May 7, 2018

NGUỒN GỐC TỪ VĂN LANG - Bài khảo cứu của Giáo sư Đoàn Văn Phi Long


Lời giới thiệu : Giáo Sư Đoàn văn Phi Long là giáo sư dạy Toán tại trường Trưng Vương trước 1975. Sau khi định cư tại Úc song song với việc dạy Toán cho nhiều thế hệ học sinh Việt tại gia, từ năm 1987 Thầy còn bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu về Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Đây là một chương trong khoảng 30 chương của " Nguồn gốc dân tộc Việt Nam". 

Đặc san TV6370 xin cám ơn Thầy Đoàn văn Phi Long đã gửi bài cho, và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn TV và độc giả khắp mọi nơi .


VĂN LANG 

 GS Đoàn Văn Phi Long

Văn Lang là một bài viết khó nhất vì Văn Lang không có trong sử Trung Hoa còn sử VN thì
lại dựa vào truyền thuyết.
Thật vậy tuy chỉ trang bị võn vẹn có mươi cuốn tự điển loại bỏ túi vì ở nơi này sách vở rất
hiếm, thế mà chỉ trong vòng ba tháng là đã tìm được nguồn gốc và ý nghĩa hai từ Giao Chỉ
và Việt, trái lại phải mất ba năm mới tìm được nguồn gốc từ Văn Lang nhưng vẫn mù tịt
không hiểu nó muốn ám chỉ cái gì, và phải mất thêm hai năm nữa mới biết được ý nghĩa
thực sự của nó, nhờ vào dăm ba dẫn chứng. Khám phá thì dễ nhưng nếu muốn được tin
tưởng thì khó hơn nhiều. Do đó phải dùng nhiều phương cách khác nhau để phân tích, diễn
dịch, tổng hợp. Soạn lại sau 15 năm thì số dẫn chứng tăng lên hơn một tá tạm gọi là đầy đủ.

1. Văn lang không có trong cổ sử Tàu
Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt…có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang).
Riêng phía VN, quan điểm về đặc tính của nhà nước Văn Lang rất đa dạng. Có nhiều quan
điểm khác nhau trong đó có quan điểm của GS Hà Văn Tấn cho rằng nhà nước Văn Lang
chỉ là một cái làng lớn (Hà Văn Tấn, Làng, liên làng và siêu làng (Mấy vấn đề về phương
pháp), Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, 1987, in lại trong Một số vấn đề
Lý luận Sử học, Nhà xuất bản ĐHQGHN, 2007); quan điểm của tác giả Nguyễn Minh
Tuấn cho rằng: Nhà nước Văn Lang thực chất là một "nhà nước siêu làng", thể hiện cả ở sự
liên kết giữa làng và nước, chứ không chỉ là sự liên kết giữa các làng với nhau. Theo tác
giả, tính chất "siêu làng" thể hiện ít nhất ở ba khía cạnh: Thứ nhất, về nội dung, nhà nước
mang dáng dấp của một cái làng lớn có tính liên kết mạnh, tính đại diện cao và tính giai cấp
yếu. Thứ hai, về phạm vi và tính chất liên kết, quan hệ làng nước mang tính hoà đồng,
lưỡng hợp, chưa có sự phân định rạch ròi về chức năng, thẩm quyền giữa làng và nước.
Thứ ba, về thời gian, nhà nước Văn Lang dần được hình thành trong một quá trình rất lâu
dài (Nguyễn Minh Tuấn, Nhà nước Văn Lang - nhà nước siêu làng, Tạp chí Khoa học, Đại
học Quốc gia Hà nội, chuyên san Kinh tế - Luật, Tập 23, Số 3, năm 2007). (TK1)
Các sử gia VN còn cho Văn Lang chưa thành lập nước mà chỉ là tổ hợp siêu làng, chả trách
kẻ xấu dựa vào đó để bôi bác rằng Văn Lang không có thật. Xin xem phần cuối.

2. Văn Lang là cau sọc
BNL cho Văn Lang là cau sọc. Trong tiệm thuốc bắc ở Biên Hòa ông thấy văn lang là cau
sọc. Hình ở trống Đông Sơn không phải là lông chim mà là tàu cau.
Nhưng ông nhận theo tự dạng hiện nay Văn Lang là con trai xâm mình chớ không phải là
cau sọc.
Người Tàu biết nhiều thứ, nhưng không thể biết hết. Sự vắng mặt của Văn Lang trong thư
tịch Trung Hoa không có nghĩa là Văn Lang không có. (TK2)
Lời bàn: Đúng vậy, cổ sử Tàu không biết được nhiều thứ như người Tàu không biết mình từ
đâu tới (từ ĐNÁ), tên là gì (Iu Mien), nhà Thương là dân nào (người Thái), nhà Hạ là dân
nào (Iu Mien), dân Dạ Lang thuộc tộc nào (Iu Mien), chữ Hán có nguồn gốc từ đâu (từ chữ
Khoa Đẩu của VN), có nước Văn Lang ở bên Tàu (Dạ Lang, Văn Lang, Việt Lang, cả ba là
từ Human. Xem tiểu mục 5,6). Tộc Văn Lang (Human) có mặt nhiều nơi ở Trung Hoa và Ấn
Độ (xem tiểu mục 10).

3. Văn Lang có trong sử VN xưa
Các nguồn tư liệu thư tịch cổ của Việt Nam hiện đang được lưu trữ tại thư viện quốc gia
như: Lĩnh Nam trích quái, Toàn thư, Cương Mục, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến
chương loại chí, Việt sử lược đều có ghi chép đến thời đại Hùng Vương và kinh đô Văn 
Lang. Đặc biệt là cuốn Việt sử lược nói khá rõ về thời Hùng Vương: " Đến thời Trang Vương
nhà Chu ( năm 696- 682 TrCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các
bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục
thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng
Vương".
Ngoài ra còn có nguồn tư liệu khác rất phong phú đó là các Ngọc phả, Thần tích của các di
tích Đình, Đền, Miếu hiện còn trên địa bàn Việt Trì đều có ghi chép ít, nhiều về dấu vết kinh
đô Văn Lang thời Hùng Vương.
Các nguồn thư tịch không cổ lắm của Trung Quốc như: Thái bình hoàn vũ ký, Việt kiện thư
và Đại Thanh nhất thống chí cũng có ghi chép tư liệu về kinh đô Văn Lang thời Hùng Vương
trên địa bàn thành phố Việt Trì hôm nay.

4. Từ chỉ Người (Human)
Người Hoa Bắc gọi dân Hoa Nam là Man di (Mán dí), man có nghĩa là thô lỗ, ương ngạnh
còn di là rợ. Hoa Bắc ở đây là gồm cả dân Thần Nông, Nghiêu Thuấn, Hạ mà các tộc này
cũng là Việt nhưng phát triển theo một hướng khác với Bách Việt. Man di không phải do
thủy tổ người Tàu Zhou (Châu) hay Jìn (Tần Thỉ Hoàng) đặt ra.
Lúc đầu họ gọi là người Man hay người Human nhưng vì các sắc tộc này rất dữ tợn và
hùng mạnh nên họ rất sợ. Nhà Thương và Châu rất sợ người Khuyển Nhung (Iu Mien),
Khương Nhung (BN Lộc cho là Khmer). Từ chỗ sợ sệt đến ghét bỏ và bôi bác chỉ có một
bước và man di trở thành ương ngạnh, sau cùng là man ri mọi rợ, tương tự như danh xưng
Mọi của người Mường bị người Việt biến thành mọi bù nọn.
Để chỉ người, mọi sắc tộc hầu như chỉ dùng các biến thể của Người từ Man hoặc Human
như Khmer nói m'nu (phát âm rất gần người), người Mon nói manè, Quảng Trị có tộc Nguồn
(theo họ Nguồn là Người), Thái nói Manút, Miến Điện nói lu dà, Khả lá vàng nói R'hui, dân
Bà Na gọi là Bngoai, Sơ Đăng là Bngaai, Gia Rai là Ngaai, Khả Bolooen là P’Nui, Phi Luật
Tân là Mnui, Thái là Muang (âm gần man), tiếng Chàm là urang, tiếng Mã Lai là ôrang, tiếng
Ê Đê là arăng, Triều Châu và Hải Nàm nói náng, H'mong là túa ní, Dao là mien. Man biến
thành rén (nhân) và mín (dân) tiếng BK, dành (dân) và man (nung man là nông nhân) tiếng
QĐ (chứng tỏ dân QĐ còn nhuốm mùi Man tộc).

Có rất nhiều Văn Lang ở Đông Á xin liệt kê dưới đây
5. Dạ Lang là Việt Lang
Dạ Lang 夜郎 (yè láng, nước đen tối).
Trong “ Sử ký -Tây Nam Di Chí” của Tư Mã Thiên ghi lại rằng, trong các bộ tộc Tây Nam,
Dạ Lang có thế lực hùng mạnh nhất, có 100 nghìn lực lượng tinh nhuệ, tàu bè của người Dạ
Lang đi lại trên mặt sông, quanh cảnh hết sức tấp nập. Khi trò chuyện với đại diện ngoại
giao của Tây Hán , quốc vương Dạ Lang xin cho hỏi: “Đời Hán lớn hay là Nước Dạ Lang
lớn?” Lúc đó, Đời Hán thống trị phần lớn khu vực TQ, Dạ Lang nằm trong miền núi xa xôi
hẻo lánh, Nước Dạ Lang không biết thực lực của hai bên có sự chênh lệch rất lớn mà nêu
ra câu hỏi như vậy. Từ đó, “Dạ Lang tự đại ” đã trở thành câu thành ngữ với ngụ ý tự khoe
khoang mình và coi là một trò cười được lưu truyền đến nay, đồng thời cũng trở thành bằng 
 chứng nói lên nước cổ Dạ Lang từng tồn tại cách đây 2000 năm .
Hậu Hán Thư đã lưu ý rằng Dạ Lang đã mở rộng về phía đông đến tận Giao Chỉ (bắc Việt
Nam ngày nay), về phía tây đến Điền quốc (tập trung xung quanh hồ Điền Trì ở Vân Nam),
và về phía bắc đến Cung Đô (ngày nay là Tứ Xuyên). (TK 4)
Từ Yè của Yè Láng có nguồn gốc từ Iu Mien như sau:
Iu Mien – Yuman – Yuen – Yuè (Việt) – Yè (Dạ)
Dạ Lang âm Quan Thoại là Yè Láng đồng âm với Yùe Láng tức Việt Lang
Dạ Lang là tên sắc tộc Iu Mien được chọn làm tên nước và Văn Lang cũng cùng một cách
thức.

6. Nguồn gốc từ Văn Lang
Phải phân biệt hai phía Bắc Nam khi tìm nguồn gốc từ Văn Lang.
Tên người VN trong thời cổ được các sắc tộc miền Bắc gọi là người Keo còn sắc tộc phía
Nam gọi là Yuồn như Mã Lai gọi VN là Yuavan hay Yavana, Chàm gọi là Yuan, Bà Na là
Yuân, Rađê là Yoân, Gia Rai là Yuăn, Stiêng là Yuơn, Mạ là Yen, Mường là Yịt.
Tộc Juang ở bang Odisha đông bắc Ấn Độ, thuộc ngữ tộc Munda trong Nam Á, Juang gần
với tộc Kharia. Tên Juang phát âm tương tự như Yuồn. Xin coi lại “Giao chỉ, Yuồn, Keo”.
Văn Lang là U Rang
Trong thời cổ phát âm miền Bắc VN chưa có âm V, thay vào đó là âm U, W.
Miền Bắc xữ dụng âm Z,V nhiều nhất thế giới hơn cả ngữ tộc Ấn Âu.
Chữ Khoa Đẩu cho thấy tiếng Việt chưa bị ảnh hưởng tiếng Hán nên không có âm V, qu,
không phân biệt c và t, n và ng cuối từ, có các âm uơt quờn chỉ có ở miền Nam và
Campuchia nghĩa là giống phát âm miền Nam vốn không bị ảnh hưởng tiếng Hán.(TK5)
Thời Bắc thuộc âm Sh hay Zh tiếng Quan Thoại biến thành âm Z nặng hơn. Vì phải chạm
răng khi phát âm Z nên quen miệng không thể phát âm được các âm nhẹ W, Y, D mà phải
biến chúng thành nhiều âm khác như Yún Nan biến thành Vân Nam (Y thành V), Yoga
thành Zoga (Y thành Z), Hawaii thành Hạ oai di, Nu Wa thành Nữ Oa, Washinton thành Hoa
Thịnh Đốn, đồng Yen của Nhật thành đồng Iên.
Vì chưa có âm V nên Văn Lang nguyên gốc là U-ăn Láng hay Wăn Láng, tương tự
Woolworth người Bắc nói là Ul-u-ớt.
Đối với phía Nam phát âm U-ăn Láng gần với Urang tiếng Chàm (urang Chăm là người
Chàm, người Chiêm, dân Chiêm Thành, người Hời...), ôrang tiếng Mã Lai, Indonesia (Orang
utang tiếng dùng để chỉ con đười ươi, Orang là người và utang là già) và arăng tiếng Ê Đê
thuộc tộc Chàm.
Vậy Văn Lang là Urang có nghĩa là Người và là tên của người Iu Mien.
Lý giải theo âm Hán Việt
Ở đảo Kalimanta (Borneo) của Indonesia có thổ dân gọi chung là Dayak trong đó có người
Punan (Human) có nước da sáng hơn người Nam Dương, có thể phát xuất từ Đông Nam Á.
Hình dáng của họ không khác gì sắc tộc ở ĐNÁ, cả ngôn ngữ có nhiều điểm giống và phong
tục tập quán củng thế, như đàn bà căng tai thật rộng bằng các hoa tai đồng hay vàng giống
như mọi cà răng căng tai ở Tây nguyên. Họ cũng xâm mặt như dân Khatu hay thổ dân
Maori ở Tân Tây Lan. Palang (âm như Dạ Lang, Văn Lang) tiếng Nam Dương có nghĩa là
lớn, Palangkayara có nghĩa là nơi linh thiên và lớn. Miền Trung Kalimantan còn có thổ dân
Ngju, Ma'anyan có tên tương tự Khatu Khả lá vàng, Mạ ở VN. Punan chính là Human Văn
Lang.
Lý giải theo âm Quan Thoại
Theo âm Quan Thoại Văn Lang là Wén Láng. Wén biến chuyển như sau
 Iu Mien - Iu én - Wuén – Wén (Văn)
Vậy Văn Lang là Iu Mien.
Láng là chức quan, chàng, người. Việt Lang là người Việt, Bạch Lang là người Trắng, Văn
Lang là người rằn ri v.v.
Cả hai cách lý giải đều đưa đến kết luận Văn Lang là Iu Mien.
Người Trung Hoa có nguồn gốc từ ĐNÁ (Xin xem chương “Ý nghĩ từ Việt”) nên Văn Lang có
trước Dạ Lang.
Một Nhà ngôn ngữ hiện đại Việt Nam (modern Vietnamese linguist) đã nối liền Văn Lang,
tên của lãnh thổ vua Hùng, với tiếng gần giống của các sắc tộc thiểu số trong vùng giới hạn
bởi Dương Tử giang và Cửu Long, có nghĩa là “người” (Human), và tổng quát hơn, quốc
gia.

