Aug 2, 2018

NGUỒN GỐC SAIGON, CHỢ LỚN - Bài Khảo cứu của Giáo Sư Đoàn Văn Phi Long


Lời giới thiệu : Giáo Sư Đoàn văn Phi Long là giáo sư dạy Toán tại trường Trưng Vương trước 1975. Sau khi định cư tại Úc song song với việc dạy Toán cho nhiều thế hệ học sinh Việt tại gia, từ năm 1987 Thầy còn bỏ nhiều thời gian để nghiên cứu về Nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Đây là một chương trong khoảng 30 chương của " Nguồn gốc dân tộc Việt Nam". 

Đặc san TV6370 xin cám ơn Thầy Đoàn văn Phi Long đã gửi bài cho, và xin trân trọng giới thiệu đến các bạn TV và độc giả khắp mọi nơi .


NGUỒN GỐC SÀIGÒN CHỢ LỚN

GS Đoàn văn Phi Long

NGUỒN GỐC ĐỊA DANH SÀI GÒN

Nguồn gốc địa danh Sàigòn trong vài trăm năm nay đã làm tốn rất nhiều giấy mực nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Tên Sàigòn có đặc điểm là chẳng phải ta cũng chẳng phải Miên, nữa Tàu nữa Tây nên có người cho từ tiếng Pháp. Xin phân tích khuyết điểm của các thuyết cũ và đưa ra một thuyết mới về nguồn gốc tên Sàigòn, Chợ lớn và các vùng phụ cận. Sài Gòn bây giờ khác xưa nhiều lắm. Ở Los Angeles, ở HongKong, Sydney đều có shop duty free miễn thuế. Nhưng không đâu bằng thành Hồ, tên hiện nay của Sài Gòn. Ở đây có shop bán trà gói chống thấm nước, đèn pin chạy bằng ánh sáng mặt trời, bình đông lạnh bảo đảm hai ngày còn nóng, kính mát dùng ban đêm, đường ăn không tan.

Giả thuyết 1: Do người Việt đặt tên

Có học giả cho Sài là củi, tiếng Hán Việt và gòn là cây gòn. Rất đáng nghi ngờ vì khó có thể một tiếng Hán ghép được với một tiếng Nôm.

Sài là cây sài, một loại cây có gỗ sốp màu vàng, đốt cho rất nhiều khói, chỉ dùng làm củi đốt hoặc đóng hòm cho người nghèo. Theo học giả Huỳnh tịnh Của, cây gòn miền Bắc gọi là cây bông gạo. Nhưng cây gòn và cây bông gạo khác nhau. Cây gòn chỉ mọc ở xứ nóng nên không thể sống nổi ở miền Bắc. Người Trung Hoa phân biệt rất rõ ràng ba loại khác nhau cùng gọi là miên: sơn miên là cây bông gạo, mộc miên là cây gòn và miên hoa là cây bông vải. Cây gòn tiếng Anh là kapok, do tiếng Mã kapoq, tiếng Thái là dton nùn- bông gòn là phại nùn. Vì phại nùn phát âm gần giống Sàigòn nên có giả thuyết cho Sàigòn là do tiếng Lào. Ngày xưa người Lào cư ngụ đông đúc ở Sàigòn và nhiều lần quân Lào đã đến cướp phá Sàigòn. Cây gòn tiếng Miên là dam gor, gor là gòn. Tên Sài Gòn có thể được dân dịnh cư quen thuộc chỉ vài chục năm sau năm 1622 vì tiếng Khmer khó nhớ và không quen tai.

Tèo và bạn đi buôn chung với nhau. Bửa đó mua được gòn và gạo, mỗi thứ 15 ký. Tèo đố bạn một ký gòn và một ký gạo, cái nào nặng hơn.

"Bằng nhau, cái nào cũng là 15 kg "

"Vậy tao khiên bao gạo. Mầy vác bị gòn và ráng cầu trời cho đừng có mưa gió "

Thuyết Sàigòn do người Việt đặt tên không đúng vì lúc mới vào miền Nam, người Việt ít sáng tác mà chỉ dùng tiếng Miên. Ngay cả thủ đô Bangkok của Thái Lan cũng tiếng Khmer là Bãnhchok.

Trong từ nguyên học, nhiều học giả có thói quen -và đây là một phương cách dễ và nhanh nhất nhưng rất lười biếng- tìm từ nguyên bằng cách coi từ này là tiếng Việt hay Hán Việt, trong khi thực sự là tiếng ngoại quốc. Lấy một thí dụ là Phù Nam được giải thích là đất phiá Nam nổi phù

vì bị ngập nước. Giải thích không đúng vì đế quốc Phu Nam gồm cả các vùng đất cao như Chiêm Thành, Lào...Phù Nam người Tàu gọi là Funan, là phiên âm của pnoom, tiếng Cao Miên, là núi. Một điểm sai lầm khác là các biến cố cổ xưa được gán cho niên đại quá trễ vì các học giả chỉ căn cứ vào sử sách người Tàu. Mà người Tàu chỉ ghi chép các vùng phía nam từ sau công nguyên, sau khi đã xâm chiếm Hoa Nam.

Giả thuyết 2: Sài gòn là Thầy Ngồn do người Quảng Đông.

Tên Hán Việt là Đề Ngạn, tiếng Phổ Thông là Tin Ngạn. Bênh vực cho thuyết này là Francis Garnier và học giả Vương hồng Sển. Họ cho là năm 1778 người Minh Hương ở cù lao Phố Biên Hoa, vì giúp đở tiền tài cho nhà Nguyễn nên bị Tây Sơn tàn sát, phải chạy về lập khu phố nằm giữa khu người Việt ở Bến Nghé và khu người Miên ở Phú Lâm để buôn bán. Năm 1782 họ lại bị tàn sát một phen nữa vì hộ giá Phạm Ngạn, cánh tay mặt của Nguyễn Huệ, bị tướng của người Tàu Lý Tài phục kích và giết chết tại 18 Thôn Vườn Trầu. Đến năm 1788 họ xây dựng lại, đấp đê cao nên đặt tên vùng này là Đề Ngạn. Đề là đê, ngạn là cao. (TK1)

Giả thuyết không hợp lý vì nhiều lý do:

-Lập nghiệp một thời gian 10 năm không có tên. Khu vực này trước đã có người Việt và Miên ở buôn bán tấp nập đến độ vua Gia Long cho đào kinh để dễ thông thương, sao lại phải đợi đến 10 năm để người Tàu đặt tên giùm? Người Tàu chuyên môn làm thương mãi, chạy đến một vùng không có người Việt và Miên để buôn bán với ai, với khỉ Cà Mau à?

-Tên Sàigòn đã được ghi vào sử sách 100 năm trước vì Gia Định Thành thông chí của Trịnh hoài Đức có ghi là năm 1674,1688,1690,1692 nhà Nguyễn tấn công Sài Côn. (TK2)

-Khi người Pháp sát nhập hai khu Bến Nghé và Đề Ngạn thành Saigon thì người Tàu lại gọi theo là Sì Củn, chứng tỏ không phải họ đặt tên mà chỉ gọi theo người khác.

-Ngay cả tên Hà Tiên, Cô Tô, Tô Châu, Long Xuyên, rõ ràng là địa danh bên Tàu, cũng phát xuất tiếng Cao Miên Ta Chen, Kopo, Tochu, Long Nguyet.

Sau đây là các giả thuyết cho Sàigòn là tên Cao Miên và phân loại tùy theo Sài là Prey hay Prei.

Giả thuyết 3: Sàigòn là Prey Kor, Prey Ko hay Prey Nokor

Sài là do Prey đọc là prây có nghĩa là rừng. Sài Gòn lúc đầu được các học giả Tây phương cho là do Prey Ko hay Prey Kor nhưng về sau Prey Nokor được nói đến nhiều hơn.

Prey Kor là rừng gòn. Cây gòn ngày xưa mọc rất nhiều ở miền Nam từ Cà Mau cho tới Biên Hoà, Bà rịa, phía nam miền Trung và Hạ Lào nhưng chỉ mọc lẽ tẽ. Ngày nay hầu như bị tuyệt chủng. Khó có thể có rừng gòn ngay tại thủ đô của phó vương Khmer được. Xin nói thêm là có nhiều từ phát âm gần giống gòn như gor hay kor là cần cổ, một đống hay thành thị còn goh là đảo (oh là o đọc thật ngắn)

Prey Ko là rừng bò: Go hay ko là bò (đọc là gô hay kô). Prey Ko là rừng bò hơi vô lý vì bò ở đồng cỏ chứ đâu phải hưu nai mà ở rừng. Hoạ hoằng lắm người Khmer mới đặt tên theo kiểu bình dân giáo dục, hầu hết là tên thần.

Prey Nokor: Nokor hay kor là thành thị, phát xuất từ nagara của Phạn ngữ, tiếng Thái là nakhon.

Prey Nokor có nghĩa là gì ? Điều này tùy thuộc cấu trúc văn phạm của từ.

