút. Truy cứu sâu xa một chút ta thấy vật rất gần với janvar tiếng Ấn Ðộ. Xin nói rõ thêm, để chỉ vật tiếng Thái là sat, tiếng Khmer là sất, tiếng Mã Lai là haiwan. Vật có thể là do matter tiếng Anh hoặc bête tiếng Pháp mà ra. Trong animal, ani là động và mal là vật do matter. Matter tiếng Ấn là baat cũng gần với vật. Qua các dẫn chứng trên ta thấy vật phải là tiếng thuần Việt mới hợp lý vì đây là từ thông dụng hằng ngày không thể thiếu được. Chẳng lẽ nước nào cũng vay mượn tiếng Tàu hay sao? Thêm một điều quan trọng là vật phát âm với chữ V chứng tỏ V đã xuất hiện khá lâu, trước cả thời Bắc thuộc. Từ vợ thì không biết phát xuất từ đâu vì không có tiếng nước nào phát âm gần giống vợ cả. Chỉ có một từ duy nhất gần với vợ là từ vo tiếng Ấn độ nhưng từ này có nghĩa là tổng quát là nó (she, he, it). Sau đây là chuyện về vợ "Tại sao đàn bà thường sống lâu hơn đàn ông?" "Tại vì họ không có vợ. Và đây là hình người vợ sắp cưới của tôi, đẹp không ?" "Chà. Giàu dữ nghe" Một số từ Ấn có V biến thành tiếng Việt khác âm như vah (great, terrific) biến thành quá, vo biến thành đó tiếng Việt và lớ tiếng Quản Ðông. Tuy thời xưa văn hóa Việt bị ảnh hưởng của văn hóa Ấn Ðộ nhưng ảnh hưởng này bị xóa gần sạch trong thời kỳ Bắc thuộc. Các từ Việt mang âm V phát xuất từ tiếng Ấn Ðộ hầu như biến mất hết mặc dầu tiếng Ấn khác vẫn còn hiện hữu khá nhiều trong tiếng Việt. Khi ta nói cây sai trái, sai là do tiếng Phạn có nghĩa là sai và nhiều, kém là do kam (less), cẳng là do taang (leg), khá là do khaas (major), bé là do betaa (son) hay béti (daughter), kia là do kyaa (what), nhỏ là do chota, khui là khula, trong từ ăn khao thì khao là tiếng Ấn có nghĩa là ăn (eat). Kể cả nụ hôn cũng là từ vay mượn tiếng Ấn, nhưng honth tiếng Ấn Ðộ có nghĩa là cái môi. Xem như thế tuy tiếng Ấn có ảnh hưởng đến sự thành hình của âm V trong tiếng Việt nhưng không phải là yếu tố quyết định vì nhiều nước hiện thời tuy vẫn còn bị ảnh hưởng nặng tiếng Ấn nhưng vẫn không có âm V như Miến Ðiện, Thái Lan, Khmer, Lào. Phải có một yếu tố khác quan trọng hơn. Có nhiều nguyên do để tiếng Việt có nhiều tiếng Ấn Ðộ: Tiếng Việt thuộc ngữ tộc Mon Khmer, ngữ tộc này cùng với tiếng Munda ở Ấn, đảo Nicobas và nhiều tiếng khác tạo thành ngữ tộc Nam Á Austro-Asiatic. Mà tiếng Ấn cổ xưa Sanscrit lại chứa hằng trăm tiếng Munda nên tiếng Việt có tiếng Ấn là việc đương nhiên. Người Việt bị ảnh hưởng của văn hóa Ấn Ðộ như quì một gối trong khi Tàu quì hai gối, ăn trầu, quấn khăn mỏ quạ và cả ngôn ngữ. Nhưng ảnh hưởng này rất khó nhìn thấy vì bị văn hóa Trung Hoa lấn áp, kể cả chữ viết cổ người Việt theo kiểu chữ người Shang, Iran, Irak hình con nòng nọc. Tuy thời xưa văn hóa Việt bị ảnh hưởng của văn hóa Ấn Ðộ nhưng ảnh hưởng này bị xóa gần sạch trong thời kỳ Bắc thuộc. Các từ Việt mang âm V phát xuất từ tiếng Ấn Ðộ hầu như biến mất hết mặc dầu tiếng Ấn khác vẫn còn hiện hữu khá nhiều trong tiếng Việt. Khi ta nói cây sai trái, sai là do tiếng Phạn có nghĩa là sai và nhiều, kém là do kam (less), cẳng là do taang (leg), khá là do khaas (major), bé là do betaa (son) hay béti (daughter), kia là do kyaa (what), nhỏ là do chota, khui là khula, trong từ ăn khao thì khao là tiếng Ấn có nghĩa là ăn (eat). Kể cả “nụ hôn” cũng là từ vay mượn tiếng Ấn; honth tiếng Ấn Ðộ có nghĩa là cái môi. Xem như thế tuy tiếng Ấn có ảnh hưởng đến sự thành hình của âm V trong tiếng Việt nhưng không phải là yếu tố quyết định vì nhiều nước hiện thời tuy vẫn còn bị ảnh hưởng nặng tiếng Ấn, nhưng vẫn không có âm V như Miến Ðiện, Thái Lan, Khmer, Lào. Có nhiều nguyên do để tiếng Việt có nhiều tiếng Ấn Ðộ: Tỉ lệ âm V trong tiếng Việt nhiều hơn trong tiếng Ấn Ðộ, Anh và bằng tiếng Pháp theo thống kê như sau: Ấn độ: 64 / 2520 = 2,5 % Anh : 20 / 1127 = 1,8 % Pháp: 12 / 371 = 3,2 % Việt : 47 / 1476 = 3.2 % BK (âm W): 34 / 1437 = 2,4 %