7. Tản Viên là Văn Lang
Trên Ba Vì có nhiều ngọn núi, nhưng nổi tiếng nhất là Tản Viên (còn gọi là Ngọc Tản, Tản Sơn,
hoặc Phượng Hoàng Sơn). Tản Viên có Đền Hùng: Chân núi này có đền Hạ, lưng chừng núi có
đền Trung, đỉnh núi có đền Thượng.
Núi này cao 128m, gần đỉnh thắt lại, đến đỉnh lại xòe ra như chiếc dù nên gọi là Tản (傘) còn
Viên là tròn, Tản Viên là hòn núi giống cái dù tròn. Trên thế giới làm gì có ngọn núi giống
cây dù, nếu có thì đã là một kỳ quan của thế giới rồi. Hình ảnh cho thấy Tản Viên là dãy núi
không có chóp nhọn. Người Mường cũng thờ Tản Viên mà người Mường không ở gần Tản
Viên và ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên tên gọi có thể là phiên âm của tiếng
Việt cổ. Thế nhưng Tản Viên có vẻ không liên quan gì đến Văn Lang, Giao Chỉ, Việt hay bất
kỳ một cái gì quan trọng. Đã nhiều lần nghiên cứu từ Tản Viên nhưng lần nào cũng bỏ qua,
có thể không tìm được điều gì mới mẻ là do dùng tiếng Hán Việt để lý giải.
Trong tiếng Quan Thoại, Tản Viên là Săn Yuán. Từ này phát âm tương tự như Wén Láng
(Văn Lang). Vậy Tản Viên, Văn Lang, Dạ Lang là tiếng Việt cổ có nguồn gốc từ tên Iu Mien.
(TK3)
Từ đây ta rút ra được nhiều chi tiết khá quan trọng: Trước hết sự nghi ngờ Văn Lang là do
đọc lầm Dạ Lang hay chỉ mới nói đến từ thời nhà Đường đã bị đánh tan vì Tản Viên bí mật
hơn Văn Lang, không thể do nhầm lẫn hay nhái theo địa danh bên Tàu. Kế đến Ba Vì và
nhất là Tản Viên là cái rốn của nước Văn Lang. Sau cùng nước Văn Lang đã có vua, đã
thành lập quốc gia, không còn ở trong tình thời kỳ bộ lạc bán khai.
Ba vì, Tam Đảo nằm trong tỉnh Vĩnh Phú, cách nhau chừng 50 cây số và cách Hà Nội cũng
cỡ đó. Ba Vì được giải thích là ba vị thần (có người cho có họ Nguyễn?), Tam Đảo là ba
hòn đảo, mà làm gì có đảo trên đất liền? Hai địa danh này xem ra không phải là tiếng Hán
mà là tiếng Việt cổ hay từ ngoại quốc. Có thể Ba Vì là Patri như quận Ba Tri ở Bến Tre có
ông già gân Ba Tri và Tam Đảo là Kâm Pâo Ar. Điều này chứng minh một bí mật mà các
học giả Tây Phương đã nghi ngờ, đó là trước khi bị đô hộ và chịu ảnh hưởng nặng nề của
văn hóa Tàu, người Việt đã theo văn hóa Ấn Độ cả ngàn năm trước, có chữ viết kiểu con
nòng nọc.

8. Văn Lang là tên có thật (R.A. Stein)
Học giả L.Aurousseau, H. Maspero và Nguyễn Phương bác bỏ rằng nước ta xưa tên là
nước Văn Lang. Bác bỏ chỉ vì sử Tàu xưa không có chép, mà chỉ truyền thuyết của ta xưa
là có kể . Nhưng người Tàu không biết hết mọi chuyện như đã nói ở trên.
Ông R.A. Stein đã công kích hai ông L.Aurousseau và H. Maspero về cái án lầm Văn Lang
thành Dạ Lang. Ông là Linh mục đã đọc hết mọi sách Ta, Tây, Tàu, Nhật, Đại Hàn, Ấn Độ,
La Mã, Hy Lạp, độc cả ngoại thư, sách thuốc, sách bói, thiên văn Trung Hoa và có tinh thần
khoa học nhưng vẫn không thiếu cái phần nhân bản trong việc tìm tòi suy luận nên giải thích
những điều bí hiểm trong cổ thư mà óc duy lý cho là nên vứt đi, vì sách nói chuyện huyền
hoặc.
Từ nhận xét của Stein về hiện tượng một loạt một loạt tên nước ở Hoa Nam có từ Lang:
Bách Lang (Bãi Láng) ở Từ Xuyên, Dạ Lang ở Quý Châu, Việt Lang (Yuè Láng) ở Quảng
Đông và Văn Lang (Wén Láng) ở Việt Nam. Hậu Hán Thư cũng có nói đến một nước Dạ
Lang ở biên giới Cửu Chân và Nhật Nam. Truyền thuyết VN cũng có nói đến một nước Dạ
Lang nhỏ ở bờ sông Mã. Rồi ông R.A. Stein chứng minh rằng trong thời kỳ đô hộ của nhà
Hán có sông Dạ Lang ở nước ta, đó là sông Hằng giang ở Quảng Trị ngày nay. (TK6)

Lời bàn: Tại sao thời cổ ta không biết chữ Hán mà lại viết Văn Lang?
Tên cổ này nguyên thủy được truyền trong dân chúng nhiều đời cho đến thời bị nhà Hán đô
hộ học chữ Hán thì ghi lại cái âm Văn Lang. Rồi trong Việt Sử Lược, cuốn sử đầu tiên ở VN
của một tác giả khuyết danh ghi nước Văn Lang.

9. Người Việt Mường ở bên Tàu
Nước Mi Mọi là Việt Mường
Khi nước Dạ Lang xuất hiện ở Quý Châu thì nước Mi Mọi cũng có mặt. Vì Mọi là Mường và
Mi là Mien trong Iu Mien nên nước Mi Mọi chính là nước Việt Mường và như thế thì người
Mường đã có mặt ở bên Tàu từ thời Bàng Cổ. Trong tiếng Tây Tạng, Mi là người và Mi hay
Mị cũng là họ của dân nước Sở.
Nước Việt Thường là Việt Mường
-Người Mường thời cổ tự xưng là Mwal và Mwai, về sau Mwal nói trại đi thành Mường và
Mwai thành Mọi. Theo Hoàng Văn Chí, người Mường ở Hoà Bình tự xưng là người Mon, ở
Thanh Hoá xưng là người Mọi. Người Mường ngày nay không thích bị gọi là Mường mà chỉ
muốn được gọi là H’mong.
-BNL cho Sở là Mường. Thực sự Sở là Iu Miên.
-Một câu trong sách cổ Tàu ”Ở bên Tàu cái thứ người Mường sống cạnh người Thái, tên là
người Mèo” làm Ông BNL thắc mắc là người Tàu không biết có người Mường mà sao sử
Tàu lại viết về người Mèo là Mường ở bên Tàu.
-Mà Mèo là H’mong nên Mường là H’mong. Mà H’mong chỉ mới tới VN chừng 300 năm còn
thì Mường ở VN vài ngàn năm. Vậy là có mâu thuẫn. Các bạn thấy nhức đầu chưa. Có thể
vì lịch sử rối nùi như thế nên nguồn gốc người Việt không ai tìm ra được. Khi một vài học
giả tin tưởng là tìm được chân lý thì bị lại chứng minh là sai. Và rất nhiều người bỏ cuộc
nữa chừng.
- Mường tiếng QT là Máng 芒,Thường QT là Cháng gần đồng âm với Máng. Vậy Việt
Thường là Việt Mường. Việt Thường sau trở thành Việt Chương (Yuè Zhang).
Đừng lấy làm lạ khi Mường biến thành cháng vì người Tàu không có âm “ương” nên họ
thường thay âm ương thành “ang”. Thí dụ đường thành táng: Đường ăn bắt nguồn từ Văn
Lang rồi truyền sang Lưỡng Quảng thành thoòng, tới Hoa Bắc thành táng, rồi trở lộn lại VN
thành đường táng, còn mè đường tiếng Triều Châu mè xửng. Dân ta không biết ất giáp gì
hết bèn cho là đường phát xuất từ bên Tàu và đường tán Tàu ngon hơn đường Ta!!
Việt Thường ở Nghệ An
Đến cuối đồi Đường một huyện ở Hoan Châu (Nghệ An, Hà Tỉnh) mới được mang một tên
mới, là huyện Việt Thường. Chính Tư Mã Thiên cũng không biết tộc Việt Thường ở đâu nên
chi ông viết là dân ấy muốn về nước phải qua nước Phù Nam, rồi nước Lâm Ấp. (TK2, trang
225 BNL)
Cặp bài trùng Mon-Khmer, H’Mong-Iu Mien, Việt-Mường không phải là thủy tổ của nhau mà
là anh em, có tiếng nói gần giống, thường cư trú cùng một vùng với nhau, khi di cư thì cũng
di dân cùng một lúc nhưng không cưới hỏi nhau, sống chết hoạn nạn có nhau và đã cùng
thành lập nhiều nước rải rác khắp nơi ở bên Tàu thời tiền sử như nước Mi Mọi, Việt
Thường. Người Việt Thường củng có mặt ở Vân Nam. Thành phần người Văn Lang nồng
cốt là người Việt, phụ là người Mường.
Trong Đại Việt sử ký toàn thư ngoại kỷ Nhượng Tống đã chứng minh Lê Lợi là người
Mường. Lê Lợi ở làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiếu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Vậy
là người Mường có mặt ờ nước Cửu Chân. Mà đã có Mường thì làm sao vắng mặt người
anh em Việt?
Phần trên viết từ năm 2003, nay ta hãy kiểm chứng lại xem lập luận có đúng không?
Việt Thường là Việt Mường trong sử Tàu? (TK7)
Việt Thường còn gọi là Việt Thường thị là một quốc gia hoặc bộ lạc cổ đại được nhắc đến
trong một số thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam.
Thư tịch đầu tiên đề cập tới nước Việt Thường là sách “Thượng thư đại truyện”. Theo
"Thượng thư đại truyện", "Hậu Hán thư" và “Tự trị thông giám cương mục”) thì nước Việt
Thường nằm ở phía nam Giao chỉ. Theo sách Việt sử lược Việt Thường thị không phải là
một quốc gia mà là một bộ lạc ở Giao Chỉ.
Đào Duy Anh đoán rằng "Việt Thường" là phiên âm của tên gọi của nước Việt Thường trong
tiếng nước Việt Thường, vì là một cái tên phiên âm nên tên gọi Việt Thường có thể viết
bằng bất kỳ chữ Hán nào có âm đọc giống như vậy. Thời Tây Chu, vua nước Sở là Hùng
Cừ phong cho con trai út của mình là Chấp Ti đất Việt Chương. Theo Đào Duy Anh trong
tiếng Trung Quốc "Việt Chương" và "Việt Thường" đồng âm với nhau, hai cái tên này chỉ là
một, chỉ khác nhau về tự dạng, nước Việt Thường chính là nằm trên đất Việt Chương. Vậy
Đào Duy Anh dùng sử Tàu đã suy ra Việt Thường là Việt Chương nhưng ông không đoán được
Việt Thường là Việt Mường

Theo sách "Thượng thư đại truyện" và "Hậu Hán thư" thì vào năm thứ sáu kể từ khi Chu
Công nhiếp chính Chu Công nhiếp chính người nước Việt Thường đi bằng ba con voi đến
dâng chim trĩ trắng cho Chu Thành Vương Chu Thành vương. Hai bên đều không có ai biết
tiếng của nhau nên phải dùng cách phiên dịch gián tiếp qua ngôn ngữ khác để nói chuyện.
Ca dao Việt Nam có câu:
Tháng năm ngày tết Đoan Dương.
Là ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang

10. Văn Lang (Human) bên Tàu và Ấn Độ
Bảng tóm tắt sắc tộc Austroasiatic (Mon-Khmer) có tên gần với Human hay Văn Lang, Dạ
Lang
 Human ở bên Tàu
HU, U, Rumai (China): Humam
HUNG (Viet Nam)
KON KEU (China)
MAN MET (China): Man, Human
Pu, Pu Man: Bộc, Human
De’ang
Bielie (Bi lãng), Liang (Lang)
Bulang, Blung, Bulung, Man, Bei, BLANG, Palaung, Ta-Ang : Dạ Lang, Văn Lang
LAWA, EASTERN (Thailand): Mon Khmer
LAWA, WESTERN (China): Mon Khmer
Wa: Mon Khmer
PALYU (China)
BUGAN, BHUMIJ, BUXINHUA (China): Pu, Bộc Việt Human
KEMIEHUA (China): Cao Mien
 Human ở Ấn Độ
NICOBARESE, CAR (India): Mon- Khmer
CHAURA, Chowra-Teressa, Cheras (India): Dạ Lang, Văn Lang
PNAR (India): Bà Na
Munda: Man, Human
HO (India): Tho, Chou hay Tsu,Sở
Santali: Văn Lang
TURI (India): Tsu, Sở
JUANG (India): Duồn, Juang
K haria, Khasian, KHASI: Khả
Sora-Juray-Gorum: Tso, Sở
PARENGA (India): Paluang, Dạ Lang, Palang ở Indonesia
Chi nhánh Cheras theo người này thì tên có nghĩa là men. Cheras nghe như Dạ Lang, Văn
Lang nên Cheras chính lá Human.
Nước Sở
Sở tiếng BK là T'su và Tsu là do Hu của Human mà ra.
Tư Mã Thiên viết Dân Sở họ Mị, dân Âu Lạc họ Mị, dân Việt ở Cối Kê họ Tự.
Mị tức là Mi trong nước Mi Mọi tức là Iu Mien H’Mong có nghĩa là human. Điều này chứng tỏ
Sở và Việt cùng chủng tộc Iu Mien và rất gần vì dùng chung từ Hủng. (TK8)