Giống tiếng Việt, gồm tiếng Nôm và tiếng Hán Việt, tiếng Miên cũng gồm hai thành phần: tiếng Miên gốc và tiếng Sanscrit tức Phạn ngữ.

-Phạn ngữ và Hán Việt có cấu trúc nghịch: Tỉnh từ + danh từ

Thí dụ Angkor watt, Ang là tượng, kor là thành phố, watt là đền. Angkor watt là đền của thành phố tượng. Prey Nokor nếu theo cấu trúc nghịch sẽ có nghĩa là thành phố ở rừng hay lâm thị theo cụ Vương Hồng Sển.

-Tiếng Miên và tiếng Việt có cấu trúc thuận: Danh từ + tĩnh từ

Thí dụ tomlé tom là sông to, saich kô là thịt bò, ch'num t'may là năm mới.

Campuchia hiện nay có nhiều địa danh có Prey như Prey Lvea (rừng tên Lvea hay rừng lạc đường), Prey Cho (rừng đứng), Prey Toch (rừng ông Đốc, nguồn gốc tên Châu Đốc). Điều này chứng tỏ cụm từ Prey Nokor theo cấu trúc thuận, không có nghĩa là lâm quốc mà có một trong hai nghĩa như sau:

-rừng xưa là thành thị

-rừng ở thành thị (không hợp lý phải loại bỏ)

Tỉnh Kampong Cham có khu rừng mang tên Prey Nokor. Đây là khu rừng còn dấu vết của một thành phố cổ xưa là thủ đô của đế quốc Khmer vào thế kỷ thứ 6 AD. Người Chàm ngày xưa có mặt ở Lục Chân Lạp, Thuỷ Chân Lạp, hiện nay họ còn ở Mã Lai được gọi là Cham. Ở thủ đô Nam Vang còn có đường Prey Nokor.

Tuy Prey Nokor có trong địa danh Miên nhưng không thể nào là Saigòn vì đây là thủ đô của Phó Vương Khmer đâu phải rừng rú.

Các học giả Pháp và Việt đều chọn Prey Nokor hơn Prey Kor vì cho từ trước có ý nghỉa trang trọng là lâm quốc. Có người còn đi xa hơn nữa cho Prey Nokor có nghĩa là thành vua hay thủ đô. Nhưng reach là vua, nokor reach là thành vua.

Giả thuyết 4: Sàigòn là Prei Nokor

Prei Nokor có nghĩa là thần ở thành thị, Prei là một cách viết sai của Preah. Preah đọc là pre với chữ e đọc thật nhanh và ngừng lại đột ngột, không có âm tương đương trong tiếng Việt. Preah có nghĩa là Trời, Phật, Thần, Thánh, Chúa, Thượng đế. Do thiếu thanh sắc nên người Miên phát âm rất cầu kỳ để phân biệt các từ với nhau.

Tỉnh Kampong Cham và Ở Angkor Watt có đền Preah Nokor nên từ này cũng có thể là nguồn gốc tên Sàigòn. (TK 3)

Tuy nhiên nhân dịp kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, một cuốn sách được xuất bản trong nước đưa ra một giả thuyết rất kỳ lạ, cho là Prei Nokor biến thành Sài Gòn qua nhiều giai đoạn

Prei Nokor-->Prei Nagara-->Prei Nagar-->Rai N'gar-->Raigor-->Raigon-->Sài gòn

Ai đã đổi và tại sao đổi 6 lần? Chắc chắn không phải người Việt vì có mấy ai thông thạo Miên ngữ mà có thể thay đổi lung tung xà bần nhiều lần như thế. (TK 4)

Cũng không phải do người Miên vì sử sách chỉ nói đến một tên duy nhất là Sài Côn từ lúc di dân cho tới khi chiếm xong miền Nam.

Thuyết được chế biến có lớp lang để biến Prei Nokor thành Sàigòn.

Muốn biết Prei Nokor có phải là Sàigòn hay không, hãy bàn đến giả thuyết sau đây

Giả thuyết mới 5: Sàigòn là Preah Ko

Preah Ko hay Prei Ko đọc là Pre Cô có nghĩa là Thần Bò hay Linh ngưu của đạo Bà la Môn. Đây là bò thần tên là Nandi dùng để chuyên chở thần Shiva.

Các giả thuyết trước đây chỉ phỏng đoán nhưng không được chứng minh một cách khoa học và vững chắc. Địa danh nguyên thuỷ của Sàigòn phải nghiệm đúng các điều kiện sau đây:

-Phải là tên vị thần Bà La Môn vì các địa danh Campuchia hiện nay đều mang tên thần Bà la Môn. Sàgòn chiếm một vị trí khá quan trọng nên phải có tên một vị thần khá nổi tiếng của người Miên. Như vậy Prey Ko, Prey Kor, Prey Nokor liên quan tới rừng rú nên phải được loại bỏ ra khỏi danh sách nguồn gốc tên Sàigòn vì quá thông thường, không đúng với kiểu cách đặt tên của Khmer.

-Sử sách lúc đầu cho Sài Gòn là Prey Kor hay Prey Ko chỉ có hai âm nhưng người Pháp và một số tác giả VN cho là không xứng danh là thủ đô của một Phó Vương nên họ đổi lại là Prey Nokor, có nghĩa là Rừng Vua (?) hay Lâm quốc (?). Sau cùng đổi thành Prei Nokor nhưng không cho biết Prei là gì.

-Phù hợp nhiều nhất với cách người xưa gọi Sàigòn. Ta hãy tìm lại coi các chủng tộc khác gọi Sài Gòn là gì

*Người Chiêm Thành gọi là Gaul Pay Kol (gaul là thành phố, tiếng Malay là kota, âm ô chớ không phải or)

*Dân Thuỷ chân Lạp gọi là “Pei -ừ kô hay Pei -ằng –Kô”. Pei -ừ hay Pei- ằng là Preah chớ không phải Prey hay Prei.

*Hỏi một người Khmer hiện tị nạn tại Perth ở Tây Úc và anh Tùng điện tử người Việt gốc ở Nam Vang thì cả hai gọi Sài gòn là Preah Kô, xin nhấn mạnh là Preah chớ không phải Prey và kô chớ không phải là kor (đọc là o)

*Sử sách Việt ghi là Sài Côn. Sài được viết bằng chữ Hán nhưng Côn thì bằng chữ Nôm, làm nhiều người thắc mắc. Lý do người xưa muốn ta đọc ô chứ không phải o. Chữ Hán ghi được nghĩa nhưng không ghi được âm của tiếng Việt. Thí dụ tiếng Trung Hoa không có âm ơm. Chữ Nôm muốn ghi cơm phải dùng hai chữ Hán là phạn và cam ghép lại.

Các dẫn chứng trên cho thấy cả đều gọi Sài gòn bằng hai âm và nguyên âm cuối là o (đọc là ô) chứ không phải or (đọc là o). Và theo cách gọi tên của người Thuỷ Chân Lạp và Chàm thì Sài là Preah chứ không phải Prey hay Prei.

Prei Nokor có 3 âm và âm chót là kor nên không thể là Sàigòn. Preah Ko nghiệm đúng cả hai điều kiện nêu trên. Ngoài ra ta còn có các bằng chứng sau:

-Đế quốc Khmer được thành hình từ thế kỷ thứ 6 AD, phần lớn nằm dọc theo bờ biển và có thương cảng sầm uất Ốc Eo. Sau dời về Lục chân Lạp có lẽ để tránh giặc biển Java, và vua Indravarman I (877-899 AD) đã xây dựng đền Angkor trong đó có đền Preah Ko (năm 879) thờ Linh ngưu để cúng tế tiền nhân. Đền có ba tượng Thần Bò Nandi.


                                                    H1 Đền Preah Ko ở Angko Watt

Gần đó có đền Bakong thờ Shiva. Bakong là xếp Bà Cống. Vua Jayavarman VII xây Angkor Thom và Bayon năm 1181- 1201. Đền Bayon có 54 tháp hình mặt người mĩm cười rất nổi tiếng. Đền Bayon cũng có nhiều ở Thuỷ Chân Lạp mà người Việt gọi là Ba Giồng. Ba Giồng có ở Bến Tre và Sài Côn. Xin nhắc lại một đoạn sử: Năm 1777 Nguyễn Huệ kéo vào Gia Định đụng độ với Hoà Nghĩa Quân của Lý Tài. Hoà Nghĩa Quân thua bỏ Hóc Môn chạy về Bến Nghé, quân Tây Sơn thừa thế đuổi theo, Lý Tài chạy về Ba Giồng.



H2 Thần Bò Nandi của Shiva

Thần Nông trong thần thoại Trung Hoa có đầu bò mình người coi về nông nghiệp có nguồn gốc từ Thần Bò Nandi của Hindu giáo. Sai Gòn là Thần Nông và Lí lô Sài Gòn là Tiểu Thần Nông.

Preah Ko là một thần rất quan trọng không thể thiếu được ở Lục Chân Lạp cũng như Thuỷ Chân Lạp. Ấn Độ thờ bò, không ăn thịt bò nên cả triệu con bò đi nghênh ngang đầy đường.