Lời bàn: Vì mỗi từ tiếng Việt chỉ có một âm tiết hay song âm tiết (Hán Việt) trong khi tiếng Tây Phương đa âm tiết nên tiếng Việt có âm V nhiều gấp 5 lần tiếng Tây Phương nếu thống kê theo mặt chữ. Âm V trong tiếng Việt có thể coi như dẫn đầu thế giới, hơn cả bậc thầy Ấn Ðộ; phải có một yếu tố bất khả kháng nào đó. Xin coi mục 10. Âm răng môi là nguồn gốc của V

Hơn cả V, người Bắc dùng các âm z và Zh nhiều gấp chục lần ngôn ngữ thế giới, ngoại trừ; dĩ nhiên tiếng Tàu.

Tại sao Chế Linh, Quan Lê và ca sĩ miền Trung phát âm R, Tr rất rõ mà ca sĩ miền Nam lại bắt chước người Bắc hát “Zân za zhiến zhường” thay vì “Dân ra chiến trường”?

Hiện nay một số người Bắc, nhất là ở Sài Gòn; nói âm có R và Tr khá rõ, có khi hơn cả một số người miền Nam.

4. Thời nhà Ðường dân Giao Chỉ có thể đã có âm V?
Trong Ðại Việt sử ký toàn thư, trang 190 có ghi "Năm Ðinh Mùi (767 AD) đời Ðường Huyền Tông, người Côn Lôn Chà Bà đến cướp, đánh lấy châu thành. Binh tiếp viện đánh tan quân Chà Bà ở Châu Diên". Côn Lôn là do tiếng Mã Lai poulau có nghĩa là cù lao. Nguyên do tại sao người Chà Bà; cư dân đảo, Java đi thuyền hơn hai ngàn cây số đến đánh chiếm Giao Chỉ thì mấy sử gia không để ý, không thắc mắc, coi như chuyện phải xãy ra. Ðôi khi một chi tiết nhỏ nhặt cũng đủ để ta khám phá một vấn đề quan trọng. Thời kỳ này dân Giao Chỉ đã có âm V nên sách tàu mới ghi là Chà Bà. Họ ghi khá đúng, đúng hơn cả hiện tại vì tỉnh Jarai ở cao nguyên bị Hà Nội sửa thành Gia lai, lý do là người Bắc không nói được âm hở môi; không một địa danh nào ở miền Bắc và Bắc Thanh Hóa có âm R, Tr. Người Gia Rai hay Jrai, là một dân tộc cư trú ở cao nguyên Tây nguyên và một ít ở Campuchia. Người Gia Rai còn có các tên gọi khác là người Jrai, có các nhóm phương ngữ Jrai Chor, Jrai Mơthur, Jrai Hơdrung (Hơbâo), Jrai Tơbuan, Jrai Arap.

Người Gia Rai nói tiếng Gia Rai, một ngôn ngữ thuộc phân nhóm ngôn ngữ Chăm của ngữ tộc Malay- Polynesia trong ngữ hệ Nam Đảo. Người Gia Rai thuộc nhóm chủng tộc Austronesia.

Ngoài ra còn có Giá Rai là một thị xã ở phía Tây tỉnh Bạc Liêu. Hộ Phòng là một phường của thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Hộ Phòng nằm trên ngã ba kênh. Ngày xưa, khoảng 1947 theo cha đi tàu lữa qua Giá Rai, Hổ Phòng nên vẫn còn nhớ tên. Bây giờ bị sửa thành Hộ Phòng theo giọng người Bắc nói dấu hỏi thành họi.

Chà và Ma Ní tí te, Cái bụng thè lè con mắt ốc bu Nếu không có âm V thì Java sẽ trở thành Gia oa như Naga tiếng Ấn độ chỉ rắn trở thành Nữ wa tiếng BK và Nữ Oa tiếng HV. Cũng có thể Java trở thành Gia hoa như Chung Wa trở thành Trung Hoa. Người Nam Dương, Mã Lai, Chàm không có V nhưng địa danh mang âm V vì người Ấn Ðộ thời xưa đã chiếm và cai trị đảo Java. Ngươì Java lặn lội đường biển xa diệu vợi chỉ để đòi lại đất ở Giao Chỉ, điều này thì sử sách không có ghi.

5. Tự điển Bồ La của Alexander de Rhode xứ Avignon xuất bản năm 1621, trong đó có 8.000 từ tiếng Việt dịch ra tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh; có thể coi như là tự điển đầu tiên của chữ Quốc ngữ. Tự điển dùng B để viết những âm V: vốn được ghi là bốn, chót vót là chót bót, vú là bú, blời là trời, bua là vua, plăn là lăn.

