Mar 13, 2012

Nghe Nhạc Thanh Thúy


MUSIC & VIDEOS

Tình anh như kẻ không nhà


Tình anh như kẻ không nhà
Thơ NĐS

Tranh Bùi Xuân Phái
Anh về đây khi mùa xuân vừa đến
Thấy ấm lòng vì giọt nắng em cho
Hà nội xa như câu chuyện ban đầu
Em còn nhớ trời cho mưa đêm ấy

Anh gặp em ba mươi năm đã muộn
Nhưng biết mình quen nhau đã trăm năm
Thương em sao anh không nói trọn lời
Để em biết khoảng không anh chờ đón

Anh là cây thông một đời trơ trọi
May có em là đất cát thương yêu
Ru cho anh bằng câu nói sơm mai
Để nghe rõ tiếng em cười trong gió

Anh về đây khi mùa đông vừa dứt
Em nhắn lời gói câu chuyện mang theo
Mở em xem bao thương nhớ xót xa
Để em biết khoảng bình yên em giữ

NĐS
(bạn của TUL)










Mar 12, 2012

Đi dự đám cưới con trai Anh Thư


100_2868



 
PHAN HUY & BẢO TRÂN
3-12-2012


    Đám cưới con trai Anh Thư: Phan Huy và cô dâu Bảo Trân được tổ chức tại nhà hàng Gala Royal rất sang trọng, ấm cúng và lịch sự, ở đường Mạc Đỉnh Chi .
     Nhà các bạn Thành Oanh, Dung và Liên rất gần, chỉ cần đi bộ một chút là tới ngay! Hết sức tiện lợi! Nhà hàng có đội ngũ tiếp viên ăn mặc rất đàng hoàng, lịch sự. đón tiếp rất chu đáo, tận tình....Tụi Thanh rủ nhau đến sớm ...dể nói chuyện tâm tình! Nhìn cô dâu chú rể rất đẹp đôi! Bà mẹ chồng luôn miệng cười tươi như hoa!
     Nhóm bạn Trưng vương gồm đầy đủ các bạn Thành Oanh, Dung, Liên, Kim Thoa, Anh Bằng, Loan,Đoàn thị Liên, Bích Ngọc( dược sĩ),Thu Nguyệt (bạn đã may áo dài cho Bà mẹ chồng đấy), Đoàn thị Nam và Thanh( áo dài Thanh mặc là của Mỹ đệp cho đấy! Vừa lắm, không cần sửa gì cả!).Ôi! Bạn cũ năm mươi năm( học với nhau từ năm 1963) cùng ngồi bên bàn tiệc dự tiệc cưới của con thì vui biết nhường nào!!!Mong lại được gặp nhau trong các đám cưới con và ...có thề là cháu sau này nữa thì còn gì bằng! Loan bảo lúc đó bàn tiệc sẽ đặt toàn là món súp và cháo thôi! Cũng được! Miễn là gặp nhau!
     Công nghệ tiệc cưới bây giờ hiện đại quá! Cứ mỗi món lại thay đĩa hoặc bát mới, trắng tinh,ăn món nào thì có người phục vụ gắp thức ăn cho từng người món nấy! Khỏi lo giành nhau!Nói vậy chứ sức ăn tuổi tụi mình bây giờ đâu có mạnh như hồi trẻ đâu!
     Đám cưới mời khoảng hơn hai mươi bàn là vừa, cô dâu ,chú rể đi chụp hình từng bàn tiệc cũng đỡ mệt. Chứ Thanh thấy có đám cưới gì mà tổ chức tới hơn bảy chục bàn! Cô dâu chú rể phải nói là chạy từng bàn chụp hình tới bở hơi tai!
Đám cưới có đánh đàn nhạc vui tươi vửa phải nên còn nói chuyện với nhau nghe được ,chứ có đám cưới mở nhạc quá lớn, ca hát lớn quá bát cả tai người dự tiệc, nói như hét vào tai mà cũng không nghe được!
     Xong tiệc cũng khoảng tám giờ tối,trời Saigon giờ này mát mẻ và không còn mùa mưa nên đi về chung đường với nhau một đoạn cũng thấy vui như thuở xa xôi nào...
   Có vài tấm ảnh chụp chung với các bạn, Thanh chỉ biết cách gửi ít thôi, các bạn ạ!Thanh gửi ở mail sau ấy!

                                                                                                                        KimThanh

__._,_.___




__,_._,___

Video clip họp mặt TV6370 /2012-PHà &TUL

Mar 8, 2012

Hội Phụ Nữ VN Hải Ngoại Bắc Cali Tưởng Niệm Hai Bà Trưng

Hội Phụ Nữ VN Hải Ngoại Bắc Cali Tưởng Niệm Hai Bà Trưng

(03/08/2012)

Tác giả : NGỌC DUNG










Hội Viên Hội Phụ Nữ Hải Ngoại hát bài "Đáp Lời Sông Núi."

SAN JOSE (Việt Báo Bắc California) -- Trên 300 đồng hương và thân hữu của Hội Phụ Nữ VN Hải Ngoại Bắc California đã tổ chức lễ tưởng niệm nhị vị Trưng Nữ Vương vào lúc 12:00 pm trưa Chủ Nhật 4-3-2012 tại 2290 Tully Road, San Jose.