Các vị thần khác của Ấn Giáo đều có tên ở các đền thờ, địa danh ở Campuchia và Miền Nam VN (cả miền Bắc và Trung VN cũng có) như Takeo, Cổ Cò (Koh Ker), Trà Bàng (Trapeang), Trà Nóc (Ta Nob), Ba Hom (Ta Prom), Ba Giồng (Bayon), Bakong (Bà Cống) ..., lẽ nào lại thiếu Thần Bò Preah Ko?

-Các học giả người Pháp và cụ VHS có nghi ngờ Prei Ko nhưng vì không thông thạo Miên ngữ nên lầm tưởng Prei Ko là Prey Ko tức rừng bò hay Prey Kor là rừng gòn. Họ lập tức loại bỏ từ này và chọn Prey Nokor tên có vẽ quí phái hơn là Lâm Quốc hay Hoàng Lâm.

-Tuy ngày nay dân Miên theo Phật giáo Tiểu thừa nhưng dư âm Ấn giáo vẫn còn mạnh. Tin sau đây được báo chí Tây phương đăng tải:

Hằng trăm dân làng đổ xô vào một ngôi làng nhỏ phía nam Kampuchia để được một cặp bò thần chữa bịnh vì họ tin rằng đó là bò thần bảo vệ xứ sở. Cặp bò này nổi tiếng là có phép lạ chữa bịnh ở xả Bù Trang, khoảng 10 km phía bắc Sihanookville. Preah Ko và Preah Keo (Thần Bò và Thần Ngọc Bích) bị binh đội Thái Lan chiếm đoạt ở thế kỷ trước. Preah Ko đã chữa bịnh hai người, chữa chân cà nhắc cho một người và chữa bịnh cho một người đàn bà bằng cách uống nước ở hồ nhà bà ta.

Cũng đừng quá tin tưởng vào tài liệu người Pháp. Lý do là từ lúc người Việt được cho vào định cư ở Mô Xoài năm 1622 cho đến khi người Pháp chiếm Sài Gòn năm 1859, thời gian cách nhau đến hai thế kỷ rưởi đã xoá mờ hết các ký ức chính xác. Tài liệu cho thấy trên mặt giấy tờ tên Sài Gòn được ghi trong hai bức thơ đề năm 1791 và 1795.

Tóm lại Preah Ko là tên của Sàigòn chớ không phải là Prei Nokor.

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu
Anh về học lấy chữ nhu
Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

Một Việt kiều Mỹ về thăm Sài Gòn đang đi trên phố thì cảm thấy có một người đụng nhẹ vào người. Nghi ngờ nên rờ lại túi để kiểm soát. Cái bóp không cánh mà bay. Tên trai trẻ đụng vào anh ta đang rảo thật nhanh. Anh Việt kiều phóng theo và tóm được hắn ở cuối phõ, đẩy vào tường. "OK. Nhà ngươi gặp phải cao bồi Mỹ rồi đó. Khôn hồn đưa bóp đây". Anh trai trẻ đưa bóp xong vội vàng co giò dông mất. Về khách sạn, anh VK tìm được bóp của mình bị bỏ quên trong phòng tắm. Lục bóp kia mới biết anh trai trẻ là Việt kiều Úc. Sài Gòn năm xưa nay còn đâu!.

NGUỒN GỐC ĐỊA DANH CHỢ LỚN

Không có một học giả nào nghi ngờ về nguồn gốc của địa danh Chợ Lớn vì cho đây là tiếng Việt. Theo Đại Nam nhất thống chí thì làng Tân Kiển gần dưỡng đường Chợ Quán, tết Nguyên Đán có tổ chức chơi vân xa và đánh đu tiên, đáng gọi là một “chợ lớn” vậy..

Nhà thương Chợ Quán khá nổi tiếng. Một Bác sĩ tâm lý ở Nhà thương Chợ Quán đang an ủi một bệnh có bộ vó rất lo lắng. "Bác sĩ thấy không, tôi có vấn đề là tôi thì thích giày hơn dép", người bệnh thở dài sườn sượt.

"Có sao đâu. Đa số đều thích giầy hơn dép mà", bác sĩ cố trấn an.

Bệnh nhân tươi hẳn lên, "Hay quá, Bác sĩ. Ông muốn chiên hay xào?"

-Chợ lớn có phải là chợ Quách Đàm không?

Tên Chợ lớn đã có trước năm 1860 là thời Tây qua. Trái lại chợ Quách Đàm, sau gọi là chợ Bình Tây, được xây dựng sau năm 1912.

-Hay Chợ lớn là chợ Đề Ngạn?

Cũng không phải vì chợ này là chợ Sàigòn. Càng không phải là chợ Bến Thành, trước được xây gần sông Bến Nghé, năm 1859 bị Tây phá sập, sau dời về địa diểm ngày nay.

Không phải là tên một ngôi chợ, vậy là tên của một cái gì? Chợ lớn là nơi tập trung đông đảo nhất người Tàu ở VN cả xưa lẫn nay

Ngó qua Chợ Lớn làm chay,

Thỉnh ông Tiêu Diện, thỉnh bà Quan Âm.

Tên Chợ lớn đã có trước thời nhà Nguyễn chiếm Biên Hoà, Sàigòn nên phải mang tên Cao Miên. Phía bên Miên gần Tây Ninh có làng Phumi Chhlong và sông Chhlong. Sông Chhlong dài cở sông Saigòn. Một nhánh của sông Chhlong và nguồn của sông Saigon gặp nhau ở quận Memot. Trong số mấy trăm vị thần Ấn giáo mà người Miên sùng bái, không có thêm một vị thần có tên giống như thế. Vậy Chhlong là tên của Chợlớn. Cũng có thể Chợ lớn là Cholas tên một triều đại của Ấn độ có ảnh hưởng đến tận Khmer và Nam Dương, nơi phát xuất đế quốc

Khmer. Dầu thế nào đi nữa Chợ lớn không phải là tiếng Việt mà là biến thể của một từ Cao Miên.

Địa danh Sàigòn, Chợlớn có ít nhất từ thế kỷ thứ 6 AD, thời đế quốc Khmer được thành lập. Xa hơn nữa, bảo tàng viện Sàigòn có pho tượng hình đồng tay bưng thếp dầu rất giống pho tượng người quì gối đào được ở Đông Sơn. Như vậy dân Miên đã có mặt tại Sàigòn ít nhất 3000 năm trước. Trước đó người Mã Lai cổ đã cư ngụ ở đây mà vết tích là đồng bào thượng gốc Mã Lai như Radé, Jarai.

Vùng phụ cận

Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

Ở trên Gia Định, xuống vườn thăm em

Gia Định chắc chắn là tiếng Hán Việt không còn nghi ngờ gì nữa.

Tất cả tên miền Nam gốc Campuchia hầu hết là tên thần Ấn giáo. Muốn biết nguyên gốc các địa danh miền Nam- có thể cả miền Bắc và Trung- như thế nào chỉ cần mở bản đồ Campuchia ra là ta thấy ngay có sự trùng hợp giữa các địa danh. Điều đó chứng tỏ người Việt, người Triều Châu không đặt tên mới mà gọi theo người Cao Miên. Lâu ngày tên bị đọc sai đi, có tên trở thành Hán Việt hoặc tiếng Việt.

Bến Nghé: Đa số học giả cho là do Kampong Grabey kể cả cụ Vương Hồng Sển. Nhưng Kampong là vũng, grabey là trâu. Vậy phải là vũng trâu chứ sao lại là Bến Nghé?

Chị Hưu đi chợ Đồng Nai,

Bước qua Bến Nghé, ngồi nhai thịt bò.

Trong địa danh Sông Bé ở Đồng Nai, Bé là từ miền Bắc không thể là tên con sông ở miền Nam. Thực sự Bến Nghé và sông Bé đều do tiếng Miên Prek Te vì bên Miên gần Tây Ninh có sông Prek Te. Một dẫn chứng khác là sông Bến Nghé có một nhánh gọi là Rạch Tẻ.

Đakao: Được giải thích là do Đất Hộ, đất của ông Bá Hộ và Tây phát âm thành Dakao. Thực sự do Dâng Kâo hay Krakao.

Gò vấp: Goh Chub (chớ không phải cái gò đi bị vấp té)

Trầu Bà Điểm xé ra nửa lá

Thuốc Gò Vấp hút đã một hơi

Buồn tình gá nghĩa mà chơi

Hay là anh quyết ở đời với em?

Có tác giải thích theo nghĩa Gò Vấp có âm gốc là Gò Vắp, vừa thuần Việt vừa gốc Khmer. Vắp là tên cây, âm gốc là Kompăp, một loại cây cứng như lim. Gò Vắp là “gò có nhiều cây vắp”.

Hóc Môn: S'rok Mon chớ không phải là hóc trồng khoai môn. Hóc Môn nơi có 18 thôn vườn trầu nổi tiếng và con gái cũng giỏi võ.

Rạch Cát: Prek Kak. Người xưa tưởng lầm là rạch có nhiều cát nên nhà Nguyễn đặt lại là Sa Giang.