Hơn một thế kỷ sau, chữ B được thay thế bởi chữ V ít nhất từ năm 1772 vì trong tác phẩm Thánh giáo yếu lý Quốc ngữ của Bá Ða Lộc viết "Ấy vậy thì lễ....." và tự điển An Nam La Tinh phát hành năm 1868 cũng của giáo sĩ Bá Ða Lộc đã thay B thành V bỏ hết các phụ âm kép đầu từ ML, TL, BV. Vì thế có người cho là tiếng Việt đã bước từ thời Trung cổ sang hiện đại nhờ vào chữ Quốc ngữ và do ảnh hưởng của tiếng Pháp. Ðiều này cần được phân tích kỹ càng vì đây là quan niệm được đa số chấp nhận nhưng chứa rất nhiều điểm sai lầm. Năm 1772 ghi âm V trong sách Bá Ða Lộc lại là năm Tây Sơn bắt đầu vững mạnh và tình thế nhà Nguyễn rất nguy ngập, vì thế chữ Quốc ngữ chưa được phổ biến rộng rãi ngay cả đàng trong, đừng nói chi đến đàng còn ở dưới sự cai trị của vua Lê chúa Trịnh và về sau chịu ảnh hưởng của nhà Mãn Thanh. Chữ Quốc ngữ chỉ có thể truyền bá rộng rãi và nhanh chóng trong dân gian dưới thời Pháp thuộc mà thôi, tức là sau năm 1859. Sau đây là vài cái móc lịch sửû để dẫn chứng: 1859: Pháp chiếm Gia Ðịnh, 1860: Pháp chiếm Sàigòn 1865: Gia Ðịnh báo- Tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra đời 1874: Hoà ước Giáp Tuất: nhường cho Pháp 6 tĩnh Nam Kỳ Năm 1772 dân chúng chưa biết chữ Quốc ngữ thì làm sao chữ La tin lại là nguồn gốc phát sinh ra âm V ở miền Bắc cho được? Chữ Hán và chữ Nôm đang được sử dụng trong sách vở như sách Gia Ðịnh thành thông chí của Trịnh Hoài Ðức (1767-1823) còn viết bằng chữ Hán.

Các dẫn chứng sau đây cho thấy âm V được ghi là B là không đúng vì có nhiều từ có nguồn gốc từ các nước khác có âm nghe gần V hơn là B Vú viết là Bú: Từ này ghi âm sai vì vú là do tiếng BK là jú hay tiếng Mã Lai là su su (cũng có nghĩa là sữa) Vót viết là Bót,: Tiếng Khmer là jut trở thành tiếng Việt là chuốt hay vót Chót vót viết là chót bót: Tiếng Thái là yọt có nghĩa là đĩnh, ngọn Vua ghi thành Bua: do tiếng Thái là yu hủa Thế nhưng tại sao tự điển của Bồ La ghi V thành B. Có nhiều lý do; một trong các lý do là tự điển căn cứ vào chữ Hán, mà chữ Hán vì không đủ âm nên ghi V thành B. Có thể là tự điển ghi âm tiếng một sắc tộc nào đó có cách phát âm gần giống tiếng Việt như tiếng Mường chẳng hạn, vua họ nói là bua và còn dùng phụ âm kép như ML, BL.
Trái lại miền Nam dùng W cho nhiều thứ, thí dụ: "Hôm wa wa nói wa hổng wa mà wa wa. Hôm nay wa nói wa wa mà wa hổng wa vì con Wa khóc wa wa"

Chắc là không hiểu nói gì phải không? Xin tạm thông dịch là "Hôm qua qua nói qua không qua mà qua qua. Hôm nay qua nói qua qua mà qua hổng qua vì con Hoa khóc oa oa" Chữ qua là từ miền Nam thời Pháp có nghĩa là tôi, phát xuất từ “moi”

Ảnh hưởng của tiếng Pháp vào âm V nếu có cũng không mạnh mấy vì một số tiếng Pháp có V khi được Việt hóa, một số giữ nguyên âm như vase biến thành vại, caver thành ca ve, cravate thành cà vạt, áo vest thành áo vết, một số biến thành âm khác như savon thành xà phòng hay sà bông, vagabond thành ma cà rông. Một điều khá mâu thuẩn là miền Nam chịu ảnh hưởng tiếng Pháp nhiều hơn các miền khác sao lại không có âm V? Cách nay vài ngàn năm tiếng Pháp bavard biến thành bacar tiếng Mã Lai, wa (hay nói) và bạ bạ bo bo (điên khùng) tiếng Thái, và ba hoa chích choè tiếng Việt; tất cả đều không có âm V. Con trai được tự điển ghi là blai, trong khi để chỉ male tiếng Thái là pụ chai, Quảng Ðông là nàm jái, Quan thoại là nán hái zĩ (nam nhi tử), và để chỉ trai gái tiếng Shan là sai / nang, tiếng karen là so / nan, tiếng Mon là man / nai, Chin là sai / sai. Làm thế nào mà miền Bắc lại nói con blai không giống ai hết, kể cả tiếng QÐ và BK mặc dầu tiếng Giao Chỉ được sách cổ Tàu xếp hạng giống tiếng Trung thổ Chung Pa, trên cả tiếng Quảng Ðông? Ta thấy trái (cây) được ghi là blái, kế bên có một chữ Nôm tạo thành bởi sự kết hợp của hai chữ Hán, chữ bên trái là guỏ (quả) chỉ nghĩa, đứng sát bên phải là chữ zhái (trái là nợ như trái phiếu) dùng để chỉ cách đọc. Như vậy tiếng Nôm đã chỉ rõ ràng cách đọc là tzái theo giọng Bắc.

6. Lập luận bắt cóc (Abductive reasoning)

Có giảng viên chính Hà Nội cho âm V có nguồn gốc từ Vĩnh gia; thuyết này rất khó chứng minh là sai nên xin ghi ra định nghĩa Lý luận bắt cóc:

Một dạng lý luận khoa học khác không phù hợp với lý luận quy nạp hoặc suy diễn là bắt cóc. Lý luận bắt cóc thường bắt đầu với một tập hợp các quan sát chưa đầy đủ và tiến hành giải thích có khả năng phù hợp nhất cho nhóm quan sát, theo Butte College. Nó dựa trên việc đưa ra và thử nghiệm các giả thuyết bằng cách sử dụng thông tin tốt nhất có sẵn. Nó thường đòi hỏi phải thực hiện một dự đoán được giáo dục sau khi quan sát một hiện tượng mà không có lời giải thích rõ ràng.