11. Đại chủng tộc Human Văn Lang
Cứ cho là có nước Văn Lang nhỏ bé đi nhưng tại sao sử Trung Hoa lại ghi nước Văn Lang
rất lớn, trải rộng hàng triệu cây số vuông
Theo “Lĩnh Nam chích quái, quyển 1, Hồng Bàng thị truyện thì nước Văn Lang:
-đông giáp Nam Hải, tức biển Đông
-tây tới Ba Thục nằm trên gần nguồn sông Dương Tử tỉnh Vân Nam
-bắc tới hồ Động Đình hồ nằm trên một nhánh của sông Dương Tử thuộc tỉnh Hồ Nam
-nam tới nước Hồ Tôn về sau trở thành nước Chiêm Thành nay là Quảng Nam” ?
Thật ra không có sự lầm lẫn vì Văn Lang nói ở đây là đại chủng tộc Human Văn Lang. Văn
Lang có khi là tên nước như nước Dạ Lang và Văn Lang ta, có khi là tên bộ lạc nhỏ còn sót
lại chừng vài chục ngàn người, có khi là tên gọi chung tất cả chủng tộc Việt, kể cả Bách
Việt. Có nhiều loại Văn Lang như Tứ Xuyên được gọi là Bách Lang, Quãng Tây là Dạ Lang,
Quảng Đông và Việt Nam là Việt Lang. Vân Nam nơi chiếm cứ của tộc Thái cũng có tộc
Human Văn Lang. Cả Cửu Chân tuy là thuộc Phù Nam nhưng cũng có người Việt Mường .
Ngay cả Hoa Bắc cũng có Human.
Human là một từ cổ xưa hơn các từ Giao Chỉ và Việt, xưa cả chục ngàn năm vì Văn Lang
phát xuất từ tiếng Anh Human cho thấy từ này đã hiện hữu từ lúc người Văn Lang còn ở
phía Tây chưa đến được Đông Á.

12. Bắc Tiến
Nước Văn Lang của Hùng Vương rất nhỏ, rộng chừng vài chục ngàn cây số vuông, gồm
các vùng giữa sông Hồng và sông Đà, chạy từ Việt Trì tới Tam Đảo gồm các vùng Việt Trì,
Phú Thọ. Dân Văn Lang không phải do nước Sở, nước U Việt của Việt Vương Câu Tiển,
Mân Việt hay bất kỳ một chủng tộc Việt nào ở sông Dương Tử chạy “Việt dã” về lưu vực
sông Hồng rồi phối hợp với dân Indonesia địa phương trở thành người Việt. Họ là dân cư
trú lâu đời ờ Bắc Việt ít nhất mười ngàn năm, có thể lâu hơn nữa, trước cả dân Việt ở Hoa
Nam và Hoa Bắc. Nói như thế không có nghĩa là họ từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất nẻ
chun lên mà người Human Văn Lang đã di chuyển từ Phi Châu đến Ấn Độ, xuyên qua
Assiam (không lẽ lội biển Ấn Độ hay biết bay?) đến Miến Điện, Thái Lan, Lào,VN. Tại VN,
họ đến định cư ở khu Việt Trì, Phú Thọ, đã đánh đuổi hoặc đồng hóa các chủng tộc cổ khác.
Ở miền Trung họ thay thế người Mã Lai và các tộc Mã Lai cổ này bị dồn lên Trường sơn.
Đến thời kỳ chót của Thời đại băng giá lần cuối cách nay khoảng dưới mười ngàn năm khi
khí hậu trở nên ấm áp, họ lại di chuyển lên phía Bắc định cư ở Hoa Nam, dọc theo sông
Dương Từ sau này trở thành các tộc ờ Lưỡng Quảng, nước Mi Mọi, Dạ Lang, Giao Chỉ, Việt
Thường, Sở, Trịnh, Giang Tây, Ngô,U Việt. Họ còn tiến lên Hoa Bắc ở dọc theo Hoàng Hà
lập thành các nước Hạ (Xia), Đông Việt ở Sơn Tây.
Xin xem “Ý nghĩa từ Việt” của Đoàn Văn Phi Long

13. Tại sao thời đại Hùng vương quá dài?
Vì cho rằng 18 đời vua Hùng không thể cai trị tới hơn hai ngàn năm, 2879 TKN-258 TKN,
nên có học giả điều chỉnh lại, cho Văn Lang bắt đầu từ 500 BC tời 257 BC tức trong khoảng
thời kỳ Trống Đồng Đông Sơn. Đổi như thế tức là công nhận nước Việt chỉ mới thành lập
nước và có nền văn hóa rất non trẻ, khoảng hai ngàn năm trăm năm mà thôi.
Thiên niên sử của Miến Điện chứa nhiều điều lý thú và có giá trị, có nhiều huyền thoại và
chuyện truyền kỳ được các sử gia Tây phương nghiên cứu thật kỹ và so sánh với sử Trung
Hoa và Tây phương để tìm ra sự thật. Ta thấy có sự trùng hợp của thời Tam Hoàng Ngũ Đế
của Trung Hoa, sử Việt và sử người Mon ở Miến Điện. Xin dẫn chứng bằng đoạn dưới đây
rút gọn từ cuốn A History of SEA. (TK9)
Thiên niên sử Miến Điện
“Thiên niên kỷ của triều đại Tagaung ở Bắc Miến Điện ghi ngày tháng các vị vua tối thế kỷ
thứ chín trước Tây lịch. Sử cũng ghi vua đầu tiên của Tharekittara từ năm 443 BC tên
Dwattabaung có hai vợ là em ruột và công chúa naga (rắn). Điều này giải thích đươc tại sao
triều đại có tục lệ hoàng hậu chính phải là em ruột. Triều đại ở Arakanese ghi 54 vị vua của
Dinnyawaddy từ 2666TKN đến 825TKN, tiếp theo 53 vị vua từ đó cho tới 746 AD”
Truyền thuyết VN và Trung Hoa tương tự truyền thuyết người Mon nhất là Phục Hi (xem ở
dưới) giống một vị vua của Mon cũng có hai vợ mà một là em ruột và là rắn thần naga và
cũng bắt đầu từ gần năm ngàn năm trước, xin liệt kê dưới đây
Miến Điện :2666 BC- 825B C
Hồng Bàng: 2879-258 BC
Thần Nông Trung Hoa: (2889 BC- 2696 BC), Ngũ Đế (2697BC- 2200 BC) bắt đầu từ thời
Hoàng Đế. Sử-ký của Tư-mã Thiên coi Hoàng-đế là Quốc-tổ Trung-quốc, không chép về
thời đại Thần-Nông.
Cả ba thiên niên sử phải có cùng nguồn gốc nào đó, chẳng hạn từ Ấn Độ giáo.

14. Việt Sử Lược
Rồi tới Việt Sử lược (lối 1377) bộ sử sớm nhất của Việt Nam còn có tên là Đại Việt sử lược
viết bằng chữ Hán của một tác giả khuyết danh thời nhà Trần còn được lưu truyền cho đến
nay. Tiếp theo năm 1127-1140 sử thần nhà Lý là Đổ Thiên biên soạn lại, sau đó khoảng
năm 1223-1240 sử thần nhà Trần là Trần Phổ hiệu đính lại tác phẩm này thành hai quyển I
và II, đồng thời chép tiếp về nhà Lý làm thành quyển III trong khoảng năm 1377-1388 gọi
Việt sử lược, rồi được Trần Phổ bổ sung thêm đổi tên nó thành Đại Việt sử lược, cuối cùng
trải bao binh lửa thì bị thất truyền, mãi đến thời thế kỷ 18 sách mới được tìm thấy trong thư
khố nhà Thanh.
Trong Việt Sử lược thì hết Lạc vương mà chỉ còn Hùng vương và ý nghĩa chữ Hùng không
theo Nam Việt chí mà là 18 đời Hùng Vương, phỏng theo 50 đời Hùng vua nước Sở.
Nguyên do từ Hùng có trong tên vua Sở và trong tên Đền Hùng, và trong rất nhiều chuyện
truyền kỳ như Thánh Giống đời Hùng Vương 6 và Thục Phán đánh bại HV 18.

Bộ ĐVSKTT bắt đầu được Ngô Sĩ Liên biên soạn dựa vào Đại Việt sử ký của Lê văn Hưu và Phan Phu Tiên.

Như vậy Văn Lang và Hùng Vương đã được đem vào sử dựa vào truyền thuyết và di tích các đền đài lăng miếu. (TK10)

15. Có Âu Lạc nhưng không có Thục Phán

Mỗi giả thuyết nêu trên đều có những chỗ đáng ngờ và chỗ đáng ngờ chung là: Cho tới đầu công nguyên thời Hai Bà Trưng, người Bách Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ Thục của An Dương Vương là một vấn đề nghi vấn, không rõ đây có phải tên họ do đời sau gán cho An Dương Vương hay không. Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương hay họ Thục.(TK 11)

Thiền sư Lê Mạnh Thát

Ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi. Ông cũng tiếp tục đối chiếu sử sách và khẳng định không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương (vì làm gì có An Dương Vương mà đánh!) mà nước ta cũng không bao giờ bị Triệu Đà chiếm. Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm nước ta trong đó cả. (TK12)

16. Bôi bác lịch sử

Hiện nay có nhiều người, hầu hết ở Hà Nội, cho người VN có nguồn gốc từ người Tàu, nước Văn Lang còn ở chế độ làng xã, không có luật nước chỉ dùng lệ làng, không biết cày cấy, chỉ biết săn bắn và đốt nương làm rẫy, không có chữ viết mà chỉ dùng thắt nút. Chỉ xin kể ba người làm thí dụ.

Tạ Đức

Cuốn sách “Nguồn gốc người Việt – người Mường” của tác giả Tạ Đức bị một nhà nghiên cứu “kiện”, đòi hủy buổi giới thiệu sách vì cho rằng có “những kết luận khoa học không đúng đắn như phủ nhận tính bản địa của người Việt và người Mường, coi họ đều từ Trung Quốc sang”.

“Nguồn gốc người Việt – người Mường” bị tạm hoãn, không diễn ra như kế hoạch ban đầu là do PGS, TS Bùi Xuân Đính – Trưởng phòng Phòng Nghiên cứu các dân tộc thuộc Ngôn ngữ Việt – Mường – Viện Dân tộc học Việt Nam – đã có đơn thư “khiếu nại” về cuốn sách.

Trong khoảng thời gian từ 9 – 12/5 (ngay sát ngày dự kiến tổ chức buổi giới thiệu cuốn sách trên), ông Đính đã gọi điện và viết thư đến Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội đề nghị hủy bỏ buổi giới thiệu sách “Nguồn gốc người Việt – người Mường”. Đến ngày 14/5, L’Espace đã quyết định tạm hoãn chương trình trên. (TK13)

Đỗ Ngọc Bích

Mấy hôm nay dư luận có vẻ xôn xao về một bài báo của một người có tên là Đổ Ngọc Bích viết về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam mà cô dùng những từ tương đối trịch thượng và mỉa mai như “mù quáng”, “bài xích”, “rên rỉ”. Lập luận của cô ĐNB có thể gói gọn trong giả định quan trọng này: “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…”, rồi đi từ giả định đó, cô cho rằng những phản ứng của người Việt trước hành động xâm lấn và giết hại người Việt là cực đoan, là mù quáng, gây tác hại hơn là đem lại lợi ích. Có lẽ cái thông điệp ngầm mà cô muốn nói cho người Việt là nên buông tay, quay về với tổ tiên Trung Hoa, và trở thành một huyện hay gì đó của Trung Quốc. Tôi biết cô chưa viết ra điều này, nhưng cái thông điệp đó bàng bạc trong bài viết.

Ấy thế mà BBCVietnamese trịnh trọng giới thiệu cô Bích như sau: “tác giả […] là tiến sỹ về Quan hệ Quốc tế và Hoa Kỳ học, hiện đang giảng dạy Việt học và tham gia dịch thuật các công trình sử học cổ, trung đại của VN tại Đại học Yale, Hoa Kỳ.” Thật ra, ngay cả lời giới thiệu này hình như không đúng. Trong website của Đại học Yale không thấy tên cô Đỗ Ngọc Bích, chứ nói gì đến chuyện cô ấy “giảng dạy” ở đó. Một bạn đọc gửi email cho tôi chỉ ra rằng cô Bích hình như đang theo học PhD ở Hawaii. Website Đại học Hawaii cho biết cô là công dân Việt, từng học ở Hà Nội và đang theo học PhD ở Hawaii: (TK14) -Đố nghe, con gì không đầu không đít, có bụng bự mà rỗng, hể ngừng chạy thì chết, lúc nào cũng to mồm?
-Chịu thua
-Quả lắc đồng hồ

Nguyên Nguyên

Mạng Minh triết Việt (LM Kim Định) viết: Âm mưu xuyên tạc “Huyền sử Tiên Rồng”
Trước “hiện tượng” “Quốc Tổ Hai Giòng Máu”, tác giả chủ trương là KHÔNG có mối LIÊN HỆ nào cả giữa nước Văn Lang và nước Sở hoặc Việt-Câu Tiển.
Trái lại, sau “hiện tượng” nêu trên, thì theo tác giả, người Văn Lang chỉ là HẬU DUỆ của “đám Tàn Quân” của Sở Vương ???!!!