Bà Điểm: Bâ Khem tên thần Ấn Độ chớ không phải chợ do bà quan lớn tên Điểm bỏ tiền ra xây cất.

Bà Quẹo: Ta Kev, trùng tên với tĩnh Takêv. Miền Bắc có rất nhiều chùa Keo, đây là chùa Takêv. Keo tiếng Khmer là Ngọc Bích.

Bà Hom, Bà Om: Ta Prom, vua Khmer.

Phú Lâm: Pou Lam, cùng tên với chùa Lắm miền Bắc.

Đường Vĩnh Viễn ở quận 5 SG: Venh Kvien.

Đường Bà Hạt ở quận 5 SG: Bâ Hât tên Cao Miên chớ không phải Bà Lớn tên Hạt.

Tân Thuận: tên Hán Việt nhưng là biến hoá của tên Kampong Luang, Kompong là vũng, bến cảng còn luang là lớn.

Bình Tây: Bangteay tức pháo đài chớ không phải đặt theo chuyện Tàu Ngũ Hổ Binh Tây vì nếu thế thì Bình Đông là gì?

An Đông: Preah An Dong

Bình Khang: Nơi đặt bản danh của khu Kim Chung Đại Thế Giới và khu lầu xanh Bình Khang của Bình Xuyên Bảy Viễn. Tên là do Preah Khan tức là Thần Đao, đền thờ xây bởi vua Jayavarman VII.

Bình Tiên, Bình Điền: Preah Tien

Nhà Bè, Cái Bè: Trabek

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

Trabek là tên một vị thần Bà la Môn chứ không phải truyền thuyết do người nào đó sáng tác: Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Thế còn Cái Bè thì giải thích làm sao? Chẳng lẽ lại là một giấc mơ khác:

“Một người đàn bà đang lạc vào cỏi mộng thì trông thấy một người cao lớn dữ dằn tiến tới trước giường. Hết hồn, bà ta hỏi: Nhà ngươi định làm gì vậy?

Người này trả lời: Tuỳ thuộc vào bà. Đây là giấc mơ của bà mà" (TK5)

Nguồn gốc địa danh trích từ Nguồn gốc địa danh Miền Nam (TK6)

Tên Khmer có gốc từ Cambodia (TK7)

Có rất nhiều truyền thuyết do người nào đó dàn dựng, gợi hứng từ nghĩa Việt để tìm nguồn gốc các địa danh Gò Công, Đồng Nai, Bàu Láng, Hà Tiên, chùa Bà Đen, Câu Lậu, Bà Đá, Cát Bà, sông Mã. Không phải là tiếng Việt thì giải thích theo nghĩa tiếng thế nào được

Từ đây trở lên là bài đã đăng ở VietCatholic Âu Châu năm 2004.

Tuy có rất ít tài liệu nhưng vì xữ dụng suy luận chặt chẽ nên kết luận “Chợ Lớn không phải là tên cái chợ lớn mà có nguồn gốc từ Chholong tiếng Khmer” không sai.

Phần tiếp theo mới được thêm vào, kèm theo một số dữ kiện quan trọng để chứng minh giả thuyết (nhận định, statement) trên.

Từ trước năm 1698, ở Đề Ngạn (mà sau này gọi là Chợ Lớn) đã có làng Minh Hương của người Hoa (vì không thần phục nhà Thanh, họ đã rời bỏ Trung Quốc sang định cư ở miền Nam Việt Nam). Tuy nhiên, vùng đất ấy trở nên đông đúc kể từ khi người Hoa ở Cù Lao Phố (tức Biên Hòa ngày nay) chạy tới đây lánh nạn sau khi nơi ở của họ bị quân Tây Sơn tàn phá năm 1776 vì một tướng Tây sơn bị quân Tàu giết chết.

Rồi do nhu cầu, người Hoa lập chợ (hay phát triển chợ có đã từ trước) để trao đổi hàng hóa. So với chợ Tân Kiểng của người Việt thì chợ Sài Gòn (khu vực Bưu điện Chợ Lớn ngày nay) có lớn hơn nên được người dân gọi là Chợ Lớn. Sau đó, tên chợ cũng được dùng để chỉ vùng đất mà nó tọa lạc. Theo học giả Vương Hồng Sển, thì “Chợ Lớn như nay ta còn gọi, đối với Hoa kiều là Thầy Ngôồn (Đề Ngạn) hay Xi Cóon (Tây Cống); còn sách cũ Pháp viết là Cholon hay Cholen, Cho Leun”.

Không phải là tên một ngôi chợ, vậy là tên của một cái gì? Chợ lớn là nơi tập trung đông đảo nhất người Tàu ở VN cả xưa lẫn nay

Ngó qua Chợ Lớn làm chay,

Thỉnh ông Tiêu Diện, thỉnh bà Quan Âm.

Trong cuốn Sàigòn năm xưa, cụ VHS có viết :

Rạch Chợ lớn nối Rạch Cát với Rạch Bến Nghé do kinh Ruột Ngựa đào năm 1772. Kinh Chợ lớn hay bị cạn nên vua Gia Long năm 1819 đào kinh Tàu Hủ thay thế.

Lời bàn:

“Tên Chợ lớn đã có (1772) trước thời Tây Sơn đánh phá Biên Hoà năm 1776 nên tên Chợ Lớn không phải do người Tàu chạy lánh nạn từ Biên Hòa về Sài Gòn mở mang chợ thành Chợ Lớn”

An Chi cũng cho rằng, trước khi thành phố Sài Gòn (khu vực Quận 1 và Quận 3 hiện nay) được người Pháp thành lập thì Sài Gòn là tên của khu vực mà sau này là trung tâm của Chợ Lớn, còn nơi mà sau này gọi là Saigon thì trước đó có tên  Bến Nghé.

Lời bàn:

“Có một số vấn đề không hợp lý cần bàn luận như sau

-Tên Chợ Lớn không kèn không trống đột nhiên xuất hiện.

-Không giải thích được tại sao không gọi là chợ Sài gòn mà lại gọi là Chợ Lớn?

Chợ Tân Kiển đã được đánh giá là “chợ lớn” thì sao không gọi chợ Sài Gòn là Chợ Lớn hơn, Chợ lớn mới, Đại Chợ lớn, Siêu Chợ, Siêu Thị?

-Có ba vùng là Bến nghé, Sài Gòn và Chợ Lớn. Tên Chợ Lớn không một ai thắc mắc vì cho là tiếng Việt thuần túy của một cái chợ khá đồ sộ của người Tàu. Nhưng người Tàu lại gọi là Thầy ngồn chớ không gọi là Chợ Lớn.

-Một yếu tố quan trọng nhất để bác bỏ ‘’Chợ Lớn là tên một cái chợ của người Tàu’’:

Cái gọi là Chợ Lớn lại là tên một cái tỉnh khá lớn của Khmer, lớn hơn Sài Gòn vài chục lần.

Toàn quyền Pháp đã biết có một vùng rộng lớn mà người Khmer ở đây gọi là Cholo, Cholen hay Choluen nói dính lại và không có dấu, giống như người Pháp gọi Biên Hòa là Bienoa (Bi-en-noa), Mỹ Tho là Mytô, Cần Thơ là Kantô”

Thật vậy, Chợ Lớn là tỉnh thành chớ không phải thuần túy là chợ bán buôn:

Hạt tham biện Chợ Lớn được lập ra ngày 5 tháng 1 năm 1876 do tách từ tỉnh Gia Định cũ. Tỉnh Chợ Lớn vốn là đất huyện Tân Long, phủ Tân Bình của tỉnh Gia Định, gồm 13 tổng (sau còn 12 tổng), 72 làng. 12 tổng đó là: Cầu An Thượng, Cầu An Hạ, Long Hưng Thượng, Long Hưng Hạ, Long Hưng Trung, Phước Điền Thượng, Phước Điền Trung, Phước Điền Hạ, Tân Phong Hạ, Lộc Thành Thượng, Lộc Thành Trung, Lộc Thành Hạ.

Tỉnh Chợ Lớn được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province), kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900 và bị mất tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh kể từ ngày 22 tháng 10 năm 1956 22 cho đến nay. Như vậy Chợ Lớn là 1 trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ

Đến năm 1930, hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn đã giáp nhau ở chỗ nay là đường Nguyễn Văn Cừ. Đáng kể thêm là tại đây có nhiều quán ăn và tiệm thuốc bắc của người Hoa. Trong những năm 1930-1950 do quá trình đô thị hóa, Sài Gòn và Chợ Lớn dần dần sáp nhập với nhau.