Buổi lể khai mạc với nghi thức chào Quốc Kỳ Hoa Kỳ và Quốc Kỳ VNCH cùng phút mặc niệm diễn ra thật trang nghiêm. Bà Cao Thị Tình giới thiệu quan khách; các tổ chức cộng đồng; hội đoàn và đoàn thể chống cộng; trong đó đặc biệt có các vị sau đây: Ông Jose Esteves, Thị Trưởng Thành Phố Milpitas; Kansen Chu, nghi viên khu vực 4 Thành Phố San Jose và phu nhân,; Nguyễn Thế Vũ, đại diện Giám Sát Viên khu vực 3; Hải Quân Đề Đốc Trần Văn Chơn; các cụ Nguyễn Hữu Hãn và Trương Đình Sửu của Hội Người Việt Cao Niên; ông Nguyễn Hữu Nhật, Hội trưởng Học Viện CSQG; Nguyễn Cữu Hiệp và ông Cao Minh thuộc LL Chiến Sĩ Không Quân; ông Vũ Huynh Trưởng, Ủy Ban Chống Cộng Bắc California; ông Ngô Văn Tiệp và ông Trần Huyền thuộc Liên Đoàn Cử Tri; ông Nguyễn Đức, Hội Cựu Tù Nhân Bình Điền; anh hùng Lý Tống; cô Lam Hương khối 8406; cựu Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Văn Thông; quả phụ Khương Trâm là phu nhân của cố đạo diễn Hoàng Anh Tuấn… cùng một số quan khách đặc biệt khác.


Bà Christine Hồ là Hội Trưởng Hội Phụ Nữ VN Hải Ngoại Bắc California cám ơn quý quan khách tham dự buổi lễ và sơ lược tiểu sử của nhị vị Trưng Nữ Vương là hai nữ tướng Trưng Trắc và Trưng Nhị của lịch sử oai hùng Việt Nam. Sau khi chồng của bà Trưng Trắc bị bọn giặc Tàu giết chết vì chống Tàu xâm lược áp bức dân tộc, bà Trưng Trắc đã cùng em gái là Trưng Nhị đứng lên dựng cờ khởi nghĩa “trả thù nhà , đền nợ nước”, lật đổ chế độ cai trị của giặc ngoại xâm phương bắc. Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương; Trưng Nhị với chức vụ là Bình Khôi Tướng Quân, thống lãnh quân lực chống trả các cuộc tấn công cướp nước của bọn giặc Tàu phương bắc.


Bà Lê Kim Ánh chủ tế cùng các thanh thiếu niên Đoàn Hướng Đạo Ra Khơi dâng hương, hoa, quả, rượu.. và tế lễ theo nghi thức truyền thống dân tộc Việt Nam.
Nữ ca sĩ Như Hà đã đọc Văn Tế tưởng nhớ những chiến công oai hùng của nhị vị Trưng Nữ Vương và cầu xin Nhị Vị phù hộ cho toàn dân trong nước và hải ngoại quyết tâm đứng lên chống giặc Tàu Cộng xâm cướp Hoàng Sa, Trường Sa và nhất là giải thể chế độ CSVN là chế độ bán nước, “hèn với giặc ác với dân” thì mới có thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, hầu xứng đáng giòng giống Lạc Hồng. Văn Tế với giọng ngâm tế truyền cảm của nữ ca sĩ Như Hà đã làm xúc động mọi người hiện diện.
Mỡ đầu chương trình văn nghệ là phần hoạt cảnh "Mê Linh Khởi Nghĩa" do đoàn võ thuật Vovinam của Võ Sư Cẩm Bình trình diễn. Tiếp theo là hàng loạt bài hát đấu tranh được trình bày với các tài năng trong Hội. Các hội viên hợp ca bài “Đáp lời Sông Núi” và quý quan khách tham dự cùng hát theo.


Buổi lễ tưởng niệm nhị vị Trưng Nữ Vương là truyền thống hằng năm của Hội Phụ Nữ VN Hải Ngoại Bắc California, nhằm nhắc nhở cho thế hệ sau ghi nhớ đến những vị anh thư liệt nữ đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc hầu thúc giục các thế hệ con cháu phải nhớ câu “Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh” . Hội kêu gọi chị em phụ nữ trong nước và hải ngoại hãy cùng mạnh dạn đứng lên một lòng đoàn kết chống giặc Tàu ngoại xâm, chống giặc CSVN nội thù bán nước để quyết bảo vệ toàn vẹn Lãnh Thổ Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước đang lâm nguy hiện nay.


(Bài của nữ phóng viên NGỌC DUNG. Hình do Trần Vũ và Nguyễn Hữu Phong - Việt Báo Bắc Cali và VietPress USA).


Mar 7, 2012

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương



Nguyễn Quý Đại

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, một thiên tài nhưng bất hạnh

Ngồi buồn nhớ chị Xuân Hương
Hồn thơ còn hãy như nhường trêu ai..

Giấc mộng con của Tản Đà



Dân tộc Việt Nam luôn chiến đấu dành độc lập, tự do, mở đầu cuộc khởi nghiã của chị em Hai Bà Trưng (40-30 trước công Nguyên) và Bà Triệu (năm 248) để lại những chiến tích oai hùng. Những người không cầm gươm, đao xông pha nơi chiến trận, thì cầm bút đóng góp cho nền văn hoá dân tộc những nhà thơ nữ nổi tiếng như : Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công Chúa với Ai tư vãn.. Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh. Nữ sĩ nổi tiếng một thời được gọi là Bà Chúa Thơ Nôm (1) Hồ Xuân Hương xuất hiện vào thế kỷ thứ 18. Giai đoạn đất nước chia đôi hai miền Nam Bắc. Trịnh - Nguyễn phân tranh gọi là Đàng trong Đàng ngoài, lấy sông Linh Giang làm biên giới từ những năm 1627 đến 1772.