Tác giả viết: “ Bởi thật sự viết lại được ý nghĩa của truyền thuyết dựa trên hiểu biết về văn minh Hoa và Việt, cũng giống như việc thu lại được lợi nhuận sau bao nhiêu năm tốn tiền của và thì giờ, say mê xem truyện tàu, truyện chưởng Kim Dung, phim kiếm hiệp Hong Kong, và những sách vở từ Đông sang Tây đã đọc được và học được từ trước đến nay”. (TK15)

Lời bàn: Lợi nhuận từ đâu có? Nó đây nè:

Putin điện cho Donald Trump:
-Có hai tin một tốt một xấu, you muốn nghe tin nào trước?
-Tin xấu
-Trung Cộng đã chế được phi thuyền khổng lồ.
-Còn tin tốt?
-Họ sẽ chở hết người Tàu lên Hỏa tinh

Đoàn Văn Phi Long

Tham Khảo

1. Văn Lang
vi.wikipedia.org/wiki/ Văn_Lang
2. BNL Nguồn gốc Mã Lai của người VN trang 771-773
3. Tản Viên Ba Vì
Tan vien Bavi nuibavi.com/bavi/Ba-Vi-nui-Tan-Dat-thieng-Xu-Doai.html
4. Dạ Lang www.facebook.com/nclspage/posts/949796678417601
5. Chữ Khoa Đẩu của Đoàn văn Phi Long
6. R.A.Stein trang 773-777 Nguồn gốc Mã Lai của người VN của BN L
7. Việt Thường trong cổ sử Tàu
vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Thường
8. Mon Khmer in China and India
9. Miến Điện: A History of SEA của DEG Hall trang 151
10. Việt Sử Lược vi.wikipedia.org/wiki/Đại_Việt_sử_lược
11.Không có họ Thục hay An Dương Vương
Nghi vấn vi.wikipedia.org/wiki/An_Dương_Vương
12.Thiền sư Lê Mạnh Thát
vi.wikipedia.org/wiki/Lê_Mạnh_Thát
13.Tạ Đức: Hủy bỏ ra mắt sách
Acvdvn.net/2016/10/20/mot-so-thong-tin-xung-quanh-cuon-sach-nguon-goc-nguoi-viet-nguoi- muong/
14.Tuấn blog về Đỗ Ngọc Bích
tuanvannguyen.blogspot.com.au/2010/04/to-tien-nguoi-viet-la-nguoi-trung-hoa.html
15.Minh Triết
Minhtrietviet.net/am-xuyen-tac-huyen-su-tien-rong/

ORGANIC- HANNAH NGUYEN

Add caption


ORGANIC

Hannah Nguyen



          Theo đinh nghia cua Viet Nam tự điển thì Organic là không có phân bón hoá học hay thuốc trừ sâu . Hiện nay người ta có khuynh hướng ăn uống hưởng thụ tất cả những gì thuần tuý của thiên nhiên , nghĩa là hoa lá cành ra sao thì cứ vậy mà ăn , đừng đòi hỏi trái phải to quá hay đỏ đậm vàng khè ...Ăn trái thì tuy nhỏ nhưng có mùi thơm và đặc biệt là ngon ngọt bổ dưỡng . Nếu bạn ăn một quả bưởi Năm Roi nó nhỏ nhưng ngọt lịm thơm mát , hơn là rước một quả bưởi to đùng , bóc ra cho vào miệng ,eo ơi chua hơn chanh ! Rồi cứ thế người ta phải trồng trọt chăn nuôi ra sao để có hoa thơm quả ngọt mà không dùng phân bón hoá học hay thuốc trừ sâu rầy ! Tức là organic


             Sữa cho con nít uống , bố ráng mua sữa bò organic . hũ thì ráng kiếm đậu làm từ đậu nành organic . Thịt bò kobe là loại thịt bò ăn cỏ organic .Gà đồi :là lũ gà thả rông chạy bộ trên đồi kiếm con sâu cái kiến nên thịt gà này chắc và ngon . Có một thứ mà loài người cũng luôn mong muốn là mong có được một thứ tình yêu organic . Cha mẹ yêu thương con cái chẳng cần một thứ xúc tác nào cả , cứ tự nhiên mở lòng ra ban cho không đòi hỏi điều gì . Ông bà yêu thương các cháu , ai có cháu thì biết ...Ừ sao trẻ con diệu kì đáng yêu đến thế ?


            Nó là những búp hoa non, là giọt nước trong vắt, là hạt mầm mới mọc . Tuổi già được vui vẻ sum vầy bên con cháu , thật là có được một thứ tình yêu organic ( tình cho không biếu không ) Ngày xưa bà tôi dạy tôi bài hát ru :


            Bà ơi cháu rất yêu bà
            Đi đâu bà cũng mua quà về cho 
            Hôm qua có chiếc bánh bò 
            Bà chia cho cháu phần to nhất nhà 
            Mỗi lần cháu chạy chơi xa. 
            Mẹ cháu có đánh thì bà lại can 
            Cháu không nói bậy nói càn 
            Bà xoa đầu cháu khen ngoan nhất đời !

 Ở các nước tiên tiến , tức là các nước đang tiến bộ vượt bực , tôi thấy tình yêu rất khó lòng kiếm được thứ tình yêu organic có nghĩa là thứ tình yêu không bị phân bón và thuốc trừ sâu ! Bà này lẩn thẩn - làm gì có phân bón và thuốc trừ sâu cho tình yêu ? - Tôi không lần thẩn đâu . Tôi cho rằng thuốc trừ sâu và phân bón chính là văn minh và tri thức đã làm các thứ tình trở nên vĩ đại và trống rỗng ! - Giàu đổi bạn, sang đổi vợ ! - Con cháu giàu có thành đạt trở nên lạnh lùng với ông bà cha mẹ nay đã già yếu lẩm cẩm ! -Tình gia tộc , đó chính là một thứ tình yêu hoàn toàn organic . Ước mong cõi người ta ai nấy đều rủ nhau kiếm tìm gìn giữ cho được thứ tình cảm đôn hậu này . 


             Mong lắm thay ! 

             Lưu Hảo Chi

May 1, 2018

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 5

CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 5



Tháng 5, mùa hoa Muguet đã trở lại. 
ĐSTV thân mến gửi đến tất cả các bạn sinh nhật tháng 5 những bông hoa Muguet trắng nhỏ xinh xắn  như một lời chúc mừng các bạn thêm một tuổi mới nhiều sức khỏe, hạnh phúc và một ngày sinh nhật thật ngọt ngào bên cạnh gia đình và những người thân yêu.


Thân mến chúc

MỸ TRANG
KRISTY THANH
OANH CHU
VÀ TẤT CẢ CÁC BẠN SINH NHẬT THÁNG 5

Một ngày sinh nhật thật vui vẻ.




Ước mong hạnh phúc sẽ chào đón các bạn mỗi buổi sáng, những nụ cười sẽ làm trái tim bạn hát vang và những niềm vui sẽ đến với bạn mỗi một ngày mới.

Hoa Muguet tiếng Việt là hoa Linh Lan thường mọc ở thung lũng sâu dưới thân những cây sồi hay ven những bờ suối mát. Mỗi cây chỉ có một cặp nhánh mà mỗi nhánh mang theo những chiếc lá thuôn dài với những chùm hoa nở rộ
Những đóa hoa nhỏ trắng, xinh xắn dễ thương và đẹp ngọt ngào này mang ý nghĩa sự trở về của hạnh phúc (the return of happiness - hạnh phúc tìm lại). 
Hoa Lan chuông nở rộ vào tháng 5, mang về những đợt thời tiết ấm áp nên nó tượng trưng cho niềm vui trở lại. 


Có lời một bài hát ngoại quốc về hoa Muguet thật dễ thương, PHà xin được tặng các bạn.

Mùa hoa muguet trở lại
Như người bạn xưa tìm về
Hoa trải dài bờ ke
Tới tận chiếc ghế băng bên hè,
nơi anh ngồi chờ em.
Và anh thấy nở sáng bừng
Trên khuôn mặt em vui tươi
Nụ cười đẹp hơn bao giờ hết.

Mùa muguet ngắn ngủi
Chẳng qua nổi tháng Năm
Những đóa hoa rồi sẽ úa tàn
Nhưng với hai ta, sẽ chẳng gì thay đổi 
Vẫn đẹp mãi khúc ca tình yêu
Ta đã hát trong ngày đầu tươi mới.

Đã hết rồi mùa hoa Muguet
Người bạn xưa đã ra đi mỏi mệt
Tìm lãng quên một năm dài biền biệt
Người để lại cho ta
Một chút mùa xuân xa
Một chút tuổi hai mươi yêu dấu
Để yêu nhau,
Để yêu nhau dài lâu.

HAPPY BIRTHDAY CÁC BẠN .

Apr 10, 2018

ÂM VỊ TIẾNG VIỆT - Bài khảo cứu của Giáo sư Đoàn Văn Phi Long



Lời giới thiệu : Giáo Sư Đoàn văn Phi Long là giáo sư dạy Toán tại trường Trưng Vương trước 1975. Sau khi định cư tại Úc song song với việc dạy Toán cho nhiều thế hệ học sinh Việt tại gia, từ năm 1987 Thầy còn bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu về Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Đây là một chương trong khoảng 30 chương của " Nguồn gốc dân tộc Việt Nam". 

Đặc san TV6370 xin cám ơn Thầy Đoàn văn Phi Long đã gửi bài cho, và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn TV và độc giả khắp mọi nơi .



ÂM VỊ TIẾNG VIỆT

Gs.Đoàn Văn Phi Long


Một trong những phương cách hữu hiệu để tìm nguồn gốc tiếng Việt là xác định được ngữ hệ và các cấu tạo cơ bản của tiếng Việt. Các công trình nghiên cứu tiếng Việt từ xưa chỉ trông cậy vào các học giả Tây phương, nhưng hiện nay họ ít nghiên cứu tiếng Việt vì có thể họ cho rằng người Việt có đầy đủ khả năng và đã khảo sát kỹ càng tiếng Việt.
Thực tế thì trái lại rất ít người Việt chịu khó nghiên cứu nguồn gốc tiếng Việt, nhất là cách cấu tạo cơ bản, vì ngôn học là môn học rất khó hiểu, khô khan, không lôi cuốn được người đọc. Còn nếu có học giả khảo cứu thì thường đưa ra nhiều kết luận không rõ ràng, không phù hợp với các định nghĩa. Bài này có mục đích minh định lại các phần cơ bản nhất của ngôn ngữ, đó là âm vị mà số học giả Việt khảo cứu tiếng Việt còn ít hơn cả người Trung Hoa.

Sở dĩ có bài này là do cách nay một vài năm có đọc trên Internet nước ngoài đăng tải một phát biểu của tiến sĩ ngôn ngữ Hà Nội cho rằng tiếng Việt có 36 âm vị và từ đó đến nay không ai thắc mắc gì cả. Nhận định của nhà ngôn ngữ đã làm tác giả ngạc nhiên vì nếu căn cứ theo nhiều tài liệu Tây phương thì số âm vị này quá ít nếu đem so với tiếng Khmer và Thái. Tiếng Việt là tổng hợp của nhiều thứ tiếng, trong số đó có cả tiếng Mon-Khmer và Thái, nên không thể nào có số âm vị quá khiêm nhường như thế.
Cuốn Thai phrase book & dictionary chi thấy tiếng Thái có 74 âm vị gồm 21 phụ âm, 48 nguyên âm và 5 thanh. Cuốn sách hướng dẫn du lịch Cambuchia cho rằng tiếng Khmer có 57 âm vị gồm 33 phụ âm và 24 nguyên âm. (TK 1)

Ngay cả tiếng Anh tuy là ngôn ngữ đa âm tiết mà cũng có 43 âm vị gồm 13 nguyên âm và 30 phụ âm theo bảng Phoneme Codes, International Phonetic Alphabet (IPA). (TK 2)
Một tác giả khác cho tiếng Anh có 40 âm vị. Vì âm vị rất khó hiểu và khó phân tích nên ngay cả các nhà ngôn ngữ học Tây phương cũng không nhất trí về con số âm vị tiếng Anh, huống hồ là ta.
Vốn không biết một tí gí về ngôn ngữ học và cái ông Tiến sĩ này lại chỉ phát biểu suông, không đưa ra giải thích hay nêu ra bảng liệt kê các âm vị nên không rõ ông ông ta đếm theo kiểu nào để ta có thể phân tích và bàn luận
‘’Cô có biết đã lái hơn 100 cây số một giờ không?”, cảnh sát công lộ hỏi.
“Không thể được”, cô Ký Điệu chống chế.”Tôi chỉ mới rời nhà có hai mươi phút mà”
Như vậy là có ba loại người trong xã hội - người biết đếm và người không biết đếm.
Tuy không có một chút đầu mối nào nhưng muốn tìm hiểu thì không phải là không có cách. Cách dễ nhất là thăm dò những người có thẩm quyền về ngôn ngữ học coi họ có ý kiến như thế nào. 
Đi hỏi một Tiến sĩ ngôn ngữ học VN GS Bửu Khải là tiếng Việt có bao nhiêu âm vị thì được trả lời là có 36, y chang cái ông Hà Nội. Lại hỏi thêm ‘’oi’’trong oi ả có bao nhiêu âm vị thì trả lời là 2. Câu trả lời này cho thấy có một sự khác biệt với ý niệm thông thường của các nhà ngữ học Tây phương. Số âm vị quá ít là do sự đồng hoá âm vị với chữ cái, nghĩa là đập vỡ các âm vị phức tạp thành từng mảnh vụn theo kiểu bắn phá nguyên tử bằng trung hòa tử, một điều mà Tây không làm.
Phương cách khác, không phải bằng cách tra cứu sách vỡ vì sách vở về âm vị tiếng Việt rất hiếm hoi, mà tìm kiếm Vietnamese phoneme trên Internet bằng máy rà tìm Goegle. Có nhiều trạm mạng về Chinese phoneme nhưng chỉ có một bài của ngừơi Việt về âm vị VN. 