Ví dụ, một người đi vào phòng khách của họ và tìm thấy xé giấy tờ trên tất cả các sàn. Con chó của một người đã ở một mình trong phòng cả ngày. Người kết luận rằng con chó xé các giấy tờ vì đó là kịch bản có khả năng nhất. Bây giờ, chị gái của người đó có thể đã mang theo cháu gái của mình và cô ấy có thể đã xé nát các giấy tờ, hoặc nó có thể đã được thực hiện bởi chủ nhà, nhưng lý thuyết chó là kết luận khả thi hơn.

Lý luận bắt cóc rất hữu ích cho việc hình thành giả thuyết để được kiểm tra. Lý do bắt cóc thường được sử dụng bởi các bác sĩ chẩn đoán dựa trên kết quả xét nghiệm và các thẩm phán đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng được trình bày cho họ.

7. Có nguồn gốc từ Vĩnh Gia, Đỗ Tiến Thắng

Bài viết rất khó nhận định là đúng hay sai; xin trích phần có liên quan

“Kể từ công trình đầu tiên về ngữ âm lịch sử tiếng Việt cách đây đúng 100 năm của H. Maspéro cho đến những công trình gần đây nhất, tuyệt đại đa số các nhà nghiên cứu, trong nước cũng

như ngoài nước, đều có kết luận ràng âm vị / v / “xuất thân” (source, origine) từ ba nguồn khác nhau và mãi đến sau thế kỉ 17 (Lời bàn: có nghĩa là V là do tiếng Pháp như Nguyên Nguyên) mới dần dần hòa làm một.

Nguồn thứ nhất là từ */ v /, nguồn thứ hai là từ */w/, nguồn thứ ba là từ */ p / và */ b / của giai đoạn Proto Việt-Chứt, cách nay trên 4000 năm [3, 58 - 62]. (Dấu hoa thị ở đây dùng để chỉ dạng tái lập âm vị hay tiền ngôn ngữ).

-Làng Vĩnh Gia nằm sát sông Mã, cách núi Đọ khoảng 2 km, dân số 4000 người, được cho là có dấu vết cổ xưa của ngôn ngữ Việt.

Một trong ba nguồn này vẫn còn được bảo tồn trong tiếng VG, đó là / b /. Chúng tôi đã tìm được các từ vả, véo, vốc (loại từ, ví dụ một vốc), vũng (nước),vanh/vành (ra), víu và một từ gốc Hán là vái được toàn bộ cư dân VG phát âm là bả, béo/bẹo/bẻo, bốc, bổng, banh/bành, bíu và bái. Có một điều thú vị là qua từ bả ~ vả của tiếng VG, có thể thấy thêm chứng tích từ vựng lịch sử. Trong tiếng Việt toàn dân, các từ vả, tát là khác nhau ở những nét nghĩa cụ thể (không thể nói Tát vào miệng, Vả vào má… ) nhưng trong tiếng VG, từ bả là chung cho cả hai. Ở địa phương này cách nói Bả cho một cấy, Bả vô mặt, Bả đuòm đuọp… mới là “thuần”. còn tát chỉ là cách nói mới. Nhân đây chúng tôi mạo muội cho rằng có một từ bả rất hiện đại (bả ma tít, sơn bả) cũng phái sinh từ từ bả “truyền thống” này.

Ngoài ra ở đây còn có nguồn thứ tư là âm M ở Vĩnh Gia

Những từ này, cho đến hiện nay vẫn được người VG phát âm là mú, mấu, mân (mê), mếu (máo), mằn (mò). Có một lưu ý là từ vấu trong ngôn ngữ toàn dân vẫn tồn tại bên cạnh mấu. Tương tự như vậy, bên cạnh vân vê vẫn còn mân mê; bên cạnh vếu váo, vày vò / vầy vò vẫn còn mày mò / mầy mò”.

Lời bàn:

Từ “xuất thân” ở trên có nghĩa là nguồn, nguồn gốc, source, origine. Nhưng các âm m , b, p không phải là nguồn gốc của v; chỉ có thể nói chúng biến thành v mà thôi.

Tác giả dùng Lý luận bắt cóc để tìm nguồn gốc V, như sau

i) b thành V

- Nhận xét riêng: phát âm là bả, béo/bẹo/bẻo, bốc, bổng, banh/bành, bíu và bái

-tương ứng với v toàn dân: vả, véo, vốc (loại từ, ví dụ một vốc), vũng (nước),vanh/vành (ra), víu và một từ gốc Hán là vái

- Kết luận (Bắt cóc): Phụ âm V có nguồn gốc từ âm vị b ở Vĩnh Gia.

ii)Tương tự cho m thành v

-người VG phát âm : mú, mấu, mân (mê), mếu (máo), mằn (mò), mầy mò

-tương ứng với ngôn ngữ toàn dân: vấu, vân vê, vếu váo, vầy vò

Kết luận(Bắt cóc):: V có nguồn gốc từ âm m ỏ VG.

Lý luận bắt cóc có xác suất đúng không cao, muốn chính xác phải kiểm chứng lại, nên nói v có nguồn gốc từ hai nguồn b và m ở Vĩnh gia là không chính xác. Hơn nữa âm V xuất hiện ở Giao chỉ chứ không phải ở vùng VG thuộc Cửu Chân.