Sau này phần lớn đất đai tỉnh Chợ Lớn gốm: các quận (Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa) và một phần quận Gò Đen (Trung Quận) nhập vào tỉnh Long An khi tỉnh này được thành lập năm 1956, phần còn lại của quận Gò Đen nhập vào tỉnh Gia Định, sau là huyện Bình Chánh Thành phố Sài Gòn. (TK 8)

Nguồn gốc từ Chợ Lớn

Phía bên Miên gần Tây Ninh có làng Phumi Chhlong nằm kề bên bờ sông Mekong và Prek Chhlong. Sông Chhlong tuy không rộng nhưng khá quan trọng vì rất dài, có thể dài hơn sông Saigòn, có nguồn từ sông Mekong ở Cambodia, chảy gần tới Mamot thì đổi sang phía đông tới tỉnh Kratié. Một nhánh của sông Chhlong và nguồn của sông Saigon gặp nhau ở quận Memot nằm gần ranh giới VN. (TK 9)

Trong tất cả các địa danh Campuchia chỉ có một tên duy nhất gần giống Chợ Lớn là Chhlong phát âm là Chơlon theo tên một vị thần nào đó.

Tóm lại, Chợ Lớn có nguồn gốc từ “Chhlong” tiếng Khmer, vốn là tên một tỉnh thành thời cổ có thể gồm cả Sài Gòn, chớ không phải một cái chợ lớn theo nhận định thông thường của mọi người, kể cả các học giả trong và ngoài nước xưa và nay.

Đa số các tác giả lý giải từ nguyên theo phiên nghĩa nhưng miền Nam là Thủy Chân Lạp nên địa danh hầu hết là trùng lập với Lục Chân Lạp tức Campuchia mà địa danh ở đây đa số là từ Hindu giáo và có ở Angkor Wat và Angkor Thom.

Tham khảo

1.Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sểnh
2.Gia Định Thành thông chí của Trịnh hoài Đức
3.Angkor Wat and Angkor Thom, Siem Reap by AuDley
4.“300 năm Sài Gòn”, xuất bản từ TPHCM
5.Tôn giáo VN thời khuyết sử của ĐVPL
6.Nguồn gốc địa danh Miền Nam 1,2 của ĐVPL
7.Cambodia Periplus travel map
8.Chợ Lớn wikipedia
9.Periplus Việt Nam Travel Map

Aug 1, 2018

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 8

CHÚC MỪNG SINH NHẬT THÁNG 8



ĐSTV xin gửi lời chúc mừng sinh nhật đến tất cả các bạn sinh nhật trong tháng 8.
Thân mến chúc các bạn một ngày sinh nhật thật vui vẻ, hạnh phúc và ngọt ngào bên gia đình và những người thân yêu.

                                                   Thân mến chúc                            


                                                    Ngân
                                                    Kim Hoa 
                                                    Như Mai 
                                                    Minh Quang  
                                                    Liên Hương
                                                    Hiền Nguyễn
                                                    Của Cslem
                                                    Và các bạn sinh nhật tháng 8
                                   Những lời chúc tốt đẹp nhất trong ngày sinh nhật tháng 8.


Ngày sinh nhật là một ngày đầu tiên của 1 cuộc hành trình mới kéo dài 365 ngày . Mến chúc các bạn một cuộc hành trình thật vui tươi, thoải mái với muôn vàn tiếng cười rộn rã và thật nhiều sức khỏe.
Thân tặng các bạn bình hoa tím đẹp dịu dàng  như lời chúc các bạn một tuổi mới luôn vui tươi và hạnh phúc.


Có một loài hoa quí thật mong manh và giản dị được tượng trưng cho tháng 8. Đó là hoa Bồ công Anh.
Bồ công anh là cây thuộc họ cúc, thường mọc dại ở các vườn, đất hoang và sinh trưởng mãnh liệt vào mùa xuân


Hoa màu trắng, màu vàng và đôi khi màu tím , cụm hoa hình đầu, hạt màu đen có cán mang lông vũ để dễ dàng bay theo gió.
Hoa bồ công anh giản dị là thế, không màu sắc sặc sỡ, cũng không hương thơm quyến rũ như nhiều loài hoa khác. Bồ công anh lớn lên một cách lặng lẽ để rồi khi hạt đủ khả năng duy trì giống loài, từng hạt bồ công anh tung bay theo gió đến những miền đất mới, bắt đầu một thế hệ mới đầy khát khao sống.

Những hạt bồ công anh - những ước mơ trẻ thơ – mà người ta vẫn tin rằng khi thổi tung nó lên, ước mơ của mình sẽ trở thành sự thật. Vì vậy nếu được thấy hoa bồ công anh, bạn nhớ hái một đóa hoa thổi tung nó lên, thổi càng mạnh càng tốt, những ước mơ của bạn sẽ được gửi gắm vào hạt bồ công anh và bay cao, bay xa theo những cánh gió…
Cho những bạn sinh vào tháng 8, tháng bồ công anh: “Hoa bồ công anh nói rằng: Bạn mạnh mẽ, đầy cá tính và sẵn sàng nỗ lực hết mình để đạt được những mục tiêu đặt ra. Rất giàu tham vọng, can đảm và bướng bỉnh, bạn luôn vươn tới thành công lớn và chẳng ai đặt được giới hạn cho bạn cả”.



Các bạn sinh trong tháng tám còn được nâng niu như những viên Ngọc cản lãm - Đá Peridot
Dưới ánh đèn, viên đá lấp lánh sắc xanh ngọc lục bảo, vì thế mà được ví là "Ngọc lục bảo của chiều tà". Trong suốt, có nhiều màu từ xanh vàng đến xanh sáng.Đây là một đá quý hết sức đặc biệt, có trong các đá tạo ra từ núi lửa và trong cả thiên thạch rơi xuống trái đất. 


Xin chúc các bạn tôi
Sinh nhật tháng 8 rồi
Bình an và hạnh phúc
Trẻ trung mãi yêu đời .

HAPPY BIRTHDAY CÁC BẠN !

Jul 31, 2018

Tính nhân bản trong bài học quốc văn tiểu học miền Nam trước 75

Tính nhân bản trong bài học quốc văn tiểu học miền Nam trước 75
Nguyễn Văn Bon


Sau biến cố 30-4-1975, nhà cầm quyền ra lệnh tiêu hủy các loại sách của Miền Nam kể cả sách giáo khoa môn quốc văn các cấp. Do đó, việc sưu tập các sách quốc văn cũ rất khó khăn. Tài liệu sử dụng trong bài viết này gồm Bộ quốc văn giáo khoa thư, Luân lý giáo khoa thư do các nhà xuất bản nước ngoài tái bản, và một số bài trong các sách quốc văn bậc tiểu học được giảng dạy tại các trường miền Nam được vài nhà sưu tầm đưa lên trang mạng, thêm vào đó một số bài do trí nhớ hạn chế của người viết, nên chắc chắn những điều trình bày còn thiếu sót.