Vài bài của người Trung Hoa viết về âm vị tiếng Việt !!!
Bài của tác giả Taiffalo thì khá rõ ràng gồm có bốn bài, nghiên cứu và phân tích âm vị tiếng Việt thuộc, tác giả cũng cho rằng tiếng Việt phát âm miền Bắc gồm có 36 âm vị và phân chia như sau :
19 phụ âm
b , /c/ chết , /d/ (đi), /f/ phở, g , h , /k/ (C, K, Q như quít kia cà), l , m, n , nh , /ng/ (nghi ngờ),
p (pin), /s/ (cả x lẫn s như xứ sở), t, /th/ , /v/, /x / (khí), /z / (gi và r như ra gì)
11 nguyên âm
i /i/ lính biết, đi chịu
ê /e/ ếch hiểu hết
ư / / tư người
ơ /F/ chợ sớm
u /u/ chụp chum
ô /o/ tôi buồn quốc hôm
e /E/ meo
o / / ngon
a /a/ bài làm
ă /ce/ ăn
ay /A/ may phay
Tổng cộng có 36 âm vị = 6 thanh+19 phụ âm + 11 nguyên âm
Cuối cùng rồi cũng tìm ra được đâu là âm vị tiếng Việt. Như vậy là bất quá tam, cả ba học giả gạo cội đều nhất trí về cùng con số 36. Tuy thế nhưng xác suất đúng có thể không cao vì chưa được chọn lựa một cách ngẫu nhiên vì có thể cả ba học cùng một sách vở hay thuộc cùng một trường phái cổ điển, không coi các nhị trùng âm và tam trùng âm là âm vị.
Họ đồng nghĩa âm vị với chữ cái, cộng thêm các dấu ă,â,ô,ơ,ư,ê và 6 thanh thành 36 âm vị.
Phải chăng các nhà ngôn ngữ này có nhận định đúng hơn các nhà ngôn ngữ học Tây phương?
Bài duy nhất của người Việt trên Internet không đề xuất xứ cho rằng tiếng Việt miền Bắc có 44 âm vị gồm có 6 thanh, 22 phụ âm (không có r, tr,s, giống như nhận định của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hoà nói ở dưới), 13 nguyên âm, 3 nhị trùng âm (có nhị trùng âm nhưng quá ít). Vì phần liệt kê bị để trắng nhách không nhìn thấy gì cả nên cũng không có cách gì để phê phán.
Muốn biết các nhận định của người Trung Hoa về ngôn ngữ Việt có chính xác hay không, ta hãy xem người Trung Hoa khảo cứu âm vị tiếng Trung Hoa như thế nào để thẩm định khả năng của họ.

Âm vị tiếng Hán
Một bài khảo cứu rất công phu của Chinese Accademy of Sciences ở Beijing lốt xuống (download) từ Internet cho rằng
-tiếng Trung Hoa có 140 âm vị với thanh sắc (Chinese has 140 phonemes considering tone)
-Tiếng Trung Hoa có 405 âm tiết không thanh sắc (Chinese has 405 syllables without tone (C+V or C+V+Nasal).
-Tiếng Trung Hoa có số âm tiết với thanh sắc khoảng 1300 (Chinese has a limited number of syllables about 1,300 considering tone)
Viện ngôn ngữ BK có nhận định sai lầm là sát nhập thanh sắc vào âm vị chớ không coi thanh sắc là âm vị (Xem phần thanh sắc ở dưới). Vì số âm vị được nhân với 5 thanh nên tổng số âm vị trở thành 140 âm vị, đứng vị trí number one trên thế giới, qua mặt cả tiếng Việt Thái Khmer! Điều này khó có thể là một hiện thực.
Các nhà ngôn ngữ học Trung Hoa định nghĩa âm vị khác, mỗi người một ý. Một học giả khác cho rằng tiếng Trung Hoa có 45 âm vị như sau :
5 thanh không sắc hỏi huyền nặng
25 phụ âm:
b p m f d t n l g k h j q x zh ch sh r x c s @ (th) y w yu
15 nguyên âm:
a o/e ai ei/ie ao ou an en ang eng ong I u u” er
Tác giả coi nhị trùng âm là âm vị. Có sự nhầm lẫn là các âm an, en, ang, eng, ong không phải là âm vị mà là âm tiết. Ang là một âm tiết gồm có hai âm vị a và ng. Như vậy tiếng Trung Hoa chỉ có 10 nguyên âm.
Thay vì có 25 + 15 + 5 = 45 âm vị tiếng Trung Hoa có tổng số âm vị là 25 phụ âm + 1 (ng) + 10 nguyên âm + 5 thanh = 41 âm vị, ở vị trí trung bình.
Con số 41 cũng còn nhiều hơn số âm vị tiếng Việt, một điều khó có thể xãy ra vì tiếng Việt có số âm tiết gắp 20 lần tiếng Hán nên không thể nào có số âm vị ít hơn được.
Muốn biết sự thật như thế nào thì không còn cách nào khác hơn là phải xem xét lại thật cặn kẽ các định nghĩa về nguyên âm và âm vị.

Các định nghĩa cơ bản
Các định nghĩa dưới đây về phoneme, syllable, word được phối hợp và điều chỉnh lại từ nhiều tự điển tiếng Anh. Ngay cả các định nghĩa trích từ các tự điển to tổ bố này cũng không thật chặt chẽ, đâu ra đấy mà thường là để lững lơ như con cá vàng, ai hiểu sao thì hiểu và do đó dễ gây ra ngộ nhận. Sẽ đưa ra định nghĩa
Nguyên âm. Sau đây là vài định nghĩa của nguyên âm từ nhiều tự điển:
*Một đơn vị nhỏ nhất của lời nói có thể làm thành một tiết.
*Một đơn vị nhỏ nhất của lời nói có thể tự thành hình bằng một luồng hơi thở liên tục và cũng có thể, tự mình, làm thành một tiết.
*Tiếng nói tạo bởi sự rung động của dây phát âm nhưng không có sự cọ sát nghe được.
Tóm lại ‘’Nguyên âm là đơn vị nhỏ nhất của lời nói, phát âm liên tục, có thể tự làm thành một tiết’’
Từ oai có bao nhiêu nguyên âm? Các nhà ngôn ngữ học Việt và Trung Hoa cho là có ba nguyên âm là o, a và i nhưng theo định nghĩa trên thì chỉ có một nguyên âm duy nhất vì từ oai phát âm liên tục chớ không bị đứt đọan.
Phụ âm còn được gọi là tử âm (consonant, có nghĩa là hoà hợp tiếng), một tiếng khi thành lập một tiết phải kết hợp với nguyên âm nghĩa là tự một mình nó không thể tạo ra một âm được như các âm t, m, k.
Bán âm là âm nằm giữa nguyên âm và phụ âm nghĩa là phát âm như nguyên âm nhưng phải đi kèm theo nguyên âm. Tiếng Anh có hai bán âm /j/ ( phát âm giống y, như young hay D nhẹ miền Nam) và /w/ (phát âm gần với giống u, như with). 
Tiếng Pháp có ba bán âm là /j/, w và /hui/ như trong huit (tám).
Tiếng Việt có bán âm w như quà (wà, miền Nam) và Y ký hiệu là /j/ đọc như D nhẹ.
Một cán bộ nói joke (dốc) với dân miền Nam 
“Nông trường ở miền Bắc rất rộng, ruộng của công tử Bạc Liêu đem so thì chẳng thắm vào đâu. Công nhân thường thức dậy vào lúc 5 giờ sáng, lái xe cả ngày, tới chiều tối may ra mới đi hết nông trường”
Một nông dân miền Nam suy nghĩ hồi lâu rồi trả lời:”Chúng tôi đôi khi cũng có một chiec xe như thế”
Nguyên âm kép (Nhị trùng âm, diphthong): còn gọi là nguyên âm lướt tức là gliding vowel, một âm thay đổi phẩm chất trong một tiết đơn độc. Âm bắt đầu từ một nguyên âm và chuyển sang một nguyên âm khác. Thí dụ như ấy, oi, hao, biu, hia, toát, ai, tâu, tương. hay tiếng Anh eye (ai).
Nguyên âm ba (tam trùng âm, triphthong) như khuya, tươi, tuyên hay hour (aʊə)
Tiếp tố (Affixation) : prefix tiền tố, suffix hậu tố. Tiếng Việt không có tiếp tố nên ta khỏi mất công khảo cứu.

Âm vị (phoneme): Đây là một trong những từ khó định nghĩa cho thật chặt chẽ và rõ ràng.
Nhiều tự điển Anh ngữ có một định nghĩa khác nhau như dưới đây
*Đơn vị nhỏ nhất của một ngôn ngữ có thể truyền đạt một ý nghĩa cá biệt, như m của mat và b của bat.
*Đơn vị của tiếng nói cá biệt từ đó âm tiết được thành hình.
*Âm vị là tiếng nhỏ nhất (smallest sound) trong ngôn ngữ.
*Đơn vị âm thanh không thể phân tích thành đơn vị nhỏ hơn (mà không làm thay đổi nghĩa của từ.
*Đơn vị nhỏ nhất của tiếng nói trong một ngôn ngữ có thể làm phân biệt hai từ như pan và ban.
*Âm vị là đơn vị nhỏ nhất một đơn vị cơ bản và lý thuyết của tiếng nói của âm có thể làm thay đổi nghĩa của một từ. Tùy theo ngôn ngữ và tùy theo chữ cái, âm vị có thể được viết bằng một chữ cái, có nhiều trường hợp ngoại lệ (nhất là trong tiếng Anh).
*Đơn vị nhỏ nhất của âm trong một ngôn ngữ, và là thành phần cấu tạo tiết, như đơn vị ba thành phần (phụ âm, nguyên âm, phụ âm) mà sự thay đổi sẽ làm thay đổi nghĩa của từ (word), như làm phân biệt hai từ ban và van, chỉ khác nhau bởi hai nguyên âm b và v, và được gọi là âm vị,và ban và bin, chỉ khác nhau ở nguyên âm /a/ và /i/, cũng được gọi là âm vị, tiếng Anh bait là một đơn âm có ba âm vị b, ai (ghi âm là ei) và t.
Vài định nghĩa để lơ lững ai hiểu sao cũng được nên nhiều học giả, ngay cả các tiến sĩ ngôn ngữ học, cũng bị nhầm lẫn để rồi đem phân tích các trùng âm thành nhiều nguyên cơ bản và kết luận tiếng Việt có 36 âm vị và tiếng Tàu có 140 âm vị.
Âm vị được định nghĩa tổng hợp lại như sau:
‘’Âm vị là một đơn vị nhỏ nhất và liên tục của tiếng nói, làm phân biệt các từ, từ đó tiết được thành lập’’

Trùng âm có phải là âm vị hay không?
Cái mấu chốt của vấn đề là ở chỗ các nhị và tam trùng âm là một âm vị hay tập hợp nhiều âm vị.
Trường phái cổ điển không công nhận trùng âm là âm vị.
Trường phái Tây phương coi mỗi trùng âm là một âm vị.
Quan niệm cổ điển không đúng vì các lý do sau đây :
-Nếu chúng ta đã khẳng định các phụ âm kép đầu từ /th/, /ng/, /nh/, /kh/ là âm vị thì sẽ không nhất quán nếu chúng ta không công nhận các trùng âm là âm vị. Phụ âm và nguyên âm đều có tác động như nhau trong sự thành lập âm vị.
-Mỗi âm vị phải được phát âm một cách liên tục, nói khác đi âm vị không thể đập vỡ ra cho nhỏ hơn nữa mà không làm thay đổi nghĩa của từ. Thí dụ âm Ía không thể phân tích thành hai âm Í và a vì như thế sẽ có nghĩa khác như câu
“Cô Thúy uể oải tới Chú Ía hát hò” nếu tách rời các trùng âm thì sẽ có nghĩa hoàn toàn khác hẳn là
“Cô Thú-y ủ-ê o ai ? Tới Chú, í-a hát hò”
-Bây giờ ta hãy dùng lý luận để xem các trùng âm có vị trí như thế nào trong văn phạm. Lấy thí dụ âm ‘oai’ trong từ ngoái là từ, âm tiết hay âm vị?
Rõ ràng oai không phải là từ vì ngoái mới là từ.oai cũng không phải là âm tiết vì ngoái mới là âm tiết.
Còn nếu ta phân tách thành ngó-ai thì từ sẽ có hai âm tiết ngó và ai. Điều này mâu thuẩn với sự thật không chối cải được là ngoái chỉ có một âm tiết. Đó là chưa kể phân tích như thế sẽ làm thay đổi nghĩa của từ, điều này không được làm. 
Không phải là từ, không phải là âm tiết, cũng không thể phân tích ra nhỏ hơn nên oai phải là âm vị, không còn con đường nào khác để chọn lựa.
-Tách rời các trùng âm là trái với quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Tây phương khi nghiên cứu ngôn ngữ Á Châu. Các nguyên âm ghép sau đây đều được coi là vowel hay phoneme : ai, ao, ưa, ia, iu, uay, nguyên âm dài như uu trong tiếng Thái hay ai,ao,ay,oa trong tiếng Khmer hoặc ai,au trong tiếng Indonesia.
Tách rời các trùng âm sẽ làm thay đổi ý nghĩa của một câu nói, tương tự như cách chấm câu.
Một Giáo thụ (Professor) ngôn ngữ học viết một số từ lên bảng
‘’Đàn bà không có đàn ông là con số không’’ rồi ra lệnh cho sinh viên chấm câu cho đúng.
Con trai viết :’’Đàn bà, không có đàn ông, là con số không’’
Con gái viết :’’Đàn bà không có, đàn ông là con số không’’
Đa hệ viết : ‘’Đàn bà không, có đàn ông, là con số không’’
-Cứ cho là các học giả Tây không rành ngôn ngữ Á Châu nên xếp sai các trùng âm vào âm vị đi nữa, nhưng tại sao bốn nhị trùng âm tiếng Anh, tương đương với bốn âm tiếng Việt, đều được đặt trong bảng âm vị ?
Thật vậy theo bảng Amercan English Phoneme Representation thì tiếng Anh có 40 âm vị phân chia ra như sau :
24 phụ âm
15 nguyên âm gồm có 11 nguyên âm đơn (monothongs), 4 nguyên kép (di  /aw/ trong bout, /ay/ trong bite, /yu/ trong butte hay tiu nguỷu, /oy/ trong boy) và 1 untressed âm /er/ như trong banana.
Nếu nhị trùng âm là âm vị thì đương nhiên các tam trùng âm trong tiếng Việt phải được coi là âm vị.
-Nhiều âm tuy ghi giống hệt nhau nhưng đọc khác nên số âm vị phải khác nhau. Thí dụ seatle, vì đọc là si- ê - thầu nên ea có hai âm vị e và a nhưng seat vì đọc là si:t nên ea chỉ có một âm vị.
Tùy theo ngôn ngữ và chữ cái, âm vị có thể được viết bằng một chữ cái nhưng cũng thường được viết bởi nhiều chữ cái như âm vị eau trong beauty tiếng Anh hay iêu trong biêu tiếng   Việt.
Không phải khi viết ba nguyên âm kề nhau như are là có ba âm vị. Âm are chỉ có một âm vị với ký hiệu aI. Bought chỉ có bốn âm vị là b, ao, t và dấu nhấn, gh không tính vào âm vị, theo một bộ tự điển tiếng Anh.