Xin nêu thêm một thí dụ tương tự với lập luận trên:

-Gà ở VN có hai chân

-Kangaroo ở Úc có hai chân

-Vậy Kangaroo có nguồn từ Gà ở VN

Cũng phải biết Logic để tránh bị sai khi nhận định, phát biểu hay kết luận.

8. Thời kỳ âm V xuất hiện

Chữ khoa đẩu cho thấy tiếng Việt chưa bị ảnh hưởng tiếng Hán nên không có âm V, Qu, không phân biệt c và t, n và ng cuối từ, có các âm uơt, quờn chỉ có ở miền Nam và Campuchia nghĩa là giống phát âm miền Nam, vốn không bị ảnh hưởng tiếng Hán.

8.1. Âm V trong thời Bắc thuộc không có âm V. Vậy âm V phải có sau thời độc lập nhà Đinh thế kỷ thứ 9 (968 CN-980 CN)

8.2. Âm V có trước thời Pháp vì miền Nam tiếp xúc với Pháp nhiều hơn miền Bắc vào thế kỷ 16 nhưng không có âm V

8.3. V phải có trước Việt sử lược thế kỹ 14 vì có từ Hùng Vương

8.4.. V phải có sau chữ Khoa Đẩu vì chữ này không có V

Đồ thị thời gian âm V suất hiện:

////////Chữ Khoa Đẩu//////////////Nhà Đinh9------------------- VSL14/////////Pháp16///////

Vậy V xuất hiện khoảng thế kỷ 9 CN-14 CN.

9. Chữ Nôm có V

Muốn biết thời gian xuất hiện của V; ngoài chữ Quốc ngữ, còn có một loại chữ chính xác hơn là chữ Nôm; chữ này cho thấy nhận xét trên không sai.

Phạm Huy Hổ trong "Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?" thì cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ "bố cái" trong danh xưng "Bố Cái đại vương" do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ thứ 8. Ý kiến khác lại dựa vào chữ "cồ" trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt” để cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng (ở thế kỷ thứ 9, thời Đinh Tiên Hoàng; 22 thán 3 năm 924- tháng 10 năm 979).

Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới kết luận rằng âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường – nhà Tống thế kỷ 8-9. Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938.

10. Âm răng môi là nguồn gốc của V

Nhận xét:

- Trong thời cổ phát âm VN chưa có âm V, nhưng có âm nhẹ tròn môi U, W,Y

Chữ Khoa Đẩu cho thấy tiếng Việt chưa bị ảnh hưởng tiếng Hán nên không có âm V; dùng D thay cho V, không có Qu, không phân biệt c với t, không phân biệt n và ng cuối từ, có các âm uơt quờn chỉ có ở miền Nam và Campuchia, nghĩa là giống phát âm miền Nam vốn không bị ảnh hưởng tiếng Hán

- Người Bắc xữ dụng âm răng môi Z, Zh (tr) nhiều nhất thế giới

Ngoài ra còn có thêm các âm “bán răng môi” (chằn miệng): t, n cuối từ; và các âm giọng Bắc

Thí dụ: ănh (giọng Bắc) cắt lan, lănh đănh (lênh đênh), bồng bằnh

-Vì không nói được âm tròn môi nên:

w biến thành v như wương thành vương

y biến thành v như Yun Nan thành Vân Nam

Đồng loạt các âm m,n,p,b biến thành v như (Đổ Tiến Thắng)

-bả, béo/bẹo/bẻo, bốc, bổng, banh/bành, bíu và bái; biến thành

vả, véo, vốc (loại từ, ví dụ một vốc), vũng (nước),vanh/vành (ra), víu và một từ gốc Hán là vái

- mú, mấu, mân (mê), mếu (máo), mằn (mò), mầy mò; biến thành

vấu, vân vê, vếu váo, vầy vò

Lời bàn:

-Như vậy có 6 âm w,y,m,n,b,p biến thành v nên số âm v tăng lên khoảng 6 lần mức bình thường các nước Ấn, Âu

-Cách đếm khác bằng thông kê:Nếu đếm theo từ thì tiếng Việt có V nhiều hơn một chút nhưng vì mỗi từ tiếng Việt chỉ có một, hai âm tiết trong khi tiếng Tây Phương đa âm tiết nên tiếng Việt có âm V nhiều gấp 5 lần tiếng Tây Phương

Tóm tắt: Trong thời Bắc thuộc, VN xữ dụng Hán tự đọc theo âm QT; có các âm W, Z, SH, ZH.

Sau thời kỳ độc lập nhà Đinh thế kỷ 9 CN vài trăm năm, tiếng Hán Việt hình thành; âm W, Z vẫn còn nhưng SH, ZH biến thành S, Z và nhiều âm khác. Vì xử dụng đại trà âm răng môi Z nên không thể phát âm các âm tròn môi W, Y, D, Gi, Qu. Các âm này cùng với các âm p, b, m,n biến thành V; trể nhất vào thế kỷ 14 CN thời Việt sử lược, lần đầu tiên xuất hiện từ Hùng Vương.

8 âm cùng biến thành V thì số âm V nhiều ít nhấ 5 lần tiếng Ấn Âu cũng là chuyện thường như ở phường.

Một cô bạn làm cho chủ Úc một hôm ông này nói

-Tao thấy tiếng Chinese nghe không hay

-Cô bạn hỏi: Vậy tiếng Việt tụi tao thì nào?

-Rất hay

Nói xí xô xí xào như Mao TZe Tung thì làm sao mà hay cho được?

Lời bàn: Tiếng Quan Thoại dùng quá nhiều âm Z, Zh, Sh nên nghe nhiều ù tai; tiếng Đài Loan hay Triều Châu nghe khá hơn.