Hồ xuân Hương sinh năm (1772-1822) (2) con ông Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Nghệ An. Theo một số tài liệu dẫn chứng: Hồ Sĩ Anh đời nhà Lê sinh bốn người con trai : Hồ Thế Viêm, Hồ Phi Quyền, Hồ Phi Cơ, Hồ Phi Tích (1665-1734 đậu Hoàng giáp năm 1700). Hồ Thế Viên là ông Tổ bốn đời của anh em nhà Tây Sơn đã đổi từ họ Hồ sang Nguyễn, còn Hồ Phi Cơ là ông tổ bốn đời cuả Hồ phi Mai tức nữ sĩ Xuân Hương. Như vậy Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Hồ Xuân Hương là anh em cùng họ ông tổ năm đời (3)

Hồ Xuân Hương và thân phận

Ông Hồ Phi Diễn thi đỗ Tống Sinh làm quan cuối thời đại vua Lê. Ông đã lập gia đình nhưng cưới thêm vợ thứ quê Hải Dương, sinh ra Xuân Hương. Lúc Xuân Hương 13 tuổi thân phụ mất, Xuân Hương rời làng Khán Xuân theo mẹ về làng Thọ Xương gần Hồ Hoàn Kiếm, đi học một thời gian phải ở nhà giúp mẹ lo sinh sống gia đình. Xuân Hương tự học thêm, thông minh làm thơ hay, tiếng tăm lừng lẫy. Có Tổng Kình tên tự Nguyễn Công Hoà tục gọi là Tổng Cóc ở làng Tứ Xã (nay thuộc huyện Phong châu - Vĩnh Phú). Cai Tổng mến tài của Xuân Hương, nhờ người mai mối cưới Xuân Hương làm thứ thiếp. Theo tục truyền chiều 30 tết, Tổng Cóc đem biếu quà tết cụ Đồ Xứ bị Hồ Xuân Hương ra câu đố.

"Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới“

Sáng hôm sau, Tổng Cóc đến làm xong thủ tục xông nhà đọc lại câu đối

"Sáng mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào“

Có thể Xuân Hương mến mộ chàng trai nầy có khiếu văn chương? nên nhận lời kết hôn với Tổng Cóc. Theo tài liệu của Giáo sư Lê trí Viễn (4), Tổng Cóc không phải là một anh trọc phú, mà là một nho sĩ từng có phen lều chõng như ai và trong sự gặp gỡ Xuân Hương có chuyện chữ nghiã chứ chẳng phải chỉ có đồng tiền ..“ Tổng Cóc yêu thương Xuân Hương và từng bảo nàng làm thơ viết vào gỗ để người ta sơn then giữ cho bền, hiện nay tại nhà thờ của ông Kiều Phú, thôn Đại Đình, xã Sơn Dương huyện Phong Châu, Vĩnh Phú còn tấm ván mít ghi những nét thơ Nôm của Hồ Xuân Hương. Bút tích còn 4 câu thơ :

Thảo lai băng ngọc kính
Xuân tận hoá công hương
Độc bằng đan quế thượng
Hào phóng bích hoa hương


tạm dịch

Nói đến tấm gương bằng ngọc
Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân
Chỉ bằng lúc vin cành quế đỏ
Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm
(5)


Tình yêu giữa hai người không được bao lâu trong hoàn cảnh gia đình mà người chồng yếu đuối, Xuân Hương bản tính nghệ sĩ giao tiếp rộng.. không tránh được va chạm hằng ngày trong xã hội phong kiến "Đau đớn thay phận đàn bà! Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu“ Xuân Hương bị gia đình bên chồng đè nén với thân phận làm lẽ. Nên đã phản kháng quyết bỏ nhà ra đi. Thân phận của Xuân Hương cũng như hoàn cảnh của kiếp đàn bà làm lẽ mọn :

Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung !
Năm thì mười hoạ chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Thân nầy ví biết dường nầy nhỉ
Thà trước thôi đành ở vậy xong
Ca dao cũng có bài
Tối tối chị giữ mất buồng
Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho
Đến khi chồng xuống gà o o gáy dồn...


Từ giã gia đình Tổng Cóc đi tìm phương trời thơ mộng tự do hơn, vốn người yêu thơ văn lãng mạn muốn vượt qua bức tường nho giáo khắc nghiệt, nhưng không tránh được cái nghiệp tình duyên ngang trái. Xuân Hương lấy ông phủ Vĩnh Tường, tình yêu được trân quý hơn, nên Xuân Hương làm bài thơ giã từ “khóc Tổng Cóc“.

Chàng Cóc ơi ! Chàng Cóc ơi !
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.


Bài "khóc Tổng Cóc “gây nhiều dư luận trong văn học, những người ở Làng Mương, làng Giáp nói bài thơ đó là khóc cho mối tình của Xuân Hương, không phải khóc người chồng đã mất, bởi vì Xuân Hương từng khổ đau với hoàn cảnh làm vợ lẽ trong gia đình Tổng Cóc nên dùng những từ ngữ chỉ họ hàng nhà Tổng Cóc nào là nòng nọc đứt đuôi..để giễu lúc Tổng Cóc còn sống, Xuân Hương lập gia đình với ông phủ Vĩnh Tường cũng trong cảnh lẽ mọn không tránh được cảnh khổ ghen tương cay độc như Hoạn thư

Rằng tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình
Lòng riêng, riêng cũng kính yêu.
Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai

Kiều cuả Nguyễn Du


Thời gian chung sống tri ngộ ông phủ Vĩnh Tường (ở Thổ Tang, Vĩnh Phú bây giờ) tuy làm vợ lẽ nhưng ông Phủ coi nàng là bạn văn chương tình duyên không đến nỗi bẽ bàng. Nhưng tình nghiã vợ chồng chỉ trong 27 tháng ông Phủ mất, Xuân Hương đã khóc chồng. Cuộc đời Xuân Hương về tình duyên bất hạnh.

Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi!
Thiếp bén duyên nàng có thế thôi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời
Cán cân tạo hoá rơi đâu mất;
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc;
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi !

Cuộc đời Xuân Hương có thể “bảy nổi ba chìm” qua hai đời chồng hy sinh cả đời chịu thân phận làm lẽ mọn, nỗi khổ đau cũng là niềm dang dở cái mối duyên thiên, duyên trời nào có phải là hậu qủa oan nghiệt của con nguời như "chữ tài liền với chữ tai một vần“ !

Thơ và bạn đời

Tập thơ Lưu Hương Ký chú dẫn: Hoan Trung Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương nữ sĩ sử tập Lưu Hương Ký viết xong năm Giáp Tuất (1814) mãi đến năm 1964 được phát hiện (?). Tên di cảo có nghiã là ghi mùi hương thơm của ngọc lưu, chữ Lưu này nhắc nơi Xuân Hương sinh ở huyện Quỳnh Lưu. Trong tập thơ có 30 đầu đề ; 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm, phần xướng hoạ có lẫn thơ của văn nhân thời bấy giờ để lại số đề tài khúc chiết, nồng nàn yêu đương mong đợi. Ở Cổ Nguyệt Đường do Xuân Hương dựng lên ở phường Khán Xuân gần Hồ Tây khu vực vườn Bách Thảo, trường Bưởi đường Cổ Ngư làng Yên Phụ. Tình yêu, tình bạn của Xuân Hương rất nhiều bài gợi cảm, lãng mạn với những văn nhân thi sĩ như (trích dẫn mỗi người một tựa đề) :

Thi hào Nguyễn Du (1765-1820) bài: Cảm cựu Kiêm Trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không ?
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sưong đeo mái
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng treo...


Xuân Hương với Tốn Phong hai bài : Ngụ ý đến Tốn Phong Thi“ v v..

Đường hoa diù dặt bước đông phong
Nghĩ kẻ tìm thơm cũng có công
Lạ mặt dám quen, cùng gió nước
Nặng lòng nên nhẹ đến non sông
Da trời nắng nhuộm tươi màu biếc
Phòng gấm trăng in dải thức hồng
Ai nhớ lấy cho lòng ấy nhỉ !
Trước trăm năm hẳn nợ chi không ?


Xuân Hương với Hiệp trấn Sơn Nam Thượng họ Trần Ngọc Quán...

Vác cắm đàn tao một ngọn cờ
Ấy người thân đấy, phải hay chưa ?
Lắc đầy phong nguyệt lưng bầu rượu
Giắt lỏng giang hồ nửa túi thơ
Đình nguyệt góp người chung đỉnh lại
Trời Hoan mỏ mặt nước non xưa
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá ?
Thèo đảnh khen ai khéo đạt cho!

Xuân Hương với Mai Sơn Phủ" Hoạ thơ Sơn Phủ“ bài thơ bằng Hán văn gởi bạn tỏ lòng quyến luyến nhớ thương. khoảng thời gian (1799- 1801)

Này đoạn chung tình biết với nhau
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu
Trên tay khép mở tanh chiều nhạn,
Trước mặt đi về gấp bóng câu
Nước mắt trên hoa là lối cũ,
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu
Vắng nhau mới biết tình nhau lắm
Này bạn chung tình biết với nhau..

Xướng họa với Chiêu Hổ tức Phạm đình Hổ (1768-1839) đối thủ với Hồ Xuân Hương

Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Này này chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay..


Xuân Hương trải qua nhiều kinh nghiệm nhân sinh, nhất là về ái tình để rồi "quang cảnh trong đời chiếc gối mơ!” đời sống phóng túng của Xuân Hương để nhận lấy lời phê bình “tự thán“

Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn
Một đời riêng mấy tiếng chua cay


Sau khi viết xong tập Lưu Hương Ký (1814), bảy năm sau (1822) Xuân Hương mất, nhưng mộ bà được táng ở đâu? ngày nay vẫn chưa tìm được tung tích, chắc chắn cũng ở quanh Hà Nội ? năm 1842 Tùng Thiện Vương ra thăm cảnh Hồ Tây có làm bài thơ viếng mộ Xuân Hương "Long Biên trúc chi từ“ bản dịch ra Việt ngữ của học giả Hoàng Xuân Hãn

Đây hồ rực rỡ hoa sen
Sai người xuống hái để lên cúng đàn
Chớ trèo qua mộ Xuân Hương
Suối vàng còn giận tơ vương lỡ làng
Sen tàn, phấn rữa mồ hoang
Xuân Hương đã khuất bên làn cỏ xanh
U hồn say tít làm thinh
Gío xuân mấy độ thế tình không hay !!