Thanh sắc: Thanh sắc được đo lường bằng tần số (Hz). Cái gì làm cho má khác với má, ma, mã, mả, mạ ? Đó là thanh sắc. Vì âm vị là một đơn vị âm thanh làm phân biệt các từ với nhau nên thanh sắc là âm vị chớ không phải là một thành phần của âm vị như viện ngôn ngữ học Bắc Kinh đã phân loại như trên.
Số thanh thay đổi từ 4 đến 8 như tiếng BK có 5 thanh, tiếng QĐ tự xưng là có 8 thanh, điều này cũng nên xét lại vì nhiều thanh chính người QĐ cũng không phân biệt được. Tương tự chỉ có 50% dân miền Bắc là phát âm đúng hỏi ngã theo một kết quả của một học giả khi phân tích âm thanh của một số người, 50% còn lại phát âm dấu hỏi gần như là dấu nặng, dấu nặng thành lơ lững, dấu ngã gần dấu sắc.
Muốn cho từ ngữ không lẫn lộn thì 5 thanh như tiếng Thái là mức tối đa (làm sao qua mặt được thanh sắc tiếng Thái, được coi như phát xuất ra thanh sắc tiếng Việt và Tàu?), nhiều hơn thì chữ tác đánh chữ tộ, chính ngay dân địa phương còn không phân biệt được thì nói gì đến những người thuộc miền khác, họ nghe không quen thì tưởng là bỏ dấu sai. Khi có nhiều sắc tộc cùng xữ dụng một ngôn ngữ thì ngôn ngữ sẽ từ từ trở nên giản dị, dễ hiểu, dễ phát âm như tiếng BK đã tự động đào thải nhiều âm phức tạp hay tiếng Sanscrit đã giản dị hóa để trở thành tiếng Ấn hiện tại.
Tiếng Mã Lai, Tây Tạng, Mon có âm điệu nằm giữa dấu nhấn và thanh nghĩa là khá quan trọng, không phải là không có cũng không sao như tiếng Anh.
Mẫu tự Latin: Tập hợp 26 âm vị cơ bản nhất gồm có 5 phụ âm a, e, i, o, u và 21 phụ âm, đủ để ghi tòan bộ âm vị tiếng Latin nhưng không đủ để ghi hết tất cả các âm vị của mọi ngôn ngữ.

Số âm vị không căn cứ vào số nguyên âm hay phụ âm. Tổng số âm vị của một ngôn ngữ có thể nhiều hơn hay ít hơn tổng số 26 chữ cái Latin. Một âm vị có thể dùng một hay nhiều chữ cái để tượng trưng.
Từ 26 chữ cái ta có thể ghi hằng trăm âm vị. Từ số âm vị ta có thể ghi hằng chục ngàn âm tiết. Tiếng Hán có 41 âm vị và 1347 âm tiết. Vì chữ Hán ghi âm tiết nên tối thiểu cũng phải có hằng ấy chữ tượng hình. Nhưng số từ cần thiết dùng trong văn hóa kỹ thuật cần ít nhất hằng chục ngàn từ nên không thể tránh được mỗi từ có rất nhiều từ đồng âm. Để tránh từ nọ đọ với từ kia họ phải sáng chế nhiều chữ Hán khác nhau cho mỗi từ đồng âm, vì thế có chừng mười ngàn chữ Hán cho hơn một ngàn âm tiết. Muốn đọc được sách báo phải cần
hơn hai ngàn chữ và mất khoảng bảy năm.

Chữ Quốc ngữ dùng mẫu tự Latin để ghi âm vị và tổng số âm vị tiếng Việt là 81 nên học rất dễ trung bình chừng hai tháng. Làm một con tính ta thấy ngay nếu phải học 2000 chữ Hán thì thời gian là (2000: 81) x 2 = 49 tháng hay 4 năm. Còn nếu phải học 10000 chữ thì thời gian dài gắp năm lần tức 20 năm.
Bỏ ra 20 năm chỉ để học chữ Hán thì hơi phí của. Thời gian dài đăng đẳng này có thể dùng để lấy được mấy cái bằng Tiến sĩ. Thời cổ văn minh Trung Hoa rất xán lạn nhưng dần dần đứng khựng lại trong khi Tây phương phát triển mạnh mẽ, có thể một phần là lối chữ tượng hình, tuy có điểm lợi là thống nhất được nước Trung Hoa nhưng đồng thời một phần nào đó đã ngăn cản sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật.
Để ghi tiếng nói người Nhật dùng chữ chữ Hán và chữ Nhật. Cả hai ghi âm tiết nhưng vì tiếng Nhật chỉ có 140 âm tiết nên chữ Nhật chỉ cần bằng ấy chữ viết.

Tiếng Việt phức tạp hơn nhiều vì có số âm tiết khổng lồ khỏang 18000, tạm gọi là đủ để diễntả mọi sự việc thông thường mà không bị làm khó hiểu bởi từ đồng âm và do đó có thể dùng chữ cái Latin để viết rời từng từ một cách dễ dàng, rõ ràng và gọn ghẽ. Trái lại nếu ta dùng chữ Hán để ghi tiếng Việt thì sẽ gặp muôn vàn khó khăn, như chữ Nôm chẳng Hạn khó học khó nhớ hơn cả chữ Hán vì phải nhớ tới 18000 chữ khác nhau.
Ngôn ngữ có thể có từ 2 tới 25 nguyên âm, và 5 tới 100 phụ âm (độ chừng, có ai biết chính xác là bao nhiêu không?). Tổng số âm vị trong mỗi ngôn ngữ thay đổi từ ít nhất là 11 trong tiếng Rotokas (Papa New Guinea), 12 trong tiếng Hawaiian tới nhiều nhất lên đến 141 của bộ lạc !Xu ở Phi châu. Xin kể thêm vài trường thái quá như có:
2 nguyên âm trong vài phương ngữ của tiếng Abkhaz
3 nguyên âm trong nhiều tiếng dân da đỏ Mỹ châu, Á Rập hay Úc đen
25 nguyên trong tiếng Punjabi
6 phụ âm trong tiếng Rotokas
Hơn 100 phụ âm trong tiếng Xu
Ta thấy có sự tương tự giữa Vật lý và ngôn ngữ. Phân tử, nguyên tử và hạch nhân tương ứng với từ, âm tiết và âm vị. Từ gồm một hay nhiều âm tiết giống như phân tử cấu tạo bởi một hay nhiều nguyên tử. Nguyên tử có thành phần là hạt nhân tương ứng âm tiết có thành phần là âm vị.

Tưởng cũng nên lập lại vài định nghĩa để dễ bề so sánh :
Phân tử (molecule) : mãnh nhỏ nhất (thường là một nhóm nguyên tử) của vật chất được làm cho nhỏ hơn bằng cách phân chia mà không làm thay đổi đặc tính hoá học.
Nguyên tố (element) : Chất không thể phân giải được thành chất đơn giản hơn bằng phương tiện hoá học.
Nguyên tử (atome) : phần tử nhỏ nhất của nguyên tố hoá học hay là phần nhỏ nhất của vật chất không thể chia nhỏ hơn nữa bằng phương tiện hoá học.
Hạch nhân (nucleus) : Hạt nằm ở trung tâm nguyên tử gồm có proton và neutron. 
Âm vị là cái mầm, cái lỏi, cái cốt lỏi, cái cùi, cái ngòi, cái hạt nhân hay hạch nhân của tiếng Việt. Và cũng giống như sinh vật, mọi sinh vật ngoài một số gen riêng biệt còn có một số gen chung với các giống khác. Ngôn ngữ cũng thế, kể cả tiếng Việt, ngoài một số từ riêng tư cho từng ngôn ngữ còn có một số từ chung cho toàn thể tiếng nói của nhân loại. Tiếng Việt chứa nhiều tiếng Anh từ thời tiền sử cũng là chuyện thường tình, không có mới là quái lạ.
Nếu DNA có thể được dùng để tìm nguồn gốc người Việt thì ngôn ngữ cũng rất hữu dụng trong công cuộc truy cứu gốc tích người Việt nói riêng và Bách Việt nói chung. 
Allophone (âm vị giống) là biến thể của âm vị. Allophone của miền này có thể là phoneme của miền khác. Ch và Tr là allophone của miền Bắc nhưng là phoneme của miền Trung và Nam. Tương tự n và ng cuối âm tiết là âm vị miền Bắc nhưng là allophone của miền Nam.
Câu ‘’Chị Lan than thở trên thang’’ nếu ở miền Bắc thì trở thành ‘’Chzị Lan zầu zĩ than thở chzên thang’’ còn miền Nam sẽ là ‘’Chị Lang rầu rỉ (dấu hỏi) thang thở trên thang’’
Morpheme (hình vị) là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa (a word or meaningful part of a word for instance 'the', 'speak' or the 'en' of 'spoken') như là một cơ bản (base), tiền tố hoặc hậu tố.
Một từ có thể chứa hơn một hình vị. ‘Unable’ có thể chia thành hai hình vị- tiền tố ‘un’ và  ‘able’, trong khi đó ‘mahogamy’ không thể chia nhỏ được nữa.
Tiếng Việt không có tiếp tố nên không có hình vị và mỗi từ đa số chỉ có một âm, ngoại trừ một số ít từ đa âm tiết như sa-vông, lông bông, cà nhổng, ba ba.
Vì ngôn ngữ học rất rắc rối và khó hiểu nên ít người chú ý tới và do đó số học giả ngôn ngữ học rất hiếm, đếm được trên đầu các ngón tay của một bàn tay. Nếu người nào để ý nghiên cứu thì lại hiểu vấn đề một cách lộn xộn, kể cả những nhà ngôn ngữ học. May ra thì mấy nhà toán học mới hiểu thấu mọi gút mắc của vấn đề nhưng mấy ông này còn lâu mới rớ tới vì đâu phải là nghề của chàng. Mà có muốn cũng không được.
Sau khi đã trang bị đầy đủ các định nghĩa thì bây giờ là lúc ta thẩm định lại số âm vị tiếngViệt. 

Âm vị tiếng Việt
Nếu ta theo đúng định nghĩa Tây phương về âm vị và phân tích theo các nhà ngôn ngữ Tây phương về nguyên âm thì tiếng Việt có rất nhiều âm vị. Xin liệt kê âm vị tiếng Việt phát âm miền Bắc như sau:
6 thanh điệu: không, sắc, huyền, hỏi, nặng, ngã
20 phụ âm :(ký hiệu phát âm được ghi trong hai gạch / /, nhưng để giản dị, không ghi ký hiệu nếu phát âm trùng với chữ cái).
B, /K/ (C vàK), /Chz/ (CH và Tr miền Bắc), /d/ (Đ), /G/ (G và Gh), H, Kh, L, M, N, Ng (Ngh),
Nh, P (Phụ âm đầu từ P là âm cổ nay dần dần phục hồi trở lại như pông sô, pia nô, pin),
/Kw/ (Qu như quít), /F/ (Ph), T, Th, V, X, /Z/ (D, R, Gi miền Bắc).
Miền Nam có thêm 7 phụ âm Ch, Tr, R, S, J (như Jarai, jăm bông, ăn jơ), Y (Y, ghi âm quốc tế là /j/, là phụ âm đầu từ D nhẹ miền Nam và dùng cho các từ ngoại quốc như đồng Yen, ya ua, yo yo, yoga), W (Qu, oa, Hoa), nhưng không có âm Chz, Z, Kw, V.
Tổng số phụ âm của phát âm miền Nam là 20 - 4 + 7 = 23.
Tổng số phụ âm cho mọi phương ngữ là 20 + 7 = 27
Nguyên âm
▪11 nguyên âm đơn (monothong): a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư
▪28 nguyên âm kép (diphthong, nhị trùng âm) : ai, ay, ây, ao, au, âu, eo, êu, ia, iu, iê, oa, oă,
oe, oi , ôi, ơi, ua, uâ, uê, ui, uô, uy, ưa, ưi, ươ, ưu, ia.
▪9 nguyên âm ba (triphthong, tam trùng âm): iêu, oai, oay, uây, uôi, ươi, ươu, uya, uyê