I. Dẫn nhập

Mục đích của giáo dục không phải chỉ truyền thụ những kiến thức, mà là đào tạo con người toàn diện, không thể tách rời kiến thức và đạo đức. Đạo đức làm người phải được đề cao, như đức hiếu thảo, yêu thương gia đình, ông bà cha mẹ, yêu thương họ hàng thân tộc, có lương tâm trong mọi sinh hoạt, có trách nhiệm với tha nhân, góp phần bảo vệ cuộc sống cho xã hội.
Muốn đạt được mục đích này, không thể không quan tâm đến vai trò của sách giáo khoa. Khi đề cập đến vai trò của sách giáo khoa bậc tiểu học, nhiều nhà giáo dục luôn nhắc đến bộ sách Quốc văn giáo khoa thư của Trần Trọng Kim, Đỗ Thận, Nguyễn Văn Ngọc và Đặng Đình Phúc, xuất bản từ những năm 1930 – 1940, là một trong những sách giáo khoa Việt ngữ được dạy ở các trường tiểu học Việt Nam trong suốt những thập niên thuộc nửa đầu thế kỷ 20.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, nước Việt Nam tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17, thành hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc xây dựng một nền giáo dục hướng mục tiêu đến Chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, tại Miền Nam theo chính thể tự do. Các nhà giáo dục Miền Nam tỏ ra rất thận trọng. Họ chủ trương cải tổ từ từ, chọn lọc để thích ứng với hoàn cảnh mới. Những gì người Pháp thiết lập không bị hủy bỏ ngay. Hệ thống giáo dục Pháp từ cấp tiểu học đến đại học được từ từ Việt hóa.
Chương trình giáo dục Việt Nam cũ ban hành năm 1945, dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim, được gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn, vẫn còn áp dụng cho đến giữa thập niên 1950. Dưới thời Đệ nhất Cộng Hòa, chương trình Việt mới bắt đầu thay thế chương trình Pháp.
Nhờ quyết định đúng đắn và thận trọng của những nhà giáo dục miền Nam mà sự chuyển sang một nền giáo dục mới không bị trục trặc.
Riêng chương trình môn Quốc văn bậc tiểu học, dựa theo nội dung các bài học về đạo đức trong bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư làm cơ sở rồi soạn một chương trỉnh phù hợp với hoàn cảnh mới, nhằm rèn luyện cho thế hệ tương lai cả đức lẫn tài để chuẩn bị trở thành những con người hữu dụng đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Theo chủ trương, một chương trình, nhiều sách giáo khoa, chỉ cần theo chương trình và hướng dẫn của Bộ Giáo dục, các soạn giả sách giáo khoa được tự do chọn bài, trích dẫn từ những tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng hoặc có thể tự mình sáng tác những bài thơ, bài văn theo chủ đề giảng dạy để đưa vào sách, và giáo viên cũng có quyền chọn quyển sách giáo khoa để giảng dạy. Nhờ vậy, các soạn giả cố gắng để soạn ra những sách giáo khoa có giá trị. (1)
Thông thường, ở trang bìa của quyển sách, soạn giả ghi: “Soạn theo chương trình hiện hành của Bộ Quốc gia Giáo dục”… Có thể kể một số tên sách như: 100 bài tập đọc Lớp Nhất và Lớp Nhì (Một Nhóm Giáo Viên. NXB: Việt Hương), Nhị thập tứ hiếu (Lý văn Phức.NXB: Bình dân thư quán), Quốc văn Lớp Nhì, Quốc văn Lớp Nhất (Một nhóm Giáo viên. NXB: Việt Hương), Quốc văn toàn thư, Lớp Ba (Phạm trường Xuân & Yên Hà -Kinh Dương & Một Nhóm giáo viên. NXB: Việt Hương), Việt ngữ tân thư, Lớp Nhất, Việt Ngữ Tân Thư, Lớp Nhì (Bùi văn Bảo, Bùi quang Minh. NXB: Sống Mới), Việt văn Tân thư, Lớp Nhì (Bùi văn Bảo, Bùi quang Minh. NXB: Sống Mới), Việt văn Toàn thư (Bùi văn Bảo, Bùi quang Minh. NXB: Nhật Tảo), Tân Việt Văn, Lớp Bốn (Bùi văn Bảo. NXB: Sống Mới), Quốc văn Toàn Tập, Lớp Nhất (Bùi văn Bảo, Đoàn Xuyên. NXB: Sống Mới), Giảng văn, Lớp Đệ Thất (Đỗ văn Tú, NXB: Việt Nam Tu Thư), Tiểu Học Nguyệt san (NXB: Nha Học Chánh Bắc Việt) (2)
Ngoài những sách giáo khoa, giáo viên có thể sử dụng những tác phẩm của những nhà văn có uy tín để bổ sung cho bài học trong lớp, như cuốn Tâm Hồn Cao Thượng (nguyên tác Grand coeurs của Edmond de Amicis. Dịch giả: Hà Mai Anh, 1952. NXB: Mai Đình), Thơ ngụ ngôn (Les Fabres de la Fontaine, Dich già: Nguyễn văn Vĩnh)…
Trong phạm vi bài viết ngắn, xin trích dẫn một số bài học về bổn phận đối với xã hội trong các sách “Quốc văn Giáo khoa Thư”, “Tâm Hồn Cao thượng” và một số sách giáo khoa của tác giả khác. Những bài học nói lên tinh thần nhân bản của nền giáo dục miền Nam trước năm 1975. Bài viết gồm:
Khái niệm về nhân bản và triết lý nhân bản của nền giáo dục Miền Nam trước năm 1975.
Nội dung các bài học mang tính nhân bản trong sách quốc văn bậc tiểu học.
II. Khái niệm về nhân bản và triết lý nhân bản của nền giáo dục Miền Nam trước năm 1975.
Từ năm 1959, nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) đã lấy nguyên tắc căn bản: Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng làm triết lý giáo dục, và được ghi lại trong hiến pháp 1967.
Ba nguyên tắc căn bản: Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng là mục đích và tôn chỉ của nền giáo dục Miền Nam. Chính những nguyên tắc này đã giữ cho truyền thống dân tộc được bảo tồn và phát triển vững vàng, nhưng không bảo thủ, và từng bước theo kịp đà tiến triển của nhân loại.
Nền giáo dục nhân bản lấy con người làm gốc, tôn trọng giá trị của con người, đề cao giá trị siêu việt của con người. Con người khác hơn các sinh vật khác, con người có suy tư, có sáng tạo và làm cho đời sống càng ngày càng nâng cao. Con người cần được no cơm ấm áo, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng.

Trong xã hội có những cá nhân khác biệt, nhưng không thể đánh giá con người qua sự khác biệt đó để kỳ thị giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, địa phương, chủng tộc…
Mọi người đều được hưởng đồng đều về giáo dục (3). Đường hướng của nền giáo dục nhân bản là rèn luyện con người có nhân cách, có thái độ sống phù hợp với nguyên tắc đạo lý mà mọi người thừa nhận.
Do đó, một con người có nhân cách sẽ có lòng yêu thương: yêu gia đình, yêu đồng bào đồng loại và yêu quê hương đất nước. Nói cách khác, giáo dục không phải chỉ dạy kỹ năng nghề nghiệp hay kiến thức mà phải dạy làm người.
III. Nội dung các bài học mang tính nhân bản trong sách quốc văn bậc tiểu học
Nội dung, tư tưởng trong các sách giáo khoa tác động đến hình thành và phát triển nhân cách của trẻ thơ, nó in sâu vào tâm não trẻ thơ ngay trong giai đoạn đầu cắp sách đến trường cho đến lúc trưởng thành.
Các sách giáo khoa bậc tiểu học của miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) trước 1975 chú trọng những vấn đề luân lý đạo đức truyền thống, vẫn hàm chứa nội dung đạo đức trong các sách giáo khoa cũ của thế hệ 1940.
Sau đây là một số bài tiêu biểu về tình thương yêu đồng bào, đồng loại, lòng biết ơn đối với mọi người trong xã hội, tình yêu quê hương đất nước và tình yêu nhân loại.
1. Tình thương yêu đồng bào, đồng loại

Từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, người dân Việt Nam đã trải qua biết bao gian nan thử thách. Tổ tiên chúng ta đã đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn phức tạp, vừa khắc phục mọi trở lực khắc nghiệt của thiên nhiên để mở mang bờ cõi giang san, vừa phải chiến đấu giữ nước, chống kẻ thù mọi phía, đặc biệt là thế lực hùng mạnh phương bắc. Để tồn tại và phát triển, tổ tiên chúng ta đã ý thức cần phải đoàn kết thật sự, cần phải nương tựa vào nhau và thương yêu nhau như những người con cùng một mẹ.
Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Tinh thần đoàn kết này tạo thành truyền thống lưu lại cho con cháu mai sau.Theo truyền thống của người Việt Nam, tình thương yêu không chỉ dành cho trong gia đình, mà mở rộng đến cả đồng bào và đồng loại. Một giá trị tốt đẹp của con người là lòng nhân đạo. Muốn sống cho đúng nghĩa, con người phải biết thương yêu lẫn nhau. Khi thấy người hoạn nạn, đau yếu phải giúp đỡ bằng tình thương yêu chân thành. Quốc văn giáo khoa thư mượn bài thơ trong gia huấn ca để dạy học sinh:
Thấy người hoạn nạn thì thương,
Thấy người tàn tật lại càng trông nom,
Thấy người già yếu ốm mòn,
Thuốc thang cứu giúp, cháo cơm đỡ đần.
Trời nào phụ kẻ có nhân,
Người mà có đức, muôn phần vinh hoa
Nguyễn Trãi
(Gia huấn ca)
Có nhiều câu ca dao tục ngữ ẩn chứa triết lý tình thương được giảng dạy trong nhà trường, đã in sâu trong tâm khảm người Việt Nam:
“Lá rành đùm lá rách”
“Thương người như thể thương thân”
“Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng” (4)
Người trong một nước phải thương yêu nhau như con một nhà. Bài học về “Cậu bé miền Nam” trong quyển Tâm hồn cao thượng đã dạy học sinh về lòng thương yêu, không phân biệt Bắc Nam.
Một cậu bé miền Nam lên miền Bắc theo học. Được thầy giáo giới thiệu với các học sinh trong lớp, và được các học sinh nhiệt tình chào đón.
Thầy giáo nói với cả lớp:
“….Cho được các kết quả nói trên, nghĩa là làm cho đứa bé xứ Nam ra ở xứ Bắc cũng như ở nhà mình, và đứa bé ở xứ Bắc vào xứ Nam cũng tựa như về quê mình, nước ta phải chiến đấu trong 50 năm trời và đã hy sinh trên ba vạn người mới khôi phục được quyền tự do ấy. Vậy các con phải coi nhau như con một nhà, yêu nhau như anh em ruột thịt. Kẻ nào thấy người bạn mới không phải là người xứ mình mà đem lòng khinh rẻ, kẻ ấy không xứng đáng ngẩng mặt nhìn ngọn quốc kỳ đi qua…”(5)
Các bài học về tình thương yêu đồng bào, đồng loại đã nhắc nhở học sinh phải tôn trọng mạng sống của con người, có lòng nhân ái, biết trọng của người và không vọng ngữ. Đây là thước đo tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách của con người