Những nét tiêu biểu trong thơ Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương trưởng thành trong giai đoạn lịch sử chiến tranh, ảnh hưởng nặng nề phong kiến “nhất nam viết tử thập nữ viết vô”. Đàn bà ít được đi học ứng thí như đàn ông, may mắn học ít chữ, lấy chồng sanh con lo việc nội trợ. Xuân Hương đã tỏ ra là một thiên tài, làm thơ khẩu khí bị trợt té người ta cười, bà làm ngay hai câu thơ để chữa thẹn

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài


Hồ Xuân Hương thông minh, có tài, khá tiếc thay sinh ra phận gái nên cái lỗi lạc của bà thành ra lãng mạn mà lắm người cho là “lẳng lơ“! Nhưng hãy đọc mấy câu thơ sau của bà, dũng khí như một đấng tu mi nam tử. Khi đi ngang qua miếu Sầm Nghi Đống, bị vua Quang Trung giết ở Đống Đa mùng 5 tháng giêng năm Kỷ dậu 1789. Người Hoa lập miếu thờ, tin đồn miếu linh thiêng nên Xuân Hương đã đề mấy câu thơ :

Ghé mắt trông nghiêng thấy bảng treo
Kià đền Thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu ?


Dưới xã hội thời phong kiến người ta quan niệm „trai năm thê bảy thiếp, gái chín chuyên chỉ một chồng“ Xã hội bất công ! vấn đề đa thê ngày nay không được chấp nhận (ngoại trừ các nước theo Hồi Giáo). Ngày xưa chồng chết vợ phải thủ tiết thờ chồng.. Nhưng Xuân Hương đã muốn phá cái phong tục thời đó. Nên lúc sống với ông Phủ Vĩnh Tường, có người goá phụ còn trẻ muốn được tái giá, làm đơn xin quan phủ xét, gặp lúc ông phủ đi vắng, Xuân Hương xem đơn và phê ngay :

Phó cho con Nguyễn thị Đào
Nước trong loe lẻo cắm sào chờ ai ?
Chữ rằng xuân bất tái lai
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già .


Những bài thơ tuyệt tác của Xuân Hương được lưu truyền hậu thế qua tập Lưu Hương Ký. Biệt tài thơ Xuân Hương dùng chữ Việt thuần tuý, không vay mượn điễn tích sáo ngữ, đọc thơ hiểu được nghiã đen và nghiã bóng. Đọc thơ Hồ Xuân Hương với tâm hồn nghệ sĩ thực sự phát hiện được những khía cạnh miêu tả rất thẩm mỹ.

Đọc bài "Ngủ quên" như xem bức tranh trưa hè người thiếu nữ đang ngủ, độc giả có thể liên tưởng đến bức tượng khỏa thân với những đường nét tuyệt vời sống động... cảm thấy rung động nghệ thuật trước hình ảnh đẹp lành mạnh.

Tranh Bùi Xuân Phái

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong.

Cái đẹp bất cứ ở đâu đều được mọi người yêu chuộng, người trần tục ai thấy hoa đẹp không muốn nhìn? Từ xưa và nay nhiều phê bình bàn cãi tranh luận, thơ Xuân Hương mang tính chất dâm và tục ..Những người yêu thơ Xuân Hương thường hết lời ca tụng xem những sáng tác cuả Xuân Hương kỳ diệu từ cách dùng chữ chính xác âm điệu kỳ tài.. Nhóm khác phê bình thơ mang chất tục sinh lý đè nén "Libido“ ..Bài thơ đầu đề không được thanh “Dương vật“ Hồ Xuân Hương tả rất hay

Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Ban đêm không mắt sáng như đèn
Đầu đội nón da loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen

Để có thể thẩm định thế đứng của nhà thơ nầy, nói về Văn học không thể đọc một số bài thơ rồi cho là dâm tục có quá đáng chăng?.. Bởi vì vấn đề Tình Dục từ Á sang Âu thường được trình bày qua các tác phẩm văn chương, những hình điêu khắc chạm trổ trong các Cung điện, Đền đài lưu tại từ ngàn năm về trước có những nét đẹp độc đáo như thân thể đàn bà qua những đường cong tuyệt vời, bộ ngực no tròn lồ lộ dưới lớp xiêm y mỏng manh .. những tác phẩm đó thể hiện linh động văn hóa, sắc thái mang tính chất diễn tả về nghệ thuật. Mỗi dân tộc văn minh có sinh hoạt văn hoá khác nhau, Nhiều sắc dân họ thờ các bộ phận sinh dục, dân tộc Chàm xây các Tháp theo hình tượng Lingam (dương vật) tình dục được nói đến trong sinh hoạt của con người. Xã hội bình dân xưa không thoát khỏi qui luật dục vọng cá nhân là lẽ sống con người, dục vọng tập thể là lẽ sống của xã hội. Bởi vậy ca dao được truyền tụng trong dân gian.

Có chồng từ thuở mười lăm.
Chồng chê tôi nhỏ không nằm cùng tôi.
Đến chừng mười chín đôi mươi.
Tôi ngủ dưới đất chàng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn cẳng giường gãy một còn ba!

(Ca dao)


Đời sống qua thi ca bình dân, diễn tả trào lộng, vui tươi vốn có trong thực tế không nói xa gần, cái điếu cày hút thuốc người bình dân .