Tuy tên gọi là tam trùng âm nhưng nhiều khi chỉ là nhị trùng âm dài. Thí dụ như uôi là uui, ươi là ư ư i,ươu là ưưu.
Tổng số nguyên âm là 11 + 28 + 9 = 48
Miền Bắc có 6 thanh +20 phụ âm + 48 nguyên âm = 74 âm vị, bằng với số âm vị tiếng Thái.
Miền Nam có 5 thanh +23 phụ âm + 48 nguyên âm = 77 âm vị,
Tiếng Việt chung cho mọi phương ngữ có = 74 + 7 = 81 âm vị.
Đến đây ta mới thấy sự khó khăn và tài tình của các nhà tiền phong khi sáng tạo chữ Quốc ngữ. Họ phải suy nghĩ nhiều cách để cả ba miền cùng xữ dụng một thứ chữ nhưng có thể đọc theo phát âm của mình, tương tự như Hán tự dùng cho mọi sắc dân Trung Quốc.
Các ca sĩ trẻ nước ngoài phát âm Ch thành Chs tương tự như âm Ch tiếng Anh, nghe rất kỳ lạ và ngộ nghĩnh y như Mỹ nói tiếng Việt, lơ lớ giọng mũi.
Liệt kê các âm vị rất khó khăn nên mỗi người một ý kiến. Như Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Đình Hòa trong ‘Tiếng Việt không son phấn’ cho tiếng Việt gồm mọi phương ngữ có 22 tử âm, thể theo một bài lấy từ Internet ‘’Đáng lưu ý là bảng liệt kê 22 âm vị tử âm (consonant phonemes) dùng trong mọi phương ngữ Việt Nam -- bằng ký hiệu như /b-/, /f-/,/z-/, vân vân -- có thể đứng đầu các âm tiết, cùng với những chữ cái trong mẫu tự Việt được dùng để biểu hiện những âm vị này. Thí dụ, âm vị /k-/ thường được biểu hiện bằng những
chữ cái c-, k-, q- (con cá, cái kim, quả cam) (trang 20). Biểu đồ của 6 thanh điệu (trang 20) cho người đọc thấy rõ độ cao thấp cùng với đường uốn lượn của từng thanh điệu’’
22 phụ âm là gồm cả R, Tr, S.
Không ghi ra nguyên âm nên không biết GS cho biết có bao nhiêu nguyên âm.Ch và Tr ở miền Bắc hơi nặng phát âm thành chz, không có âm J nhưng có âm nặng hơn Gi. Vì thế các âm J đều bị thay thế bởi âm Gi như Jarai, Java, jăm bông, nạc jăm biến thành Gia Lai, Gia va, giăm bông, nạc giăm.
Gi không phải là một âm gồm hai âm vị G và I mà là một vị duy nhất /z/. Âm Gi có nguồn gốc xa xưa từ âm /ji/ tiếng Hán, ngày nay chỉ một số nhỏ đọc đúng Gi, còn đa số đọc là /z/ nên ta có thể cho nhập chung vào âm vị /z/.
Tương tự Qu không phải tạo thành bởi hai âm vị mà là một âm vị duy nhất /kw/ , khác biệt với âm vị /k/ (phụ âm c). Quả cam không phải là /k/ủa cam -vì như thế sẽ đọc là của cam mà là /kw/ả cam. Tương tự quốc là /kw/ốc chớ không phải là /k/uốc vì như thế sẽ đọc là cuốc (xuổng). Sở dĩ các nhà tiền phong không dùng Kw mà dùng Qu để ba miền đều đọc được theo đúng phát âm của mình. Qu đọc là /kw/ như trong từ quit tiếng Anh. 
Tiếp theo là nói về nguyên âm.
Để tiện so sánh xin ghi lại (pâ là phụ âm, nâ là nguyên âm) các nhận định của Tiến sĩ: 6 thanh +19 pâ+11 nâ đơn= 36
Bài Internet: 6 thanh +22 pâ+ 13 nâ đơn+ 3 nâ kép = 44
Tiếng Thái: 5 thanh +21 pâ +48 nâ =74 âm vị
Tiếng Khmer: 33 pâ + 24 nâ =57 âm vị
Tiếng Anh: 24 pâ+11 nâ đơn+4 nâ kép+1 untressed âm= 40 âm vị
Tiếng Việt: 6 thanh+23 pâ+11nâ đơn+28 nâ kép+9 nâ ba= 81 âm vị
Số âm vị phù hợp với dự đoán là tiếng Việt phải có số âm vị bằng hay nhiều hơn số âm vị tiếng Khmer (57) hay tiếng Thái (74) và nhiều hơn hai lần tổng số 36 âm vị do các nhà ngôn ngữ học Việt và Trung Hoa gán cho tiếng Việt. Tiếng Việt có ít phụ âm nhưng có rất nhiều nguyên âm. 
Miền Nam tuy có âm vị nhiều hơn miền Bắc nhưng có ít âm tiết hơn vì không phân biệt được các phụ âm cuối từ như lan với lang, tiếc với tiết, hoa với qua và oa.
Nếu kể thêm nhiều phụ âm kép đầu từ Bl, Dr, Pl, Fl, Fr, Ge đã được áp dụng vào khoa học kỹ thuật hoặc trong các từ Việt hoá như blốc nhà, dra trải giường, Pleiku, platin, miếng plắc mạ vàng, fluor, Freon, bẹt gê, gen nhiểm sắc thể, mà thời tiền sử đã từng hiện diện trong tiếng Việt thì tổng số âm vị tiếng Việt còn cao hơn nữa, gần con số 90. 

Nhưng thôi, như thế là quá đủ để chứng minh số âm vị tiếng Việt trội hẳn số âm vị mà các nhà ngôn ngữ học Ta và Tàu đã gán cho tiếng Việt.
Nếu đếm theo kiểu Trung Hoa tức là nhập thanh sắc vào âm vị thì tổng số âm vị tiếng Việt là (81- 6)x 6 = 450. Số này quá cao, và không ai đếm lọa kỳ như thế. Xem ra thì ngôn ngữ học rất khó hiểu nên ngay cả viện ngôn ngữ học cũng sai lầm như thường.
Một số câu hỏi mà thầy giáo không muốn gặp :
-Tại sao âm học không đánh vần theo cách phát âm như Y được ghi âm là /j/ ?
-Tại sao monosyllabic chỉ từ đơn âm sao lại có 5 âm tiết ?
-Tại sao Đề li 24 giờ, 365 ngày một năm mà lại có ổ khoá ?
-Tại sao vô giá trái ngược với vô giá trị hay không giá?
- Nếu xe chạy nhanh bằng tốc độ ánh sáng, cái gì xãy ra nếu ta vặn đèn sáng lên ?

Âm R trong tiếng Việt cổ 
Có người cho miền Bắc thời cổ không có âm R. Nếu không xem xét kỹ ta thấy nhận xét này không phải là không có lý vì các ngừơi bạn láng giềng như Lào, Miến Điện và mọi loại người Tàu đều không có R.
Thực sự thời tiền sử người Văn Lang đã phát âm R, có thể giống âm R của phát âm miền Trung hay âm R của Khmer, hơi khác với miền Nam. Ở miền Trung âm khi phát ra âm R thì lưỡi chạm vào bên trên phía trong, phát âm lăn tròn (rolling) gần âm R tiếng Anh còn miền Nam thì lưỡi ở phía ngoài gần âm R tiếng Pháp. Âm R Khmer thì lưỡi run động nhiều hơn.
Âm R Miền Bắc bị biến mất là do ảnh hưởng phát âm Bắc Kinh. Thật vậy có nhiều từ cổ miền Bắc vay mượn tiếng Mã Lai có âm R như co ro tiếng Mã Lai dùng để chỉ con rùa, rông chơi là do ronda tiếng ML, rổng là do rongga tiếng ML và râng tiếng Khmer.
Cứ cho là người Việt thời tiền sử không có âm R và sau đó đã vay mượn tiếng ML từ thời Văn Lang đi, nhưng ta không thể giải thích được tại sao lại có những từ trùng hợp với tiếng Khmer mà ta chỉ mới tiếp xúc với họ từ thế kỷ 17, như ruồi là do ruôi và rượt là do rươt tiếng Khmer? Còn nữa, tại sao có nhiều từ trùng với tiếng Mon như rồi là rà, mưa rào là pròa mà ta không bao giờ tiếp xúc với họ. Chỉ có thể giải thích là tiếng Việt có âm R từ thời tiền sử và tiếng Việt có liên hệ với tiếng Mon Khmer và Mã Lai. Âm R bị biến mất dưới thời Bắc thuộc
vì vùng Hà Nội bị ảnh hưởng nặng nề của phát âm Bắc Kinh. Và không phải mọi người Bắc đều không nói được R. Có nhiều vùng miền Bắc xa trung ương dân chúng nói ra R khá rõ, có khi còn rõ ràng hơn cả miền Trung và Nam.
Điều đáng chú ý là âm R hầu như hiện diện trong mọi ngôn ngữ chỉ trừ ngữ tộc SinoTiberto, Lào và miền Bắc. Tiếng Thái trên nguyên tắc có âm R nhưng người Thái thường nói thành L. Lý do là một số người Thái từ Vân Nam tràn tới Thái Lan chiếm đất của người  Mon Khmer vào thế kỷ thứ 13 không có R như người Lào. Phát xuất từ bên Tàu thì đương nhiên không có R. Còn người Thái cũ hay có học Phạn ngữ, cùng với người Mon và người Khmer gần ranh giới Campuchia thì có R. Các tiếng nói thuộc ngữ tộc Sino-Tiberto như tiếng Tàu (mọi loại), tiếng Tây Tạng và Miến Điện đều không có R nhưng lại có âm Z, tương tự như phát âm miền Bắc.

Ngữ hệ tiếng Việt
Như vậy có phải là tiếng Việt thuộc ngữ tộc Sino-Tiberto như vài học giả đã và đang đưa ra giả thuyết này?
Nếu cho là không thì tại sao một số âm miền Bắc lại gần với phát âm Hán Tạng? Câu trả lời là sỡ dĩ phát âm giống tiếng BK là do bị ảnh hưởng tiếng BK cả về từ ngữ lẫn phát âm.
Các âm R, Tr và cả các âm W, phụ âm đầu từ Y, Dr, Pl, Pr, Fl, Fr và nhiều phụ âm phức tạp đầu từ khác đã hiện hữu trong phát âm người Văn Lang, nhưng dưới thời đô hộ các âm trên đã bị âm Hán lấn áp. Cửu Chân và Nhật Nam ít bị ảnh hưởng nên vẫn còn giữ được âm R, Tr như ta đã thấy.
Có rất nhiều giả thuyết về ngữ hệ tiếng hệ, không có giả thuyết nào đúng mà cũng không có giả thuyết nào hòan tòan sai hẳn.
Tiếng Việt không thuộc ngữ hệ Hán Tạng nghĩa là không có nguồn gốc Trung Hoa vì nhiều lý so như sau :
-Tiếng Việt có số âm vị gần với tiếng Thái và Khmer hơn là tiếng Hán.
-Mặc dầu tiếng Việt có chứa hơn phân nửa tiếng Hán Việt nhưng các tiếng Nôm lại trùng với ngữ tộc Mon-Khmer và Thái hơn.
-Phát âm miền Bắc tuy gần giống phát âm BK, nhất là âm Z, nhưng không vì thế mà ta có thể kết luận tiếng Việt thuộc ngữ tộc Hán Tạng vì có nhiều âm vị mà tiếng Hán không có.
Một điểm đặc biệt của ngữ hệ Hán Tạng là chứa rất nhiều từ có âm vị Z như tiếng BK có âm Z, Zh, Tz, tiếng Tây Tạng có và âm giống Z như tso là hồ, zing-kyong, tiếng Miến Điện có Z, không R và Tr. Mã Lai có một số âm Z. Các tiếng thuộc ngữ tộc Mon-Khmer và Thái, Lào đều không có Z. Phát âm miền Bắc có rất nhiều âm Z và không R. Phải chăng tiếng Việt thuộc ngữ hệ Hán Tạng?
Không phải, tiếng Việt nhất định không phải thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Sau 1000 năm bị ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Trung Hoa, tiếng Việt khó có thể phát triển nhanh chóng từ 41 âm vị sang 81 âm vị và từ 1347 âm tiết thành 18000 âm tiết, trừ phi là tiếng Việt lại chịu ảnh hưởng nề của tiếng một nước khác. Lịch sử trong thời kỳ độc lập không thấy nói người Việt bị người Mon Khmer, Thái hay bất kỳ một nước nào khác đô hộ. Tiếng Việt chịu ảnh hưởng tiếng Thái không phải trong thời độc lập, và càng không phải trong thời Bắc thuộc, mà phải trước hay chậm nhất trong thời Văn Lang Âu Lạc.

Phát âm Hà Nội
Phát âm Hà Nội ngày nay nghiên về phát âm Thanh Nghệ Tĩnh do dân chúng các nơi khác tràn vào thành phố nâng mực độ từ 100000 lên hơn một triệu, phát âm Hà Nội ngày xưa trở thành thiểu số, chỉ còn chừng 50000, có cơ bị tuyệt giống. Như vậy phát âm Hà Nội xưa không phổ quát, chỉ tập trung ở khu vực Hà Nội và vùng lân cận, có thể không phải là phát âm nguyên thuỷ của người Việt. Nếu là thế thì nó có nguồn gốc từ đâu? Có thể từ phát âm BK chăng ?
Tiếng Việt bị ảnh hưởng nặng nề tiếng Hán về mặt từ ngữ thì quá đã quá rõ ràng. Nếu ta cho rằng tiếng Việt chỉ bị ảnh hưởng về mặt từ ngữ mà không bị ảnh hưởng bởi phát âm BK thì là một chuyện hi hữu, trái với đà phát triển tự nhiên. Một số âm Hà Nội rất gần với phát âm Bắc Kinh như các âm rịu (rượu) là do jỉu, không có âm R, Tr nhưng có nhiều Z (tiếng BK có âm ghi là R nhưng lại có phát âm tương tự S với lưỡi đụng vào vòm khẩu cái). Chỉ có dân chúng chung quanh Hà Nội bị ảnh hưởng sâu đậm phát âm BK vì ngày xưa chỉ có Hà Nội và Nam Định là có trường dạy và thi tiếng Hán, do các giáo sư nguyên gốc giảng dạy nên dân chúng ở đây giỏi tiếng Hán về cả từ ngữ và phát âm. Các vùng khác chỉ học lóm hay do mấy Ông đồ lô can giảng dạy nên phát âm sai giọng hay ít bị ảnh hưởng tiếng Hán.
Chính vì thế có thể dân ở khu vực xa trung ương còn giữ được phần nào phát âm nguyên thủy của người Việt.
Miền Nam thì dốt đặc cán mai, một chữ Hán cũng không có.
Cứ so sánh tên họ hai miền thì thấy rõ ngay. Tên họ miền Bắc và Trung nghe rất văn chương tao nhã, đôi khi quá Hán làm cho không ai hiểu nghĩa là gì. Thí dụ như Cung Tằng Tôn Nữ Trịnh Nhữ Như Thi made in Hòang gia, Đoàn Châu Các Các made in phim Hongkong, Tăng Thiên Diệp made in China, Đặng Trần Quế made by Ông đồ ta. 
Hầu như không tìm được ai có tên họ hoàn toàn tiếng Nôm ở Hà Nội, trừ bần cố nông như Thị Mẹt.
Trái lại Miền Nam rất ư là nôm na, tuy dễ hiểu nhưng nhiều khi bình dân quá độ như Trần Trụi Bông Giấy, Nguyễn thị Út Nữa (rán nín đẻ nhưng cuối cùng lại lọt thêm một trự), Trịnh thị Rót (miễn bàn), Địch thanh Tủng, Bùi thị Rớt (bị đẻ rớt), Đặng Thành Được (đánh cá ngựa là trúng cá cặp ngay), Huỳnh văn Đực Rựa (làm gì có Huỳnh thị Đực Rựa?), Thái Thành Mắm (con cháu bà giáo Thảo hay gốc gác Châu Đốc), Thạch Sanh Mười Lăm (đẻ dữ tợn).