1.1. Tôn trọng mạng sống của con người

Mạng sống của các sinh vật rất quí. Mạng sống của con người có giá trị tối cao. Nếu mỗi cá nhân biết quí mạng sống của mình, thì không thể xem thường mạng sống của kẻ khác. Một dân tộc được coi là văn minh là một dân tộc biết đề cao giá trị nhân phẩm của con người. Một người có lòng lương thiện không bao giờ sát hại đến sinh mạng của đồng loại và sinh mạng của cả sinh vật khác. Chỉ có con người dã man mới coi thường mạng sống của con người. Không sát sinh là cách chặn đứng lòng tham dẫm lên sinh mạng con người và sinh vật để mưu cầu tư lợi cho bản thân mình. Không sát sanh còn là nuôi dưỡng lòng trắc ẩn, từ bi đối với muôn loài.
“Trọng cái tính mệnh của người ta, là đừng làm điều gì phạm đến thân thể và quyền tự do của người ta. Người ta ở đời, không có gì trọng hơn cái tính mệnh, hễ phạm đến, là một tội đại ác.
Không những là giết người mới có tội, cậy quyền cậy thế mà hà hiếp người ta, làm mất cái quyền tự do của người ta, cũng là một điều trái với lẽ công bình, người có lương tâm không ai làm.”(6)

1.2. Lòng nhân ái

Không phạm đến tính mệnh, của cải, danh giá, sự tự do và sự tín ngưỡng của người. Nhưng đó chỉ là giữ không làm điều ác mà thôi. Như thế vẫn chưa đủ bổn phận làm người. Phải có lòng nhân ái.
Nhân ái là lòng từ thiện, thương người đói khát, giúp người hoạn nạn. Có lòng nhân ái, thì mới làm những việc như bố thí, cứu giúp kẻ nghèo khổ, mới biết thân yêu mọi người và quên mình mà làm điều thiện. Người có lòng nhân ái dám hy sinh cứu người trong lúc nguy nan như người thầy thuốc không sợ lây khi chữa những bệnh truyền nhiễm; người lính liều sống chết ở chỗ chiến trường để giữ lấy nước nhà. Họ vì lòng nhân ái mà ra sức làm nghĩa vụ.
Bổn phận người ta đối với xã hội, thường chia làm hai mối là: công bình và nhân ái. “Không hại người” tức là công bình, “làm hay cho người” tức là nhân ái.
Câu “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” trong sách luận ngữ, tức là công bình. Còn nhân ái thì ta có thể nói được rằng: “kỷ sở dục giả, khả thi ư nhân”
Người ta mà không công bình, chẳng những có tội đối với lương tâm, mà luật pháp lại còn trừng trị nữa. Giết người thì phải thế mạng; trộm cắp thì phải ngồi tù, xưa nay ở đâu cũng vậy.
Con người mà không có lòng nhân ái, thì tuy đối với luật pháp không có tội lỗi, nhưng đối với lương tâm, thì là không phải. Gặp người đói khó, mà mình không giúp người ta, cũng không ai bắt được mình, nhưng trong bụng không đành.(7)
Người có lòng nhân ái thì không những là chỉ thương xót đồng loại mà thôi, lại còn thương xót đến cả loài vật nữa.
…Những loài vật đã giúp việc cho ta mà ta phải thương xót, là cái nghĩa vụ của ta. Nhưng đối với loài cầm thú khác, ta cũng nên có lòng nhân ái mới phải đạo làm người. Cầm thú tuy là giống không biết thiện ác và phải trái như người, nhưng nó cũng biết đau, biết khổ như mình…(8)
Vì tình nghĩa đồng bào mà phát tâm bố thí, cứu giúp người đói khổ, hoạn nạn; chia xẻ miếng ăn, manh áo cho người khốn khổ. Sống đạm bạc, cứu giúp người đồng loại là hành đông của con người có lòng nhân ái.
Người có lòng nhân ái, không chỉ bố thí miếng cơm manh áo hay tiền bạc khi thấy người đói khổ, mà vì:
Nghĩa đồng bào khiến ta thương yêu mọi người như là thương yêu anh em ruột. Bao giờ ta cũng sẵn lòng giúp đỡ mọi người, để người ta làm tròn cái nghĩa vụ ở đời. Ta phải dạy bảo những người ngu dốt, khuyên người làm điều lành, răn người làm điều ác. Ta nên che chở cho những người bị oan ức và bênh vực những người hèn yếu. Ta phải ăn ở thế nào cho đứa con mồ côi có thể coi ta như cha, người quá phụ coi ta như ân nhân. Ta làm mắt cho kẻ mù, làm chân cho kẻ què, làm tai cho kẻ điếc. Lúc nào cũng sẵn lòng nhân từ mà giúp đỡ mọi người trong lúc nguy hiểm.(9)
Khi thấy ai nghèo đói, khổ sở, mình cho cơm ăn, áo mặc, hoặc cho tiền bạc để giúp đỡ người ta đỡ khổ trong một lúc. Nhưng việc bố thí này phải “… tự nhiên, không cầu kỳ, không khoe khoang, mà có phần thiệt thòi cho mình thì mới quí. Không cứ cho ít hay cho nhiều, miễn là mình có lòng thành thực, biết thương xót kẻ nghèo khổ, thì mới là phải cái nghĩa bố thí.”(10)
Ngoài việc bố thí, “người có lòng nhân ái thường hay nghĩ đến việc thiện, như là thấy ai nghèo khổ thì đỡ đần, tìm công việc cho người ta làm, hoặc cứu giúp những cô nhi, quả phụ cho người ta khỏi đói rét, vất vả.”(11)
Lời một bà mẹ nói với đứa con trong bài “Kẻ khó” (Tâm Hồn Cao Thượng) không chỉ làm rung động tâm hồn của trẻ thơ, mà ngay đối với người lớn tuổi cũng không khỏi bùi ngùi.
Con ơi! Con phải biết con có đủ cả, chứ kẻ khó thì thiếu hết. Khi con mong sao được sung sướng thì người nghèo chỉ cầu sao cho khỏi chết. Trong một khu có bao nhiêu nhà giàu, trong một phố có bao nhiêu người sang trọng qua lại, có bao nhiêu đứa trẻ ăn mặc xa hoa, thế mà vẫn còn thấy nhiều đàn bà và trẻ con đói khát, rách rưới! Thực đáng buồn thay! Muốn cho người ta khỏi chê con là một kẻ vô tình thì từ sau, con đừng bước qua một kẻ khó mà không cho gì!(12)
Bài thơ “Cách ăn ở” và “Những đứa trẻ mồ côi” là bài học luân lý về lòng nhân đạo mà học trò bậc tiểu học được học nằm lòng. Khi thấy người hoạn nạn, đau yếu phải giúp đỡ bằng tình thương yêu chân thành. (13)
Cách ăn ở
Ở cho có đức có nhân,
Mới mong đời trị được ăn lộc trời.
Thương người tất tả ngược xuôi,
Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.
Thương người ôm dắt trẻ thơ,
Thương người tuổi tác già nua bần hàn.
Thương người cô quả cô đơn
Thương người đói rách lẩm than kêu đường.
Thấy ai đói rét thì thương,
Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.
Thương người như thể thương thân,
Người ta phải bước khó khăn đến nhà.
Đồng tiền bát gạo mang ra,
Rằng đây cần kiệm gọi là làm duyên
Nguyễn Trãi
(Gia huấn ca)
Những đứa trẻ mồ côi
Có những con người đang thời hoa nở,
Sống trong niềm đau khổ: kiếp lầm than.
Cặp chân non ngày tháng những lang thang,
Trên đường phố ngút đầy bao gió bụi.
Tuổi niên thiếu dệt trong ngàn sầu tủi,
Không gia đình, cha mẹ, khát tình yêu.
Ôi long đong, thân trẻ nhỏ sớm chiều,
Ngàn cực nhục cũng chỉ vì cơm áo!
Tuổi niên thiếu lớn dần trong khổ não,
Mặt trẻ trung đầy những nét đau thương.
Sống lầm than, dầu dãi nắng mưa sương,
Thân còm cõi không đủ đầy nhựa sống.
Những trẻ ấy dưới bầu trời cao rộng,
Đưa mắt nhìn thèm khát cảnh yên vui.
Có chăng ai, chỉ một phút ngậm ngùi,
Cho thân phận con người xấu số.
Xuân Chính
(Tiểu học nguyệt san, tháng 3/1959)

1.3. Trọng của người

Người lương thiện, có đạo đức là người biết trọng tài sản, của cải của người khác. Tài sản là huyết mạch, liên hệ đến mạng sống của con người. Hãy bình tâm suy nghĩ, chúng ta không muốn ai cướp đoạt tài sản của mình, thì không thể nào chúng ta lại đi chiếm đoạt tài sản, của cải của người khác. Các hành vi bất lương dùng đủ mọi mưu mô, mánh khóe, lường gạt để chiếm đoạt đều là trộm cướp. Người được coi là đạo đức, dĩ nhiên là không trộm cướp, không tán thành và không giúp đỡ những người có hành động trộm cướp.
Của cải của ai, là người ấy có quyền chi dụng và có quyền để lại cho con cháu. Ta không nên phạm đến của cải của người ta. Không phải chỉ những đứa ăn trộm ăn cắp mới là người bất lương mà thôi. Điên đảo giả dối để đánh lừa người ta, đi vay vỗ nợ, bắt được của rơi mà không trả, cũng là bất lương cả.Ta phải biết rằng cái gì đã là không phải của mình thì ta đừng đem lòng tham mà chực lấy không, vì rằng lấy không của người ta, là một sự rất trái với đạo công bằng. (14)