Lòng em cay đắng quanh năm
Khi ngồi, khi đứng, khi nằm nghênh ngang
Các anh các bác trong làng
Gặp em thì lại vội vàng nâng niu
Vắng em đau khổ trăm chiều
Tuy rằng cay đắng nhưng nhiều người mê

(ca dao)


Nổi tiếng như Truyện Kiều diễn tả lại chuyện tình dục trong khuê phòng,

Đêm xuân một giấc mơ màng
Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ

hoặc

Này con thuộc lấy nằm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời
Khi khóe hạnh khi nét ngài
Khi ngâm ngơi nguyệt khi cười cợt hoa
Điều là nghề nghiệp trong nhà
Đủ ngần ấy nếp mới là người soi


Hay Trạng Quỳnh với bài tạ ơn cô hàng bánh

Đương cơn nắng cực đói lòng thay
Thết đãi ơn cô có bụng nầy
Giờ biết lấy gì mà tạ lại
Xin quỳ hai gối chống hai tay


Sinh hoạt xã hội bất kỳ ở tầng lớp nào, dục tính cá nhân vẫn len lỏi vào cuộc sống. Cái khác biệt toàn thể về bản chất không ai giống ai. Hồ Xuân Hương người trần tục nên ca tụng sinh họat trần tục và những niềm vui trần tục, đọc thơ Xuân Hương để tiếp nhận cái tinh thần hồn nhiên trong ca dao, tục ngữ. Tôi Không đào sâu cái „tục“ trong thơ làm đề tài chính. Thơ Xuân Hương rất sống động tài tình mang tinh hoa khác, đó là một giá trị tồn tại mãi mãi trong lâu đài văn hoá dân tộc. Đọc hai bài thơ sau để so sánh bài đèo Ngang và đèo Ba Đội cuả hai nữ sĩ

Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ (rợ) mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta

(Huyện Thanh Quan)


Chúng ta cảm nhận bài thơ ấy hay nhẹ nhàng trang nhã, bài nầy có 8 câu nhưng vay mượn ý của hai câu chữ Hán

Dạ thính đỗ quyên minh quốc quốc
Nhật văn cô điểu khiếu gia gia

Nghiã là

Đêm nghe đỗ vũ kêu quốc quốc
Ngày lắng gà rừng gọi gia gia


Hồ Xuân Hương vịnh đèo Ba Đội là một bức tranh tả chân đơn sơ

Một đèo, một đèo lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm lum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đià lá liễu giọt sương rơi
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mõi gối chồn chân cũng muốn trèo


Bài thơ nầy đọc qua độc giả có thể nhận ra ngay đó là đèo Ba Đội, "một đèo, một đèo lại một đèo“ từ màu sắc “cửa son đỏ lóet; tùm lum, xanh rì; lún phún; lắt lẻo“.. Xuân Hương đã tài tình tạo ra một bức tranh sống động thành hợp tấu kỳ thú, từ âm thanh, màu sắc, nếu đi qua đèo thi độc giả chia sẻ với thi nhân Xuân Hương là một nhạc sĩ tài tình, phối hợp cả âm thanh, màu sắc, không gian lẫn thời gian, tạo những nét đặc sắc, thông thường ít nghe diệp âm 'hõm hòm hom, toen hoẻn ..' trong bài vịnh hang Cắc Cớ

Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm đôi mảnh hõm hòm hom
Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm
Gịot nước hữu tình rơi lõm bõm
Con đường vô ngạn tối om om
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm


Giọt nước từ những thạch nhủ rơi từng giọt, xuống vũng nước bên dưới lõm bõm, con đường vào hang thiếu ánh sáng. Ngày nay nhờ phương tiện lưu thông thuận lợi, nếu ghé hang Thánh Hoá ở làng Thuỵ Khê, huyện Sài Sơn tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) hang ở hòn núi có Chùa Thầy. Hàng năm có hội chùa Thầy mà không vào hang Cắc Cớ thì coi như chưa biết chùa Thầy. Đến đó sẽ nhớ ngay nữ sĩ Xuân Hương ! là một thiên tài cũng vịnh cảnh Chùa Hương Tích ở huyện Mỹ Đức Hà Đông rất linh động cảnh trời mây non nước..vào những ngày đầu xuân, hội Chùa Hương nhộn nhịp, người tu hành thì ít, kẻ trần tục thì nhiều, muốn lên phải gọi là trèo các bậc thì đúng hơn là đi, chen chân trong động hương khói pha mờ mù sương.

Người quen cõi Phật chen chân xọc
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm...


Bài "đánh đu“ bức tranh quê sống động hơn, diễn tả cảnh vui xuân náo nhiệt

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng châu ngọc duỗi song song
Chơi xuân ai biết xuân chăng tá ?
Cột nhổ đi rồi, lỗ bỏ không !

Có thể Hồ Xuân Hương phỏng theo bài thơ trên bài cây đánh đu vốn có trong tập Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập

Bốn cột lang nha ngắm để trồng
À thì đánh cái ả còn ngong
Tế hậu thổ khom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng
Tám bức quần hồng bay phất phới,
Hai hàng châu ngọc đứng song song
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy
Nhổ cột đem về để lỗ không .


Ngày nay ở miền Bắc hội xuân vẫn còn giữ trò chơi đánh đu, thường những trai gái thích đánh đu như cuộc thi lòng dũng cảm. Khi chàng trai nhấn đu, cô gái trong tư thế tay nắm chặt, chân duỗi thẳng, chờ đón độ cao bay bổng. Khi độ cao đã giảm đến lượt cô gái nhún, chàng trai lại chờ đón..tất cả phải nhịp nhàng, khoẻ mà mềm mại bay cao ung dung, vẻ đẹp càng hiện rõ hình thể bên ngoài ..gối hạc, lưng ong, ngưả ngửa lòng, phất phới, song song. Xuân Hương đã khéo tài tình dùng điệp khúc

Qua ca dao Việt nam cũng có nhiều bài truyền tụng rất là „tục“ như cái vịnh cái quạt

Rành rành ba góc rành rành
Khi khép nhỏ lại, khi vành to ra
Khi vui thì sướng thay là
Khi buồn thì nước chảy ra rì rì..