Phát âm Sàigòn
Phát âm Sàigòn và phát âm miền Nam rồi đây cũng sẽ thay đổi vì chịu ảnh hưởng của phát âm Hà Nội và Hà Nội cũng sẽ phải thay đổi phần nào đó theo phát âm Sàigòn vì nhiều lý do.
Một trong các lý do là dân Hà Nội, dân miền Trung vào miền Nam khá đông. Mặt khác thông tin, giao lưu văn hoá hai miền sẽ có ảnh hưởng qua lại.
Phát âm miền Nam đã được tôi luyện, xào nấu, thêm thắt lại từ phát âm miền Trung và miền Bắc, do di dân nghèo hay của tội phạm nhẹ bị phát vãng trong công cuộc Nam tiến, lại thêm mắm thêm muối từ các tiếng Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Khmer, Chàm, Chà Châu Giang (Giang là sông, Chà là do chữ Java, Châu Đốc là do Châu Toch, tên con sông ở gần  Châu Đốc, phía bên Kampuchia. Tên núi Sam ở Châu Đốc là từ nói trại đi của từ Chàm, Kompong Chàm ở Campuchia là Vũng Chàm. Java đã biến thành sông Bà Hoà ở Cửu Chân. 
Một số người Chà Châu Giang hay một số dân miền Trung có thể lai giống Á Rậpnên khá cao, nhất là các em sinh tại nước ngòai rất cao mặc dầu cha mẹ ở mức trung bình).
Như vậy phát âm miền Nam đã được chọn lọc tự nhiên để từ từ trở thành đại chúng, do đóphải giản dị, dễ hiểu, dễ phát âm để mọi sắc tộc đều nói được. Chính vì thế mà âm V, Z đã biến mất nhường chỗ cho âm D nhẹ, W, J, R, Tr. Tuy nhẹ nhàng uyển chuyển và dễ uốn lưỡi theo tiếng nước khác nhưng cũng rất khó thay đổi thêm vì nó đã thay đổi rồi, không còn đường nào để binh
‘’Hai mươi năm mới gặp lại mà sao anh trông vẫn còn trẻ?’’
‘’Vâng. Trẻ mãi không già vì tôi đã già ngay từ khi còn rất trẻ’’
Phát âm Hà Nội rồi ra cũng phải thay đổi cho hiện đại, hợp thời trang, với khuynh hướng tòan cầu hóa ngôn ngữ và kinh tế, với Anh ngữ, với trào lưu thông tin, Internet, và dân nước ngoài, nhất là dân Hà Nội xưa trong lẫn ngòai nước
“Khi cán ngố vào Sàigòn thì mức độ thông minh IQ cả hai miền trở nên ngang ngửa”
Phát âm người Việt nước ngoài khác người trong nước vì nhiều phương diện như khôngdùng từ made in China, lai giọng Tây, nói chậm hơn do ít xữ dụng, ít người để đối thoại,nhiều khi cả ngày chỉ nói chuyện bà xã hay với đầu gối, không bị thúc đẩy bởi cuộc sống lúc
nào cũng ‘khẩn trương’.

Tiếng Việt cho mỗi miền là 75, chung cho cả nước khoảng 81 âm vị. Con số có thể thay đổi đôi chút nhưng không thể nào là 36 hay 44 được. Quí vị độc giả nghĩ sao?’
Gs Đoàn Văn Phi Long

Từ đây trở lên trên là bài đã đăng ở mạng Hương Quê (Thứ Hai 3/2/2003), soạn khi đi holiday ở Sydney, bài viết không dựa vào sách vở mà chỉ dùng ba cuốn tự điển tiếng Anh, hai Phase book bỏ túi, tốn khoảng gần hai ngày.
Sau chừng một vài năm, trong luận án cử nhân “Hệ thống cung cấp thông tin qua mạng điện thoại và ứng dụng” dày hơn 40 trang của hai sinh viên, bài Âm Vị Tiếng Việt đã được xữ dụng để kiểm chứng lại mức độ chính xác của hệ thống, xin tóm lược phần có liên quan như sau:
“Mô hình ngữ âm hiện tại (cổ điển). (TK 3)
Nhận xét
Mô hình hiện tại gồm tổng cộng 44 phones (27 phụ âm + 12 nguyên âm + 5 thanh).
Số phones này khá nhỏ, nhỏ hơn hầu hết các tập phones được sử dụng trong việc nhận dạng các ngôn ngữ khác trên thế giới. Điều này giúp làm giảm áp lực về yêu cầu độ lớn của bộ dữ liệu huấn luyện mô hình ngữ âm.
Thử nghiệm mô hình ngữ âm mới
Phụ âm gồm 23 phụ âm:
b c ch d đ g h kh l m n ng nh p ph qu r s t th tr v x
Nguyên âm gồm có 47 nguyên âm
a â ă ai ao au âu ay ây e ê eo êu i ia iê iêu iu o ơ oa oă oai oay oe oi ôi ơi oo u ư ua uâ ưa uê ui ưi uô uơ ươ uôi ươi ươu ưu uy uya uyê
Nhận xét
▪Gồm 75 phones [23 phụ âm, 47 nguyên âm và 5 thanh]. Số phones lớn hơn hẳn so với mô hình ngữ âm trước đây, điều này đưa ra yêu cầu là phải có bộ dữ liệu cũng phải lớn tương ứng để huấn luyện cho mô hình ngữ âm.
▪Áp dụng được đặc điểm đơn âm của tiếng Việt để biểu diễn những từ có độ dài phát âm gần giống bằng số trạng thái gần giống nhau. Ví dụ chữ “xuyên” và chữ “xin”, chúng có độ dài phát âm gần như bằng nhau và đều được biểu diễn bởi 3 hmm với 9 trạng thái.
▪Những âm được phát âm giống nhau sẽ được phiên âm thành một âm duy nhất. Việc xác định là âm nào sẽ được thực hiện bởi mô hình ngôn ngữ kèm với từ điển phiên âm.
Tài liệu tham khảo của bài trên
Tiếng Việt
1. Đoàn Văn Phi Long, Âm vị tiếng Việt,http://www.vn.net/article.php/200607140815151597, 2004.
2. Nguyễn Hoàng Dũng, Nguyễn Cao Trường Hải, Một số cải tiến nâng cao chất lượng cho hệ thống
nhận dạng tiếng Việt, Luận văn tốt nghiệp khoá 02 khoa Công nghệ thông tin, TPHCM, 2006.
3. Nguyễn Quang Vinh, Tự động tìm kiếm đơn vị ngữ âm cho bài toán nhận dạng tiếng nói tiếng Việt
liên tục, Luận văn tốt nghiệp khóa 03 khoa Công nghệ thông tin, TPHCM, 2007.
4. Trần Ngọc Dụng, Tìm hiểu ngữ âm tiếng Việt
Tiếng Anh
1. A Stolcke, SRILM - An Extensible Language Modeling Toolkit, Proc. Intl. Conf. Spoken Language
Processing, Denver, Colorado, September, 2002
2. C H Lee, F. K. Soong, and K. K. Paliwal, Automatic Speech and Speaker Recognition, Advanced
Topics, pages 1-30. Kluwer Academic Publishers, 1996 etc… ”

Như vậy mức độ chính xác của bài “Âm vị tiếng Việt” đã được kiểm chứng bằng khóa luận
tốt nghiệp Công nghệ thông tin chuyên ngành kỹ thuật phần mềm (software).
Vẫn như cũ 15 năm sau, lên mạng tìm lại âm vị tiếng Việt coi ra sao thì tình trạng không có gì thay đổi. Có hằng trăm mạng nói về âm vị tiếng Việt nhưng diễn tả vòng vo, rườm rà và không cho biết tổng số âm vị tiếng Việt là bao nhiêu và đếm ra sao.
Riêng Trung Hoa có tiến bộ hơn một chút:
Âm vị tiếng Trung Hoa
Để trả lời câu hỏi trên mạng: Có bao nhiêu nguyên âm, nhị trùng âm và phụ âm trong tiếng Trung Hoa Mandarin?, một người Trung Hoa dùng mobile phone và bằng loại chữ Hanyu
Pinyin, ngày 28 Dec 2017, liệt kê các âm vị như sau:
9 vowels
a e i u ü -i(in zhi, chi, shi) -i(in zi, ci, si) ê er
(Vài người cho "-i"s are not vowels, so 7.)
9 diphthongs
ai ei ao ou ia ie ua uo üe
22 consonants
b p m f d t n(-n) l g k h j q x zh ch sh r z c s -ng
Tổng cộng có 40 âm vị (TK 4)
Xin liệt kê các nước khác để so sánh

Âm vị Âu châu
Albanian 37, Basque 30, Belarusian 48,
Bulgarian 44, Catalan 36, Czech37,
Danish 52, English36, Dutch 39,
Finnish 34, French 39, German 45,
Greek 23, Hungarian 41, Italian 30,
Lithuanian 59, Portuguese 37, Russian 40,
Spanish (Castilian) 25, Swedish 35,
Ukrainian 40, Welsh 45
Vài ngôn ngữ không Âu Châu để so sánh
Arabic 34, Chinese (Mandarin) 35, Hindustani 48,
Persian 32, Japanese 32, Turkish 31
15 nước đứng đầu về tổng số âm vị:
1. Lithuanian : 77
2. Estonian : 75
3. Welsh : 62
4. Belarusian : 58
5. Russian : 55
6. Danish, Finnish : 52
7. Norwegian : 50
8. English, Icelandic, Irish Gaelic, Latvian, Romanian : 49
9. Dutch, German, Ukrainian : 48 (TK 5)

Tham Khảo
1. Thai phrase book & dictionary và Cambuchia phrase book & dictionary của nhà xuất bản Lonely Planet.
2. Phoneme Codes, International Phonetic Alphabet
en.wikipedia.org/wiki/International_Phonetic_Alphabet
3. Trường Đại học Khoa học tự nhiên, khoa Công nghệ thông tin HCM, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành kỹ
thuật phần mềm, luận án cử nhân áp dụng vào Âm vị tiếng Việt.
4. Âm vị Trung Hoa
 quora.com/How-many-vowels-diphthongs-and-consonants-does-Mandarin-Chinese-have
5.Europe phoneme eupedia.com/linguistics/number_of_phonemes_in_european_languages.shtml

Apr 1, 2018

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 4

CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 4


DSTV thân mến gửi đến các bạn sinh nhật trong tháng 4 lời chúc mừng một  ngày sinh nhật thật vui tươi hạnh phúc.



Thân mến chúc 
HẢI CHÂU
DIỆU HIỀN
TÂN LÊ 
NGỌC ANH 
Và các bạn có sinh nhật tháng 4
Một ngày sinh nhật thật hạnh phúc, ấm áp bên gia đình 



Hoa Đậu là hoa tượng trưng cho tháng 4, xin gửi đến các bạn những bông Hoa Đậu ngọt ngào, duyên dáng như những lời chúc mừng các bạn thêm một tuổi mới  nhiều sức khỏe, hạnh phúc, niềm vui bất tận.


Tên tiếng Việt: Đậu hoa, Đậu thơm.

Tên thông dụng : Hoàng hậu của loài cây hàng năm (Queen of Annuals).

Tên tiếng Anh : Sweet Pea.

 Hoa Đậu là Hoa của tháng Tư , biểu tượng cho Niềm vui bất tận, sự khởi đầu, sự duyên dáng, thanh nhã.


Bông hoa thơm nồng nàn và tinh tế này có dáng vẻ tao nhã, khá tự nhiên. Trên một cành, các bông hoa có thể có nhiều đốm màu khác nhau như xanh, tía nhạt, hồng và trắng. Nó tượng trưng cho “niềm vui thích vĩnh viễn” vì hương thơm và khả năng tự hồi phục liên tục của bông hoa.

Đậu hoa nói lên rằng những người sinh tháng 4  là người luôn cởi mở vui vẻ, dễ làm quen và gần gũi với những người chung quanh. Bạn cũng có tính rất tò mò, nhưng sự tò mò đó là để biết những chuyện gì đang xảy ra chung quanh mình, và cố tìm hiểu cho bằng được. Còn nếu ai đó kiếm người để tin cậy trao gởi câu chuyện, thì bạn là người được tín nhiệm trong số.

Bạn luôn giữ những nguyên tắc riêng của mình, trong tình huống nào và mọi mặt của cuộc sống. Bạn cũng thường hay quan tâm giúp đỡ người khác, và điểm chính là lúc nào cũng giữ được sự bình tĩnh, rất đáng nể.

Các bạn sinh trong tháng 4 còn được tượng trưng bằng một loại đá quí mà từ xưa cho đến bây giờ vẫn còn được coi là " A girl's best friend".

Diamond - Kim cương có  nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "Adamas" có nghĩa là "kim loại cứng nhất.
Từ quan niệm: Mọi vật trong trời đất dường như luôn có sự tương tác lẫn nhau, mỗi năm có một con giáp làm đại diện, mỗi con người gắn liền với một cung, mạng trong hệ ngũ hành Kim - Thủy - Mộc - Hỏa - Thổ, mỗi loài hoa mang một ý nghĩa riêng, mỗi sắc màu là mỗi cung bậc của cảm xúc...và mỗi một tháng trong năm lại gắn liền với tên của một loại đá quý, ví như đại diện cho tháng tư chính là kim cương – loại đá quý hiếm nhất.
Nếu sinh nhật của bạn vào tháng tư thì bạn là người có rất nhiều may mắn – Mang các đặc tính bền vững của Kim cương, bạn là người có ý chí và luôn có niềm tin tuyệt đối vào những quyết tâm và nỗ lực của mình. Kim cương vốn là biểu tượng cho sức sống, niềm tin và sự khát vọng mãnh liệt. 

Hôm nay cũng là ngày Lễ Phục Sinh, DSTV thân ái gửi lời chúc đến các bạn và gia quyến luôn luôn được an vui, hạnh phúc.

HAPPY EASTER CÁC BẠN