Tiếng Bắc để phát biểu hay ca nhạc vàng VN thì hay nhưng hát nhạc Rock không giựt gân vì không thể phát ra hết công lực, do xữ dụng đại trà âm răng môi; diễn kịch hay lồng tiếng thì nghe mệt nghỉ vì dùng quá nhiều Z, Zh, V. Tiếng Đại Hàn nói và hát nghe không đến nổi tệ.

Phim tập chỉ lồng tiếng miền Nam nhưng dùng giọng Bắc cho các nhân vật cùng hung cực ác như Mai Siêu Phong, Lý Mạc Sầu trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung; giọng the thé mới sởn tóc gáy, hơn nữa giọng Bắc còn dùng để lồng tiếng người ngoại quốc nói tiếng Việt lơ lớ.

Thầy tôi, cố Gs Roch Cường; người Bắc có bằng Cử nhân văn chương của Pháp, nói tres bien thành tres biên, vì “bien” phải nói “byen” giọng mũi mới đúng; chỉ có miền Nam mới nói được âm này. Hồi học Đại học Sư Phạm, một giáo sư người Pháp; luôn mặc quần short áo ngắn trong mùa đông rất lạnh, chê mấy sinh viên không phải người Nam nói tiếng Pháp sai giọng.

Tôi nói với một thông dịch viên NT Thức: Bà B.Thuận thông dịch tiếng Anh không đúng

Thức: Bà này là PhD Sinh học của Australia thì làm sao tiếng Anh dở được?

Tôi nói : Nói tiếng Anh còn dư âm Bắc, nghĩa là còn hơi hám âm răng môi nên phát âm không thoát được các âm tròn môi.

11.Tại sao chỉ có Anh Mỹ mới có bảng nhạc Rock nổi tiếng?

Nhạc Rock của Pháp êm tai vì dùng từ đa âm tiết dài loòng thoòng, trong khi nhạc Anh Mỹ hầu như chỉ xử dụng từ đơn âm tròn môi; phát ra âm rất to dễ gây kích động.

Thí dụ một câu của bảng nhạc Rock “The day you went away”; chỉ dùng từ đơn âm tròn môi

I never cried

I just watched

My life go by

Thí dụ khác: Câu “Ví dầu cầu ván dưới trăng”

người Bắc dùng âm răng môi “Ví zầu cầu ván zưới zhăng”; phát âm nhỏ chừng một nửa so với người Nam dùng âm hở môi “Dí dầu cầu dáng dưới trăng”

Nhưng không phải to tiếng là hay, trái lại có thể gây trở ngại cho người cần sự yên tĩnh: người Quảng Đông bị người Tàu cho là to mồm nhất Trung Hoa; trong cuốn Người Trung Quốc xấu xí.

Hồi nhỏ mình từ ngoài Bắc vào Nam, thấy các bạn người miền Nam cứ nói "đi 'dzô' " chứ không nói "đi 'vô' ", nên cứ bảo các bạn ấy là nói ngọng.

Vừa rồi mình về Bắc, thấy đàn ông ngoài đó ngồi nhậu họ cụng ly cũng hô "dzô", "dzô", "dzô"...

chứ không phải "vào", "vào", "vào", hay "vô", "vô' "vô"... Hoá ra đó là các bạn miền Nam nói giống các cụ nhà mình cách nay mấy chục thế kỷ hơn.

Lời bàn:

Nói “dô” thì tròn môi nên kêu to còn nói “vào” là âm răng môi; âm thanh nhỏ không phát ra hết công lực. Hơn nữa, thời cổ đã có hò dô ta chớ không có hò vô ta hay hò vào ta; chứng tỏ thời cổ không có V. Bài “Chữ Khoa Đẩu” cho thấy thời cổ đại tiếng Việt không có âm V

Giải thích:

Thời Bắc thuộc do học chữ Hán để thi cử nên quen phát âm Z, Sh hay Zh tiếng Quan Thoại, bởi thế mới có câu “xí xô xí xào như Chệt chìm tàu”; người Bắc nói Tr rất giống Zh

Thí dụ 1: Nhà Châu giết nhà Thương

Zhou sha (sát) Shang

Người VN nói “Nhà Zhâu ziết nhà Thương”

Thí dụ 2:

Whole positive find total water

Toàn thể tích cực tìm toàn bộ nước

Zhěng Zhèng Zhǎo Zǒng Shuǐ

Phát âm rất dễ phân biệt với Quảng Đông và Đài Loan vì dùng âm gió Sh và Zh. Tuy Đài Loan cũng có hai âm này nhưng phát ra gió ít hơn.

Vài trăm năm sau thời kỳ độc lập của nhà Đinh thế kỷ thứ 9 CN, các âm Sh và Zh dần dần thay đổi thành âm S và Z và nhiều thứ khác như dưới đây

Quan thoại thành Hán Việt có V

11.1. V phát xuất nhiều nhất là W, kế đến là Y:

W biến đổi theo thứ tự: W (QT), W (Hán Việt), V (H V)

Wei (QT), wệ (HV), vệ

Wáng, wương, vương

Wu, wật, vật

Yún, wân, vân

Yún Nan, wân Nam, Vân Nam

Yuè, wiệt, Việt

You, wưu, vưu

Lời bàn: Âm V tạo thành do hai nguồn là W, Y; số âm V tăng lên gấp hai lần, hổ trợ thêm bởi các nguồn p, b, m, D, Gi, Qu thì tăng hơn 5 lần.