1.4. Không vọng ngữ

Dùng lời lẽ, ngụy biện để làm sai lạc sự thật, nhầm đem lại lợi lộc cho mình, làm hại người khác đều là nói dối, vọng ngữ. Người đạo đức là người tôn trọng sự thật, không có tâm tham ác, không tán thành sự nói dối. Chuyện không nói có, chuyện có nói không, dựa vào những nguồn tin vu vơ để kết tội người khác là vọng ngữ. Trong gia đình và trong xã hội mà con người thiếu lòng tin với nhau thì cuộc sống ấy vô cùng đau khổ. Tuy nhiên cũng có những trường hơp vì mục đích cứu người lương thiện, bất đắc dĩ phải nói lời không thật; đây là một ngoại lệ (một vị bác sĩ phải dùng lời an ủi bịnh nhân).
Không nói dối bao gồm cả không nói lời ác khẩu, nói xấu, nói vu, chửi mắng, nhục mạ xúc phạm đến phẩm giá con người; không dùng lời trao chuốc, phù phiếm nhầm làm cho người khác có suy nghĩ sai lầm, đi đến hành động sai trái.
Sự nói xấu là cái tật cứ đi bới móc chuyện xấu của người ta mà nói. Người nói xấu là có ác ý hoặc để thỏa lòng ghen ghét, hoặc để khoe cái hay và che cái dở của mình. Người nói xấu là người hèn hạ đáng khinh, vì chỉ nói những lúc vắng mặt người ta, để làm cho người ta mất danh giá.
Vậy không những ta không nên nói xấu ai, mà cũng không nên nghe chuyện người ta nói xấu nhau.(15)
Nói vu là đặt chuyện ra mà vu cho ai để hại người ta, hay là làm cho người ta mất danh giá. Những người nói vu là người hèn mạt, bày đặt ra chuyện nọ trò kia để làm cho người ta mang tai mang tiếng, phải những điều oan ức, khó lòng mà rửa sạch được.
Ta đi học, đã biết điều phải trái, thì ta chớ hề nói vu cho ai bao giờ. Ta nên cho những điều ấy là điều hèn mạt, đáng khinh bỉ.(16)
Ngoài ra, chúng ta nên nhớ rằng:
Của cải của người ta, không phải chỉ nói riêng về tiền bạc, ruộng nương, nhà cửa, đồ đạc mà thôi, lại có một thứ của cải quí giá hơn nữa là cái danh giá ở đời. Danh giá tức là danh thơm tiếng tốt của người biết tự trọng mình, biết quí cái tư cách làm người, mà khinh bi những điều hèn mạt đê tiện.Của cải mất đi thì còn làm ra được, chớ cái danh giá đã mất thì khó lòng mà lấy lại được. Thánh nhân dạy rằng “Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác”, nghĩa là người quân tử làm thành tiếng hay cho người, chớ không làm thành tiếng xấu cho ai bao giờ. Vậy bổn phận mình trong xã hội là phải trọng cái danh giá của người ta, đừng có nói xấu ai, nói vu cho ai điều gì.(17)

2. Lòng biết ơn mọi người trong xã hội

Mọi người sống trong xã hội đều có tương quan nhau. Do nương nhờ nhau mà cuộc sống của mỗi cá nhân mới an ổn. Trong gia đình thì cha mẹ, vợ con, anh em nương tựa nhau. Ngoài xã hội, mọi người không thể sống lẻ loi. Tách rời mọi người ra, chúng ta không có cuộc sống an toàn. Cho nên đối với mọi người, chúng ta phải biết ơn, không được làm tổn hại. Câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn,” nói lên tinh thần biết ơn, là truyền thống đạo lý của con người Việt Nam.
Người làm ruộng có trồng trọt cấy cày, thì ta mới có thóc gạo mà ăn. Thợ nề, thợ mộc có làm nhà, thì ta mới có nhà mà ở. Thợ dệt có dệt vải, thợ may có may áo, thì ta mới có đồ mặc vào mình. Quyển sách ta học cũng phải có người làm, người in. Cái đường ta đi cũng phải có người sửa, người quét. Nói tóm lại, nhất thiết một chút gì ta cần dùng đến, cũng là có người chịu khó làm việc mới nên.(18)
Thật vậy, trong xã hội muốn sinh tồn thì mọi người phải có bổn phận đem sức mình giúp vào sự ích lợi chung. Bài “Giấc mộng” dạy học sinh biết yêu mến và nhớ ơn mọi người.
Nằm mộng thấy nông phu lại bảo:
“Ra công làm kiếm gạo từ đây.
Tao thôi chẳng có nuôi mầy,
Phải lo trồng trọt cấy cày cho siêng.”
Người dệt cửi dặn mỉnh làm áo;
Chú thợ hồ lại bảo cầm bay!
Bơ vơ chẳng kẻ đoái hoài,
Tôi mang thơ thẩn đọa này cùng nơi.
Tôi túng thế vái trời cứu thử,
Lại thấy kia sư tử trên đàng!…
Tỉnh ra, thấy sáng, mơ màng!
Tiểu công hút gió, rộn ràng trên thang;
Nghe máy dệt rần rần tiếng chạy;
Ruộng đâu đâu cũng cấy đã xong.
Phận mình nghĩ lại thong dong,
Mới hay dưới thế ai không nhờ người.
Từ ngày rõ cuộc đời đắp đồi,
Cám thương người xã hội như nhau.
Dập dìu kẻ trước người sau,
Sức riêng một ít giúp vào lợi chung.
Nguyễn ngọc Ẩn
(100 Bài Tập đọc, Lớp Nhất và Lớp Nhì)
Bài học “Nên giúp đỡ lẫn nhau” cho thấy hình ảnh hai cậu bé phụ đẩy xe giúp ông lão, là bài học nhắc nhở học sinh về tình tương thân tương ái.
Trời nắng to. Đường thì dốc. Một ông lão đẩy chiếc xe lợn. Trên chiếc xe có có ba bốn con lợn to, chân trói, bụng phơi và mồm kêu eng-éc. Ông lão cố đẩy cái xe, mặt đỏ bừng, mồ hôi chảy, mà xe vẫn không thấy chuyển.
Mấy cậu bé đang chơi trên bờ đê, thấy thế, vội chạy tới, xúm lại, buộc dây vào đầu xe mà kéo hộ.
Xe lên khỏi dốc, ông lão cám ơn các cậu và các cậu cũng lấy làm vui lòng, vì đã giúp được việc cho người.(19)
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, những bậc tiền nhân đã đổ biết bao nhiêu xương máu để vun bồi và tô điểm cho mảnh giang san gấm vóc. Họ là những vị anh hùng dân tộc. Anh hùng, không phải chỉ có những người có chiến công hiển hách, có tài năng nổi bật làm những việc phi thường được ghi công trong sách sử, mà còn biết bao nhiêu người, đủ mọi tầng lớp, mọi giai cấp đã âm thầm cống hiến đời mình cho quê hương dân tộc, không bao giờ được nhắc đến tên tuổi. Họ là:

Anh hùng vô danh
1. Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mông mênh,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.
2. Họ là kẻ tự nghìn muôn thuở trước,
Đã phá rừng, xẻ núi, lấp đồng sâu,
Và làm cho những đất cát hoang vu
Biến thành một dãy san hà gấm vóc…
3. Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi,
Trong loan ly như giữa lúc thanh bình,
Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh,
Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
4. Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vang, bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên,
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật.
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non song,
Và anh hồn cùng với tấm tinh trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt. (20 & phụ lục)
Việt Tâm
(100 Bài tập đọc Lớp Nhất & Lớp Nhì)

3. Tình yêu quê hương đất nước
Tình thương yêu gia đình, cha mẹ anh em và người thân là tình cảm khởi đầu cho tình yêu đồng bào, tình yêu quê hương đất nước.
“…Con sẽ cảm thấy tình yêu nước, khi con ở nước ngoài, và chợt nghe thấy một người trong đám thợ thuyền nói tiếng nước con, theo lòng con xúi dục, tự nhiên con đến hỏi chuyện người bạn không quen ấy. Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con nghe người ngoại quốc lăng mạ xứ sở con, lòng tức giận sẽ làm cho con nóng mặt…” (21)



Nhằm hun đúc tinh thần yêu nước cho học sinh, đề cao lòng tự hào dân tộc, ca ngợi những chiến công oanh liệt bảo vệ tổ quốc của các bậc tiền nhân, bài thơ sau đây nhắc nhở học sinh chăm chỉ học để sau này nối chí tiền nhân (22 & phụ lục):

Giờ Quốc sử
Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ Quốc sử.
Thầy tôi bảo: “Các em nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này nối được chí tiền nhân.
Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.


Mỹ Trang sưu tầm