Hồ Xuân Hương tả cái quạt duyên dáng hơn có tính cách tương tự như ca dao tục ngữ hài hước, tả cái quạt có nhiều nan được bồi bằng giấy với hình dáng xòe ra để quạt cho mát, bất cứ ở đâu, khi mưa có thể che đầu, khi xếp lại những nếp giấy chồng lên vẫn còn thừa.

Một lỗ sâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dáng tự bao giờ
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi nắng gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa ...


Ngành tiểu công nghệ dệt vải thời xưa mỗi gia đình ở thôn quê, thường trồng cây bông, nuôi tằm ươm tơ làm luạ tự dệt may sắm áo quần. Ban ngày làm việc đồng áng, đêm về dệt vải với dụng cụ đơn giản cái khung cửi, hai ống trục, một bộ go, hai cái lược, một đôi guốc con suốt, con thoi (con cò bằng gõ). Xuân Hương tả đêm cô gái dệt vải; mà phẩm chất vải tốt không phai màu phải ngâm lâu

Thắp đèn lên thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt đêm thâu
Hai chân đạp xuống năng năng nhắc
Một suốt đâm ngang thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vưà vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ cũng như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kỹ
Chờ đến ba thu mới dãi màu

Chùa Quán Sứ được xây dựng từ thế kỷ thứ 17 nằm ở phố cũng mang tên Quán Sứ Hà Nội; Phật giáo vào thời Xuân Hương suy thoái, thời nào cũng có người núp dưới chiếc áo cà sa.. Xuân Hương đã nghi ngờ về chùa Quán Sứ trong cảnh vắng teo

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi nao
Chày kình, tiểu để suông không đấm
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo
Sáng banh không kẻ khua tang mít
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu
Cha kiếp đường tu sao lắt léo
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo


Hay qua bài

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ
Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha
Tu lâu có lẽ lên sư cụ
Ngất nghểu toà sen nọ đó mà


Người đời nhớ Xuân Hương ở tiếng cười phá phách, nhưng trong lòng Xuân Hương mang nặng những niềm đau .. trong đó khối tình của Xuân Hương nặng như đá, với những tâm sự thế thái nhân tình làm rung động sâu thẳm cõi lòng người

Gan nghiã giãi ra cùng nhật nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông
Đá kia còn biết xuân già dặn
Chả trách người ta lúc trẻ trung

(Đá ông chồng, đá bà chồng)


hoặc qua bài tình tự

Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn !
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tý con con.


Xuân Hương vịnh bánh trôi nước quen thuộc của người bình dân. Thân em ở đây (Xuân Hương) hay là thân phận đàn bà dưới thời phong kiến lắm lận đận? nhưng tấm lòng được tôn trọng

Thân em trắng phận em tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Lớn nhỏ mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son


Hồ Xuân Hương có phong cách riêng tiêu biểu cho thái độ tự nhiên tràn đầy tình cảm trong sáng, thơ Hồ Xuân Hương rất bình dân, duyên dáng giàu khả năng gợi cảm, gợi tình, chứa chan tình tự và cảm khoái, không dùng hán tự điển tích. Bà có biệt tài sử dụng điệp khúc, âm điệu và tiết tấu, thích hợp với từng ý, từng hoàn cảnh. Dù muốn chê hay khen, đọc thơ Xuân Hương cảm thấy cái vui vui xen lẫn vào hồn, cái hay trong thơ Xuân Hương rất tuyệt vời, nhưng bài viết giới hạn không thể trình bày và trích giải hết được..Hồ Xuân Hương là nhà thơ độc đáo có một không hai trong văn học sử Việt Nam...



Nguyễn Quý Đại


Chú Thích:

1/ Chữ Nôm có vai trò nổi bật trong sáng tác văn chương. Mặc dù văn nhân, thi sĩ mọi thời đều đã dùng chữ Hán làm thơ, viết truyện, nhưng chỉ có với chữ Nôm, người Việt mới tạo nên những tác phẩm bất hủ. Tập thơ Nôm có niên đại sớm nhất còn lưu truyền là Quốc âm Thi tập của Nguyễn Trãi (1380 - 1420), sau đó là Bạch vân Am quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585).
Văn học Việt nam qua các thời đại, chữ Hán các tiền nhân viết những tập truyện ngắn và tiểu thuyết văn xuôi, còn với chữ Nôm gần như các cụ chỉ làm thơ. Sở trường và thành công bằng hai thể thơ giàu dân tộc tính này, vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XIX Văn học cổ điển Việt Nam có những tác phẩm xuất sắc khiến thế giới phải biết đến là Chinh phụ Ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748); Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du (1766 -1820). Chúng ta còn các tên tuổi sáng giá khác nữa từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX như: Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, đặc biệt thơ cuả Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xương v.v. ..Chính nhờ ở những tác giả này, tiếng Việt hấp thụ hai nguồn văn tự là chữ Hán và văn tự văn hóa dân gian, chữ Nôm để trở thành một ngôn ngữ văn học sáng chói và giàu sức diễn đạt

2/ Được dẫn chứng trong Hồ Quỳnh Gia Phả gia phả họ Hồ ở Quỳnh Lưu. Nhưng tác giả Lê Xuân Sơn viết trong tập „ Hồ Xuân Hương thơ và đời viết “HXH con ông Hồ sĩ Danh (1706-1783) em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống (1738-1786) là một vị quan đầu triều thời chuá Trịnh ?

3/ Những kỳ Án trong việt sử, tác giả Trần Gia Phụng

4/ Hồ Xuân Hương thơ và cuộc đời, trang 206, nhà xuất bản văn học.