Ngoài ra còn nhiều biến đổi khác nữa

11.2. j thành c: jiu thành cửu (số 9), jiao thành cước (chân)

11.3. y thành d: yi thành dịch, yê thành diệp, yin thành dân (Bắc nói thành Z:zịch, ziệp, zân)

11.4. y thành i: yan thành iêu (tình), yan thành iết (hầu)

11.5. z thành t, r: zai thành tải, zâu thành trâu

11.6. Zh thành tr: zhu thành trú (ngụ), zhuó thành trọc hay hói

11.7. Sh thành s miền Nam: shuang thành sương, shoãng thành sáng, shoù thành thụ, jiao shou thành giáo thụ tức professor.

VN gọi Professor là Giáo Sư không đúng, nhưng có thể gọi Giáo sư là Professeure tiếng Pháp thì được. Đố các bạn tại sao?

Xin trả lời: Vì người Pháp gọi thầy giáo Trung Học là Professeure hay Maitre, mà Maitre tiếng Anh là Master; trong nước dịch là Thạc sĩ. Các từ nầy được xữ dụng cho Trung học trước, mãi về sau mới đem lên đại học. Anh Mỹ không dùng như thế nên Professor, khác với Professeure; chỉ dùng cho Đại học.

Khi phát âm Z thì răng, môi khép lại nên người Bắc không thể nói được các âm nhẹ hở môi W, Y, D, Gi, Qu, mà phải biến lung tung thành nhiều âm khác như sau

Y thành i: đồng Yen của Nhật thành đồng iên

Y thành Z: Yoga thành Zoga hay i-ô ga

Các từ Anh Pháp biến đổi thành nhiều âm khác nhau

W thanh OA: Hawaii thành Hạ oai di, Nu Wa thành Nữ Oa

Wa thành Hoa: Washinton thành Hoa Thịnh Đốn, Chung Wah thành Trung Hoa

W thành U: Watt thành U-át, Woolworths thành un u-ớt

D, Gi thành Z : dân giả thành zân zả

Qu thành Kw: quả quít phát âm miền Nam thành kwả kwít phát âm miền Bắc; quốc gia miền Nam thành kwốc za miền Bắc.

Vì chưa có âm V nên Văn Lang nguyên gốc là U-ăn Láng hay Wăn Láng. Đó là một trong những lý do mà người Bắc nói rất nhiều âm z, dz và V.

Ða số các âm W và Y tiếng Tàu biến thành V tiếng Hán Việt, vì W rất gần âm V như wãn biến thành vãn, wạn thành vạn, wén thành văn, Wén Lang thành Văn Lang, Washington thành Hoa Thịnh Ðốn. Thực ra viết Wa Thịnh Ðốn thì đúng phát âm hơn như một lá thư Lá thơ từ Wa Thịnh Ðốn, “Con yêu quí, Mẹ viết thư này thật chậm vì biết con đọc nhanh không được. Cha con mới tìm được việc mới dưới tay có 500 người. Nói rõ hơn, cha con cắt cỏ trong nghĩa địa Chung Wa có 500 mộ. Tuần này chỉ mưa có hai lần: mưa lần thứ nhất ba ngày; sau đó bốn ngày.

Nếu cho là miền Bắc có W mà không có V trước khi có chữ Quốc ngữ thì tại sao chữ Quốc ngữ lại không viết " wợ wui wẽ wái wòng wòng wu wơ" ? Thực sự miền Bắc không có âm W nên chữ Quốc ngữ cũng không có. Ðó là lý do tại sao các từ nguyên gốc W bị đổi túi bụi thành Ho, V, Oa, Qu như “Wũ Wén Wòng đi Chung Wa ghé Hawaii” trở thành “Vũ Văn Hoàng đi Trung Hoa ghé Hạ Oai Di”

Đối với phía Nam phát âm U-ăn Láng gần với Urang tiếng Chàm (urang Chăm là người Chàm, người Chiêm, dân Chiêm Thành, người Hời...), ôrang tiếng Mã Lai, Indonesia (Orang utang tiếng dùng để chỉ con đười ươi, Orang là người và utang là già) và arăng tiếng Ê Đê thuộc tộc Chàm.

Vậy Văn Lang là Urang có nghĩa là Người và là tên của người Iu Mien.

J cũng có thể biến thành V như juôt tiếng Khmer thành chuốt và vuốt, jôl thành vô (dô) Không thể có trình tự biến chuyển từ tiếng Hán hay tiếng một nước khác sang tiếng Việt một cách vòng vòng và đồng loạt biến đổi W,Y, J thành B rồi đợi đến thời Pháp thì B thành V. Xác suất toán học không cho phép một biến cố như thế xảy ra thường xuyên.

Ngay cả Việt kiều cũng có chuyện về âm V

Một Việt kiều Mỹ phóng xuống sông Sài Gòn, lôi được một con chó sắp bị chết chìm vào bờ, làm hô hắp nhân tạo và cứu sống được nó. Một chú Pa đang đứng tỏ ý coi thán phục, hỏi: "Có phải nị wet phải không?" "Ờ, tôi là vet bị wet"

12. Người miền Nam nói V thành D,Y

Người miền Nam nói được chữ V nhưng không nói vì thói quen chớ không phải là nói không được, có khi họ nói đúng giọng Anh Pháp hơn là đằng khác. "Không nói không có nghĩa là nói không được"; các miền khác thì "không nói được là nói không được".

Một anh chồng người Bắc than với bà vợ người Nam: Hôm nay lại cái món vi cá vồ! Vợ: Anh thích di cá dồ ngày thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, rồi thình lình anh không thích nữa, tại sao? Anh ban ngày lái Vespa, tối coi vidéo rồi kara ô kê bằng DVD suốt tối sao không chán? Chán quá anh chồng ra quán bia ôm, gặp một cán bộ miền Bắc và một xì thẩu Chợ lớn. Anh chồng kêu: "Cho một L hai G" Hầu bàn: "Một chai La de và hai chai ông già chống gậy, như thường lệ phải không?" Anh chồng: "OK"

Xì thẩu: "Cho ngộ hai P một N" Hầu bàn: "Nị gọi cái gì?" Xì thẩu: "Hai chai pia, một ngầu pín"

Cán bộ miền Bắc thấy thế bèn bắt chước: "Cho tôi 66" Hầu bàn ngạc nhiên: "66 là cái gì vậy?" Cán bộ: "Thì hai chai la dze 33"

Tuy có một số từ nói sai nguyên gốc như “Chà dà ma ní tí te, cái bụng thè lè con mắc ốc bu”; Chà dà là Java, hay “cầu sung dừa đủ xài” (mâm ngũ quả của miền Nam gồm mãng cầu Xiêm, dừa, trái sung, đu đủ, xoài với ngụ ý “cầu sung vừa đủ xài”; nhưng nói được V rất rõ trong tiếng Pháp như vocabulaire (vỏ cá bự lại rẽ), vagabond (va ga bông), va-li, vi la, va ni (vanilla), sơn véc-ni, volt, đi-văng gỗ.

Những từ như TV, video, Vespa ở miền Nam ai cũng đều nói rất đúng; kể cả dân nhà quê, không ai nói Ti Di, Di đê ô, Dết pa. Tại sao?

Đáp: Chỉ là thói quen, hay tại vì tiếng Việt có quá nhiều V; sợ mỏi miệng nên làm biếng không nói.

Vân Tiên cõng mẹ trở ra 
Ðụng phải chà dà cõng mẹ trở dô 
Vân Tiên cõng mẹ trở dô 
Ðụng phải chày dồ cõng mẹ trở ra

Tham Khảo

1. Nguyên Nguyên: Thử tìm lại phát âm chữ V trong tiếng Việt cổ vietgle.vn/diendan/showthread.php?t=45366

2. Hindi &Urdu Phrasebook of Rough Guide Ltd

3. english vietnamese online dictionary

4. A History of South-East Asia, D.G.E. Hall, page 45

5. Tự điển Việt – Bồ La

Jan 1, 2019

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 1- CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2019

CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 1

Trong những giây phút đầu tiên của năm mới 2019, Đặc San TV6370 thân mến gửi đến các bạn TV cùng gia quyến lời chúc một năm mới  an vui, hạnh phúc.




Xin chào tháng 1 – Tháng đầu tiên của năm mới – Tháng của những giọt nắng ấm pha lẫn cơn gió se se lạnh. Tháng bắt đầu bước sang tuổi mới – Niềm Vui mới – Hạnh Phúc mới
Đặc San TV6370 thân mến gửi lời chúc sinh nhật đến 
KIM ĐOAN
NGUYỆT MINH
TRỊNH THỊ HUYỀN
MỸ NGA
MINH PHƯƠNG
TUYẾT MAI
LAN ANH 
LAN TRẦN
MỸ LAN
VÀ CÁC BẠN SINH NHẬT THÁNG 1


                Mến chúc các bạn một ngày sinh nhật thật  ấm áp và hạnh phúc bên gia đình thương yêu.

Hoa Cẩm Chướng là hoa của tháng 1, thân mến tặng  những bông hoa Cẩm Chướng xinh đẹp, hồng thắm như những lời chúc mừng sinh nhật đầu năm đến các bạn thêm tuổi mới được nhiều sức khỏe, hạnh phúc và moị điều tốt đẹp nhất.

Lốc cốc tử PHà cũng tìm tòi được ý nghĩa ngày sinh trong tháng 1, mời  các bạn đọc cho vui trong ngày sinh nhật đầu năm.

Con người sinh ra ở những thời điểm khác nhau, mang những nét tính cách khác nhau, tuy nhiên, mỗi tính cách đều có những điểm thú vị riêng.
Tháng Giêng
Những người sinh tháng Giêng thuộc kiểu người cứng đầu và có một trái tim sắt đá, vì thế họ là con người của tham vọng và luôn nghiêm túc trong mọi việc. Họ thích được chỉ bảo người khác cũng như là được người khác chỉ bảo. Tuy nhiên, những người sinh tháng này lại hay suy xét những sai sót hay điểm yếu của người khác, vì vậy họ cũng rất thích chỉ trích người khác.

 Trong công việc, những người sinh tháng Giêng thường làm việc chăm chỉ và hiệu quả. Họ thật sự là người biết cách làm người khác vui lòng nhưng họ lại là một người trầm tính, ít nói trừ khi họ thực sự cảm thấy vui vẻ hoặc tức giận. Người của tháng Giêng cũng khá bảo thủ nữa. Họ luôn biết cách chăm sóc bản thân, ít khi bị bệnh gì nặng nhưng lại hay cảm vặt.

Ai sinh vào tháng đầu năm đều thuộc tuýp người lãng mạn, nhưng tiếc rằng họ không biết cách biểu lộ tình yêu cho lắm. Họ yêu thích trẻ con, đề cao lòng trung thành, là con người rất biết giao tiếp nhưng lại hay ghen. Còn đối với chuyện tiền bạc thì những người này vô cùng cẩn trọng.
HAPPY NEW YEAR 2019 and HAPPY BIRTHDAY CÁC BẠN