5/ Theo phóng sự Hồ X

Mar 6, 2012

VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ



P.Hà




Lễ Hội kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường Trưng Vương





Chụp với TV6269 ( nhóm bạn của chị Hà)
P.Hà, Kim Hoa, Tân, Diệu Hiền.
Các bạn AP1 và AP2

Thành Oanh, P.Hà, Đoàn Liên, Loan



Cô học trò TV 40 năm trước về thăm trường xưa.

VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ


Tôi ngồi sau lưng cô em gái. Cô em nói với tôi
-Em chở chị đi lại con đường Thống nhất và Nguyễn Bỉnh Khiêm tới trường nghe.
4 giờ rưỡi chiều trời Saigon vẫn còn nắng, nhưng hôm nay nắng dịu hơn và có gió mát.
Con đường Thống nhất vẫn rộng rãi với hai hàng cây cổ thụ như ngày nào, khi chiếc xe gắn máy quẹo vào con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy bóng mát tôi thấy một chút lâng lâng bồi hồi khi xe chạy qua con đường thân quen ngày cũ, dẫn tôi trở về ngôi trường thân yêu của một thuở làm học trò áo trắng TV.



Lần này về thăm nhà , tôi may mắn được dự lễ kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường Trưng Vương.
Kim Thanh rất chu đáo, sốt sắng gọi dt nhắn.
-Hà ơi, Thanh đã mua thiệp mời cho Hà rồi nhá. Bà cứ đúng 4h 30 tới trước cổng trường là gặp các bạn nhé.
Hai chị em tới trước cổng trường thì tôi gặp Loan lonton cũng vừa đến. Hai đứa cùng bước vào sân trường. Sân trường được trang hoàng với những dãy bàn tròn và ghế trắng thắt nơ thật đẹp.Sân khấu dàn dựng thật trang trọng . Tôi nhận thấy đa số khách tham dự ngoài những giáo sư TV thì hầu hết đều thuộc thế hệ lớn tuổi, trẻ nhất cũng phải vào cỡ 50 . Có lẽ khi tuổi càng nhiều thì ta lại càng hoài niệm, tiếc nhớ và trân quí muốn tìm về những kỷ niệm ngày xưa hơn .


Cổng trường gỗ ngày xưa và hàng chữ Trường Trưng Vương ở trên cao đã không còn nữa, một hình ảnh kỷ niệm mà tất cả các cô học trò TV ngày xưa đều cảm thấy buồn buồn và tiếc nuối khi trở về thăm trường cũ.


Sân trường giờ đã được tráng gạch bằng phẳng , dãy nhà tôn nơi cột cờ ngày trước cũng đã được thay bằng những tầng lầu với những lớp học khang trang hơn. Chung quanh sân trường bây giờ được đặt nhiều băng ghế đá do những mạnh thường quân thân tặng.


Nhóm TV6370 của mình có khoảng 20 người đủ cả các bạn Anh Văn, Ban B và Pháp văn chiếm 2 bàn gần nhau, tôi thì cứ chạy lung tung, hết bàn này sang bàn kia để nói chuyện được với tất cả các bạn. Cả nhóm đua nhau nhắc lại và tìm xem lớp học cũ của mình nay ở đâu. Nhưng làm sao mà nhớ và tìm lại được vì bây giờ ngôi trường và các lớp học ngày cũ đã được dời đổi chỗ hết rồi, chúng tôi đành ngồi nhắc lại với nhau, nhớ làm sao dãy lầu 2 của năm học cuối cùng với hành lang nhìn xuống sân trường có cây phượng vĩ mà hầu như đứa nào cũng phải có một tấm hình chụp dựa lan can nhìn xuống sân trường trước khi rời mái trường TV yêu dấu. Tôi ước ao được vào lớp học cũ, được ngồi lại chỗ ngồi năm xưa để nhớ lại những ngày tháng của tuổi học trò mơ mộng.


Bữa tiệc chay với những món chay thật ngon và mặc cho chương trình văn nghệ thật hay, tôi và các bạn cứ kéo nhau đi chụp hình khắp nơi trong sân trường làm kỷ niệm. Thôi thì lớp học cũ không tìm lại được thì mình làm học trò TV 40 năm trước, về thăm trường xưa với khung cảnh trường ngày nay đã nhiều đổi thay, nhưng chúng tôi vẫn đang ở trong cái không gian của ngôi trường cũ, và trong khoảng không gian này đâu đó vẫn còn ấp ủ đầy những kỷ niệm của những cô học trò TV6370 ngày xưa.


Buổi tiệc tan, trong lúc đợi cô em lấy xe ra, tôi nhờ một cậu thanh niên trẻ trong ban trật tự của trường chụp dùm một tấm hình trước cổng trường. Cậu cho biết cậu là giáo sư đã về dạy ở trường được 3 năm, và cậu nói rằng cậu rất cảm động khi thấy được cái tình cảm của các thế hệ xưa đối với mái trường cũ , mà cái tình cảm này ngày nay các thế hệ trẻ không biết trân quí.


Tôi mỉm cười và nói với cậu là khi các em lớn tuổi hơn một chút như khi các em bằng tuổi các cô bây giờ, thì tự nhiên các em cũng sẽ trân quí những kỷ niệm với ngôi trường xưa.


Gió đêm thật mát, hai chị em lại chạy trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rẽ ra đại lộ Thống Nhất để về nhà. Bỗng dưng tôi thấy nhớ quá những tà áo dài trắng bay bay trên con đường NBK đầy lá me rơi ngày cũ.



Kỷ niệm ngày về thăm trường .


26 tháng 2 năm 2012


P.H.